Diễn biến hòa bình

Thói “bịt mắt chém gió” của các “nhà dân chủ”

Tác Giả: John Lee VHN.NET

“Nhà dân chủ” TS Nguyễn Quang A trong một cuộc biểu tình

Thông thường, trí thức được hiểu một cách nôm na là người có một trình độ học vấn ở bậc cao, những đóng góp trí lực của họ là động lực quan trọng trong sự chuyển hóa xã hội. Chính vì vậy nên, các thế lực thù địch cũng đang cố gắng lợi dụng điều này để thực hiện mưu toan của họ đối với Việt Nam. Trách nhiệm xã hội đang đòi hỏi người trí thức có trách nhiệm luôn cẩn trọng trước khi đưa ra quan điểm, ý kiến riêng, bởi vì, không chỉ đơn thuần trên danh nghĩa “tự do ngôn luận” hay có sự “bất đồng quan điểm” để “nói lấy được,” mà muốn đánh giá hay phê phán về một vấn đề, một con người hoặc một luận thuyết, phải nhìn nhận khách quan từ nhiều phía, đặc biệt là từ góc độ giá trị lịch sử, nhân văn, đạo đức, phải dựa trên những giá trị chuẩn mực truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Ngày 4-5-2014 trên website của “Mõ làng” RFA có bài với giật Tít “Làm thế nào công lý không bị phỉ báng” có cuộc phỏng vấn TS. Nguyễn Quang A một nhân vật không lạ lẫm gì trên thế giới mạng của các “nhà dân chủ”, được sự “Mớm mồi” của người phỏng vấn vị này đã đưa ra những nhận xét một cách hồ đồ, vô trách nhiệm và đầy ác ý rằng: “Đây là cái bi kịch của ông Hồ Chí Minh, vì ông là người hết sức bất bình trong sự bất công và phân biệt đối xử của thực dân Pháp. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến việc ông ta phát động một phong trào cách mạng để xóa bỏ sự bất công đó” và “Đáng tiếc là ông Hồ Chí Minh đã áp dụng một phương pháp, một hệ thống mà cái hệ thống đấy đã tạo ra một chính quyền thực sự đã lặp lại những bất công của thực dân Pháp. Thậm chí không chỉ lặp lại mà còn làm trầm trọng thêm, đấy là chế độ độc tài. Rất đáng tiếc là như vậy.” !?. Với những kiểu “phán” như trên chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy những nhận định, lập luận mang nặng tư duy suy luận chủ quan, vô căn cứ và thiếu khoa học. Vậy họ là ai và những gì là sự thật đằng sau lời nói của họ? Không cần nói cũng có thể biết tác giả của những bài viết xuyên tạc về tình hình đất nước, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ, kích động, phá hoại đường lối của Đảng, đa phần là những người bất mãn về chính trị, trong tâm trí của họ luôn đặt cái “Tôi” lên hàng đầu, họ ảo vọng rằng “Trong biến sẽ làm nên chuyện” Những điều họ nói rất dễ mê hoặc một bộ phận công chúng còn thiếu cái nhìn phê phán và tỉnh táo.

Thông qua Internet, các blogger, các “nhà dân chủ” trong và ngoài nước cấu kết với nhau, tuyên truyền, xuyên tạc, nói xấu Đảng và Nhà nước, chia rẽ Đảng với nhân dân, xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, vu cáo, bôi đen chế độ Việt Nam. Họ tung ra các quan điểm, nhận định sai trái,hòng đánh vào nền tảng tư tưởng gây hoang mang, dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Họ phủ nhận chủ nghĩa Marx-Lenin, cho rằng chủ nghĩa Marx-Lenin đã lỗi thời, chỉ thích hợp với thế kỷ XIX, cùng lắm là đầu thế kỷ XX !? Là người Việt Nam,những con người thuộc đủ mọi thế hệ, nguồn gốc học vấn, biết vượt qua những định kiến để đặt trọn niềm tin vào Ðảng Cộng sản, tận hiến với dân tộc trên con đường đấu tranh vì nền độc lập của đất nước. Tấm gương của các trí thức đó là minh chứng thuyết phục nhất về một ý thức dân tộc chân chính, tuyệt đối vô tư, biết nhận ra và đứng về phía lẽ phải. Cũng thời gian gần đây, trên một số trang mạng có đăng tải những bài viết với nội dung luận bàn về “Những ảo tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam về tư tưởng Hồ Chí Minh”; hoặc: “Đảng Cộng sản Việt Nam giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng chỉ nói mà không làm”… Đây là suy nghĩ của những người thiếu thiện chí, cố tình xuyên tạc đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, nhưng lại núp dưới danh nghĩa “tự do ngôn luận, dân chủ, xây dựng, góp ý!? Và Sự thật không thể đảo ngược đó là: Với tư cách là người đi tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng vào quá trình “phi thực dân hóa”, làm sụp đổ hoàn toàn chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện khát khao giải phóng đồng bào mình, dân tộc mình thoát khỏi áp bức bất công, đồng thời đấu tranh để giải phóng tất cả các dân tộc khác trên thế giới thoát khỏi chế độ áp bức của chủ nghĩa thực dân. Xin thưa với “nhà dân chủ” Nguyễn Quang A rằng: Ngài không thể cứ cao đạo cho rằng, mình là người yêu Tổ quốc! trong khi hành động và lời nói đi ngược lại lợi ích của nhân dân khi nói ngược ngạo rằng: “Tôi nghĩ đó là quá trình tương tác giữa người dân và chính quyền, đây là cách có thể tốn thời gian hơn. Nhưng phải có cả một quá trình mà cả dân tộc này vận động như thế thì mới tránh được sai lầm của ông Hồ Chí Minh, đó là thay một hệ thống áp bức bằng một hệ thống áp bức khác” !? Ô hay ! sai lầm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh đối với đối với dân tộc Việt Nam và phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của các nước trên thế giới là ở chỗ nào ? Xin nói cho rõ là: việc đánh giá chuẩn mực đạo đức của một cá nhân, hay giá trị của một luận thuyết, không phải xuất phát từ tiêu chuẩn bên trong của nó, mà xuất phát từ lợi ích của Tổ quốc: “Học thuyết nào cứu được nước, giúp được dân thì sẽ được ưa thích, lựa chọn” Giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam đoàn kết một lòng, bằng ý chí, quyết tâm giữ gìn sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ nền độc lập, tự do trường tồn của dân tộc, đã vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh để giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước và nhân đây cũng xin trích dẫn những nhận xét công minh của một số nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu trên thế giới để xem những “đánh giá” của “nhà dân chủ” Quang A đúng hay sai.

Nói về giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh và những cống hiến của Người đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập của Việt Nam và phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), đã khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Nhà báo, nhà sử học Pháp J.Lacuture đánh giá: “Hồ Chí Minh đã làm hồi sinh một dân tộc, thiết lập nên một quốc gia, tiến hành hai cuộc chiến tranh mà căn bản là chiến tranh của nhân dân bị áp bức”.

Tiến sỹ Ahmed – Nguyên Giám đốc UNESCO khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã nhận xét: “Chỉ có ít nhân vật lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại khi còn sống và rõ ràng cụ Hồ Chí Minh là một trong số đó; Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”.

Nhà báo, nhà hoạt động chính trị Mexico Ignacio Gonzalez Janzen khẳng định rằng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ xuất chúng của dân tộc mình, một yếu nhân của quá trình phi thực dân hóa trong thế kỉ XX, mà đặc biệt còn là một người thầy vĩ đại trong môn học giành tự do cho các dân tộc,… chủ đề chính của tất cả các nền văn hóa và là mục tiêu hàng đầu của nhân loại”. Còn rất nhiều ý kiến đánh giá của các chính khách, các nhà nghiên cứu, thậm chí của những “đối thủ một thời” của Hồ Chí Minh, họ đều thống nhất nhận định về giá trị lý luận và cống hiến xuất sắc của Người đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.

Giáo sư Paul Mus – Đại diện của Cao ủy Pháp ở Đông Dương, Trưởng đoàn đàm phán của Pháp với Chính phủ Việt Nam ở Thái Nguyên (5/1947), đã viết: “Cụ Hồ là một trong những người đã đem lại sự kiêu hãnh và sức mạnh cho lục địa châu Á”.

Học giả David Halberstam cho rằng: “Lúc sinh thời, ông Hồ Chí Minh không những đã giải phóng đất nước của ông, mà thay đổi chiều hướng của chế độ thuộc địa ở cả châu Phi lẫn châu Á…”

Học giả Wiliam J. Duiker, người đã dành 20 năm để nghiên cứu về Hồ Chí Minh đưa ra ý kiến: “…người ta cũng không phủ nhận được rằng, sự nghiệp mà ông thúc đẩy và chỉ đạo tạo ra những thời khắc có một không hai trong thế kỷ 20, là đỉnh cao của kỷ nguyên giải phóng dân tộc ở thế giới thứ ba”.

Không chỉ là ý kiến của những học giả chuyên nghiên cứu về Hồ Chí Minh, giá trị tư tưởng và những cống hiến của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, còn được một tổ chức bình chọn gồm 300 nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới, đưa vào cuốn Từ điển tiểu sử các nhà văn hóa thế kỷ 20 (XX Century culture), do Alan Bullock và R.B.Wodinger (đồng chủ biên), nhà xuất bản Harper and Row ấn hành năm 1983. Trong quá trình xây dựng cuốn sách này, khi thảo luận về Hồ Chí Minh, 300 nhà khoa học đều thống nhất cho rằng: “Hồ Chí Minh là người khởi xướng và giương cao ngọn cờ giải phóng các dân tộc thuộc địa và trở thành người dẫn đường chủ chốt được mặc nhiên thừa nhận và kính trọng của châu Á và thế giới thứ ba”.

Thưa ngài “tiến sĩ dân chủ” Quang A ! chắc những đánh giá, khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc của UNESCO, của các tổ chức khoa học và những nhà hoạt động chính trị, những học giả có uy tín trên thế giới như trên, ngài có thể phản bác được không ? và một điều khẳng định rằng những đánh giá đó không dựa vào cảm tính, nói mò kiểu “Bịt mắt chém gió” như ngài và các vị “Đồng hội” trên con thuyền “Bauxit” của ngài ! Thực chất đây là suy nghĩ của người thiếu thiện chí, cố tình xuyên tạc đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, nhưng lại núp dưới danh nghĩa “tự do ngôn luận, dân chủ, xây dựng, góp ý!? Với tư cách là người đi tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng vào quá trình “phi thực dân hóa”, làm sụp đổ hoàn toàn chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Hồ Chí Minh thể hiện khát khao giải phóng đồng bào mình, dân tộc mình thoát khỏi áp bức bất công, đồng thời đấu tranh để giải phóng tất cả các dân tộc khác trên thế giới thoát khỏi chế độ áp bức của chủ nghĩa thực dân. Mới đây, trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN, bà Pratibha Mehta, Điều phối viên thường trú Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, đã có những nhận xét và đánh giá “Chúng tôi đánh giá cao những nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong việc đảm bảo quyền con người. Quyền con người có ảnh hưởng tới từng thành viên trong xã hội, chính vì vậy từng thành viên trong xã hội cũng phải tham gia vào việc thúc đẩy các quyền và tự do cơ bản của con người. Chúng ta cần phải tuyên truyền cho mọi người biết về quyền và tự do cơ bản của con người, vì vậy vấn đề chia sẻ thông tin rất quan trọng. Chính phủ Việt Nam cũng cần tiếp tục xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật để hiện thực hóa các cam kết đối với các khuôn khổ pháp lý và thể chế quốc tế mà Việt Nam là thành viên liên quan tới nhân quyền”.

Đừng biến mình trở thành những “cái loa” phát ngôn cho lực lượng chống đối chế độ, đi ngược lại lợi ích dân tộc, đất nước. Là người Việt Nam yêu nước chân chính biết vượt qua những định kiến, tận hiến với dân tộc trên con đường đấu tranh vì nền độc lập của đất nước. Là trí thức chân chính phải tuyệt đối vô tư, không tách rời sự tỉnh táo trí tuệ và tỉnh táo chính trị, biết nhận ra và đứng về phía lẽ phải chứ đừng núp dưới danh nghĩa “tự do ngôn luận, dân chủ, xây dựng, góp ý để trục lợi chính trị cho bản thân mình. Những ý đồ bất minh sẽ bị chính người dân yêu nước chân chính lên án và vạch mặt.

Hoa Kỳ -4-2014
Amari TX

Categories: Diễn biến hòa bình | Tags: | 1 Phản hồi

Sự lộng ngôn của nhóm người gọi là “Cựu Tù Nhân Lương Tâm”

Tác Giả : Amari tx (Bài đăng trên tạp chí Nhân Quyền việt Nam tháng 3-2014)

Gần đây, một số người tự xưng khơi khơi là những “Nhà này, nhà nọ” chém vè, chém gió ào ào trên các mạng xã hội, kêu gọi lập hội, kéo bè… để thể hiện cái ta đây là những “Nhân sĩ”, “Ái quốc” theo cái gọi là “Trào lưu tự sướng” đã có những bài viết có nội dung xuyên tạc, kích động, thóa mạ những thành tựu mà toàn thể dân tộc Việt Nam đã đạt được kể từ khi công cuộc đổi mới được tiến hành.

Hình ảnh

Không những thế họ còn kết bè kiểu “Mèo mả, gà đồng” thành lập hội này nọ, ra những cái gọi là như “Tuyên ngôn”, “Thông cáo” nghe như là một tổ chức có tiếng nói trọng lượng ở trong nước, là đối trọng với Đảng cầm quyền trong nước hòng lừa bịp những người thiếu cập nhật thông tin, và lừa bịp bà con kiều bào ở xa tổ quốc hòng kiếm sự tài trợ, đó là những kẻ có tư tưởng ảo vọng, cấu kết với các phần tử ở nước ngoài chống đối lại Nhà nước Việt Nam. Làm như vậy là ảnh hưởng đến hình ảnh của người Việt Nam ở nước ngoài đồng thời đi ngược lại sự phát triển của đất nước và chia rẽ, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc giữa người Việt Nam đang sống ở nước ngoài với người Việt Nam ở trong nước. Hành vi bất minh đó đáng bị lên án và vạch mặt đó là Tuyên bố này được đưa ra tại Việt Nam ngày 18 tháng 02 năm 2014 của một nhóm người với cái nhân xưng rất chi là cải lương, trong lời tuyên bố có viết: “Chúng tôi trân trọng tuyên bố chính thức thành lập Hội Cựu Tù nhân Lương tâm Việt Nam” !? Nói bộc toạc ra thực ra đó là hội “68 tên tội phạm” thì đúng nhất bởi vì danh sách “68 Hội viên” ký tên kêu gào đồng bào ở hải ngoại và các tổ chức ngoại bang can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam thì nó đã sực mùi “Cõng rắn cắn gà nhà” của băng, nhóm này.Một điều nực cười là những tên “Tội phạm” này lấy tư cách gì mà đòi “Đại diện” cho dân tộc Việt Nam, lấy tư cách gì mà yêu cầu nhà cầm quyền phải làm thế này, phải làm thế kia theo yêu sách mang hơi hướng “Tâm thần” như: “Mọi tù nhân phải được đối xử như những con người, phải được các tổ chức nhân quyền trong và ngoài nước theo dõi chế độ giam giữ họ” hay như “Hội Cựu Tù nhân Lương tâm Việt Nam đấu tranh cho một nền pháp chế biết đề cao nhân phẩm, tôn trọng nhân quyền, thăng tiến tự do, xây dựng dân chủ theo các chuẩn mực quốc tế, văn minh của nhân loại, được biểu đạt trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và hai Công ước Quốc tế về các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội”….v..v đại loại là như vậy.

Một số cơ quan, tổ chức nước ngoài và blogger cố tình “té nước theo mưa” xuyên tạc Nhà nước Việt Nam đã “tiếp tục sử dụng các điều luật về an ninh quốc gia để hạn chế các quyền dân sự, chính trị, quyền tự do ngôn luận, tự do. Trước đó, các phương tiện truyền thông Việt ngữ ởphương Tây và nhiều blogger “lề dân” đã từng bênh vực cho các tội phạm mà họ cho là người “yêu nước“, “tranh đấu cho nhân quyền” là những “Người hùng” dám đương đầu với chế độ… Nhưng oái ăm thay những kẻ được tung hứng đó chính là những kẻ phạm pháp bị pháp luật Việt Nam trừng phạt, trong đó nhiều kẻ mang dáng dấp của kẻ tâm thần. Trong các bản luận tội khi đứng trước vành móng ngựa thì những tài liệu, chứng cứ thu thập được lại có không ít bài xuyên tạc, bôi xấu, kích động lật đổ chế độ. Tất nhiên, Bộ luật Hình sự chỉ nói những nét cơ bản, không thể ghi hết những hành vi làm tổn hại đến uy tín, sự bền vững của chế độ xã hội qua những ngôn từ kiểu“bóng gió” nhằm trốn tránh pháp luật mà những kẻ chống đối, bài xích chế độ đã cân nhắc, tính toán khi chấp bút. Nhưng dù những người nào đó có thật sự là “Khôn ngoan” đến cỡ nào thì cũng không thể “Bịt mắt” được hết mọi người, và càng không thể trốn tránh được sự phán xét dư luận và sự nghiêm minh của pháp luật. Chúng ta đều biết, bất cứ một nền dân chủ nào cũng gắn với kỷ cương, pháp luật của Nhà nước. Bất cứ sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nào của mỗi công dân trong một xã hội tự do, dân chủ đều không được làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị – xã hội và quyền tự do, dân chủ của những công dân khác cũng như của cộng đồng. Do đó, mọi người phải sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; tất cả những hành động vi phạm pháp luật đều phải bị xét xử. Trong những nơi lưu giữ phạm nhân ở nước ta hiện nay, có người nguyên là tu sĩ, chức sắc tôn giáo và cũng có những người vốn không phải là tu sĩ, tín đồ nào, thậm chí có những người trước đây là cán bộ, đảng viên, nhưng tất cả đều bị xử lý theo pháp luật, vì họ là những người phạm pháp, chứ không phải vì lý do nào khác.

Vậy họ là ai? 68 vị “Hảo hán” đồng ký tên thề thốt ở cái nơi gọi là “Sơn bạc”? ta phải nói ngay đó là một nhóm người đã có một quá trình ngồi “Bóc lịch” trực tiếp hoặc gián tiếp trong nhà tù. Nguyên nhân dẫn đến kết quả đó là: Ở họ có tham vọng chính trị theo kiểu “Đục nước thả câu” “Cháy nhà hôi của” muốn trục lợi cá nhân, đánh bóng tên tuổi, trong đó có cả những người có chức sắc tôn giáo, một số người bất mãn, một số người có nhận thức mơ hồ, không phân biệt được phải trái, đúng sai, bị kích động, lôi kéo, ngày càng lún sâu vào con đường lầm lạc, chống phá, gây bất ổn xã hội. Nhìn vào các cáo trạng của họ ta có thể thấy rằng, nói chung, mục tiêu chủ yếu của họ vẫn là những hoạt động nhằm phủ định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tấn công trực diện vào Cương lĩnh, đường lối đổi mới trong xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng. Họ ngộ nhận rằng mình là tài giỏi, xuất chúng, có thể xoay chuyển được thời thế, lật đổ được chế độ, để khi “cách mạng dân chủ mới” thành công sẽ làm ông này, bà nọ…, tha hồ hưởng vinh hoa phú quý “ăn trên ngồi trốc” thiên hạ. Chúng ta thử làm một cuộc khảo sát tên vài vị có danh sách “Hảo hán” trong cái gọi là hội “Cựu tù nhân lương tâm” và hãy thử nhìn vào “tài năng”, “đức độ” của các vị này như thế nào?

Nguyễn Văn Đài bị tuyên phạt 4 năm tù giam,4 năm quản chế. Lê Thị Công Nhân bị án phạt 3 năm tù giam, 3 năm quản chế (2007)-Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao và kết quả thẩm vấn, tranh luận công khai tại phiên toà, từ năm 2006 đến ngày bị bắt, Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã sử dụng Văn phòng luật sư Thiên Ân ở số 10 phố Đoàn Trần Nghiệp (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) do Nguyễn Văn Đài làm trưởng văn phòng để thực hiện hành vi tuyên truyền, đả kích chính quyền nhân dân và làm ra, tàng trữ, lưu hành nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc nhằm chống Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Lê Công Định bị tuyên phạt 3,5 năm tù giam,3 năm quản chế (2009), Ngày 20/1, TAND TP HCM đã mở phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm đối với 4 đối tượng Trần Huỳnh Duy Thức (44 tuổi), Nguyễn Tiến Trung (27 tuổi), Lê Công Định (42 tuổi) và Lê Thăng Long (43 tuổi) phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Định thừa nhận mình đã làm ra 33 tài liệu, tàng trữ 24 tài liệu và 32 quyển sách có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tháng 3/2009, Định có tham gia khóa huấn luyện về phương pháp đấu tranh “Bất bạo động” lật đổ chính quyền nhân dân do tổ chức khủng bố có tên gọi “Việt Tân” tổ chức tại Thái Lan. Tương tự như Định, tại tòa, Nguyễn Tiến Trung nói: “Rất ăn năn, hối hận vì những việc làm vi phạm pháp luật của mình trong thời gian vừa qua. Do nhận thức sai, hành vi của bị cáo giờ đây không chỉ ảnh hưởng đến gia đình, cha mẹ, bạn bè mà còn chống lại Nhà nước và nhân dân Việt Nam…”

Trái với Trung và Định, tại tòa Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long chưa tỏ ra thành khẩn nhưng vẫn thừa nhận: Do có sự nhìn nhận, đánh giá chủ quan về các hiện tượng tiêu cực xảy ra trong xã hội, Thức nảy sinh tư tưởng bất mãn với chế độ… Vì vậy, từ cuối năm 2005, Thức thành lập tổ chức chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có tên gọi “Nhóm nghiên cứu Chấn” và viết bài tuyên truyền lôi kéo một số đối tượng tham gia tổ chức này hoạt động, nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Thức đã liên hệ chặt chẽ với tổ chức phản động có tên “Đảng dân chủ Việt Nam” cùng Nguyễn Sỹ Bình, Lê Công Định bàn bạc, thống nhất phương thức hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân như: xây dựng kế hoạch tổng thể dưới dạng cuốn sách có tên gọi “Con đường Việt Nam” nhằm thay đổi thể chế chính trị, đề ra kế hoạch 5 người, nhận trách nhiệm thành lập tổ chức “Đảng xã hội Việt Nam” chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để phát triển lực lượng cho tổ chức “Đảng dân chủ Việt Nam” Trong quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, ngoài việc thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Trần Huỳnh Duy Thức, viết: “Tôi thực sự ân hận về việc làm của mình, tôi xin Nhà nước rộng lượng khoan hồng, miễn giảm hình phạt cho tôi để sớm được về với gia đình…” Nguyễn Tiến Trung, viết: “Tôi đã thấy được các hành vi của tôi là vi phạm pháp luật nghiêm trọng… nay tôi xin được hưởng sự khoan hồng”. Lê Công Định: “Tôi đã tham gia tổ chức Đảng dân chủ Việt Nam nhằm mục đích lật đổ chính quyền nhân dân… Tôi nhận thức những việc làm nói trên đã vi phạm Điều 79 Bộ Luật Hình sự… Tôi mong các cơ quan pháp luật xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để cho tôi được hưởng sự khoan hồng”. Theo khai báo và thú nhận của họ sau khi bị bắt giam, mọi hoạt động chống phá, bôi nhọ chế độ đều được bọn phản động lưu vong ở nước ngoài chi tiền, trả “lương” hàng tháng. Rõ ràng, hoạt động chống phá của họ đâu có phải vì nước, vì dân!

Và đây một gương mặt được tung hô là “Biểu tượng của lòng yêu nước” Bùi Minh Hằng: thực chất là con người như thế nào? Sau khi đọc xong những thông tin dưới đây, câu hỏi trên sẽ được trả lời. Theo “trích ngang”, Hằng đã từng có tiền án, tiền sự, cụ thể: Năm 1993: Vi phạm chế độ hôn nhân 1 vợ, 1 chồng, TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 9 tháng tù treo, 12 tháng thử thách. Ngày 29/11/1996, CA tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu khởi tố vụ án HS về tội cưỡng đoạt tài sản, ngày 19/3/1997 xử phạt hành chính Bùi Thị Minh Hằng 400.000 đồng về hành vi cưỡng đoạt tài sản, đến 29/3/1997, đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Những hành vi dẫn đến việc Bùi Thị Minh Hằng được đưa đi cơ sở giáo dục cũng rõ ràng: Năm 2011 đã 3 lần bị tạm giam vì hành vi gây rối trật tự công cộng. Cụ thể, ngày 2/8/2011 Bùi Thị Minh Hằng có mặt tại phiên tòa xét xử phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ, với vai trò kích động một số người có mặt tại phiên tòa gây mất trật tự công cộng; mặc dù đã được nhắc nhở nhiều lần nhưng vẫn cố tình vi phạm. Các lực lượng làm nhiệm vụ đưa Hằng về trụ sở công an quận Hoàn Kiếm để lập biên bản, ghi lời khai, ra quyết định xử phạt hành chính với hình thức cảnh cáo về hành vi gây rối trật tự ở nơi công cộng đối với Bùi Thị Minh Hằng.

Nguyễn Đan Quế, thường trú tại phường 3, quận 5, TPHCM. Từ sau 30-4-1975 đến nay, Nguyễn Đan Quế tham gia các tổ chức nhen nhóm phản động ở trong, ngoài nước hoạt động chống chính quyền cách mạng ở TPHCM. Quế đã bị bắt giam nhiều lần vào năm 1978, 1990, 2003 và bị kết án hàng chục năm tù tội chống, lật đổ chính quyền nhân dân. Lần gần đây, ngày 27-2-2011, Quế bị cơ quan an ninh điều tra, Công an TPHCM bắt quả tang khi đang lưu giữ, phát tán 60.000 đầu tài liệu kích động, lật đổ. Nguyễn Đan Quế thừa nhận và cũng đã ký xác nhận tài liệu do y soạn thảo ngày 24-2-2011, đã tán phát cho đối tượng phản động trong và ngoài nước nhằm “biểu tình lật đổ chế độ”… Hoạt động chống đối chính quyền của Nguyễn Đan Quế đều theo “kịch bản”, có sự tiếp tiền, hậu thuẫn của các thế lực ngoại bang, bọn phản động trong, ngoài nước.

Nguyễn Công Chính là một mục sư “nổi tiếng” ở Plây-cu, Gia Lai với “thành tích” đánh trọng thương bố đẻ, đốt sách vở học sinh và tội cưỡng dâm, lừa đảo. Nực cười thay, Chính lại được bọn phản động người Việt lưu vong ở Mỹ tặng “giải thưởng nhân quyền”.

Thích Không Tánh, tên thật là Phan Ngọc Ấn, sinh năm 1943, nguyên quán xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, đăng ký nhân khẩu thường trú tại chùa Liên Trì, số 153 đường Lương Định Của, quận 2, TPHCM. Là thuộc hạ của Thích Quảng Độ trong suốt thời gian dài, Thích Không Tánh đã liên tục được cất nhắc vào các vị trí trọng yếu trong cái gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất (GHPGVNTN), một tổ chức tôn giáo không được thừa nhận ở nước ta.Thích Không Tánh đã trở thành tay sai đắc lực của Thích Quảng Độ thực hiện những âm mưu, kế hoạch nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước. Thích Không Tánh có một lai lịch bất hảo, đảm nhiệm công tác liên lạc, tổ chức các hoạt động nhằm khuếch trương thanh thế của GHPGVNTN và làm cầu nối thông tin với các tổ chức Phật giáo Việt Nam lưu vong.Mặc dù là tu sĩ, miệng vẫn niệm nam mô và tay vẫn lần tràng hạt, nhưng Thích Không Tánh lại rất hăng hái tham gia các hoạt động tổn hại đến lợi ích của dân tộc, trái với đạo pháp do Thích Quảng Độ và các thế lực phản động trong và ngoài nước tổ chức. Với cương vị phụ trách các hoạt động xã hội của cái gọi là Viện Hóa đạo, Thích Không Tánh còn được giao nhiệm vụ tiếp xúc, liên lạc với các thế lực phản động lưu vong, đặc biệt là với Võ Văn Ái (giám đốc cái gọi là Phòng thông tin Phật giáo quốc tế tại Pháp).Từ năm 1978 đến 1986, Thích Không Tánh đã bị tập trung cải tạo, do hăng hái tham gia các hoạt động của những phần tử đội lốt tu hành chống phá Nhà nước và vi phạm pháp luật. Đến năm 1987, Thích Không Tánh được trả tự do và thường trú tại chùa Liên Trì (TPHCM). Nhưng cũng giống như Thích Quảng Độ, Thích Không Tánh vẫn chứng nào tật ấy, lại tiếp tục tiến hành các hoạt động chống phá Nhà nước dưới sự chỉ đạo của Thích Quảng Độ và sự tiếp tay của các thế lực phản động lưu vong. Ngày 2-10-1992, Thích Không Tánh bị các lực lượng chức năng bắt quả tang khi đang lưu hành nhiều tài liệu có nội dung chống lại Nhà nước và bị án phạt 5 năm tù giam và quản chế 5 năm sau khi mãn hạn tù.

Trên đây là sơ lược một số “Hảo Hán” có số má trong cái gọi là “Hội cựu tù nhân lương tâm”!? Họ tìm mọi cách bóp méo, suy diễn, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam bất chấp lẽ phải,cường điệu hóa một vài vụ việc liên quan đến pháp luật từ đó họ hồ đồ kết luận là: đó là “Bản chất” của chế độ. Không những thế họ còn mạnh miệng bôi nhọ quá khứ cách mạng một cách vô liêm xỉ, chà đạp lên giá trị truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc làm tổn thương đến tình cảm thiêng liêng mà Đảng và nhân dân Việt Nam dành cho các anh hùng liệt sĩ đã vì nước hy sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc. Họ đưa ra những câu hỏi lấp lửng như “có cần thiết hay không khi Đảng phát động toàn dân trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân pháp và đế quốc Mỹ “? hay “Nếu không có Đảng CSVN thì dân tộc này đã ở một vị thế khác…” !?..v v…kích động một số người từng tham gia hoạt động cách mạng trước đây có tâm trạng bất mãn vì trước đây khi còn đang làm việc vì có một số vấn đề mà không được “Thỏa mãn” vì cái “tôi” của họ nay đã hạ cánh thì “Trở cờ” hòng thực hiện ý đồ “trong biến thì phất cờ”, Họ nhắm vào điểm cốt yếu đó là :chia rẽ tôn giáo, dân tộc, chia rẽ các vùng, mien trên đất nước với âm mưu thâm hiểm hòng phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hướng tới mục đích cuối cùng là làm suy yếu Đảng, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, thực hiện đa nguyên, đa đảng, lập các đảng phái nhằm đưa đất nước đi theo con đường khác mà theo lý luận của họ là sẽ “Dân chủ hơn, sáng sủa hơn” !? Gần đây nhất, họ tìm mọi cách phủ nhận những thành tựu to lớn của nhân dân, dân tộc ta qua gần 30 năm đổi mới, xuyên tạc, bóp méo, bôi đen bức tranh xã hội, hòng gây tâm lý hoang mang, mất niềm tin trong nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ. Họ đặt ra những điều kỳ quặc như: “Có bao giờ nhân dân Việt Nam lại sống trong cảnh tủi nhục, đau thương như hiện nay không?”. “Có bao giờ dân tộc Việt Nam lại bị chia rẽ, nghi kỵ nhau, hận thù nhau sau những năm tháng cai trị của một chế độ như bây giờ không”? Từ đó, họ đưa ra những điều xuyên tạc, vu cáo trắng trợn: “Hơn nửa thế kỷ áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên đất nước ta, Đảng Cộng sản đã thực hiện chính sách cai trị bằng thủ đoạn và bạo lực. Nhân dân chỉ được phép cúi đầu sợ hãi và sống trong mòn mỏi, tuyệt vọng”!? Họ nhắm mắt nói bừa rằng, tất cả những quyền thiêng liêng của dân tộc được nói trong “Tuyên ngôn độc lập” “đều bị chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền cộng sản được dựng lên”!?

Luật quốc tế về quyền con người cũng như pháp luật của các quốc gia đều quy định: Quyền của cá nhân có thể bị hạn chế. Điều 29 của “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người” năm 1948 viết: “Mỗi người trong khi hưởng thụ các quyền và tự do cá nhân, chỉ phải chịu hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với quyền và tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ“. Tương tự như vậy, Điều 19 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 cũng quy định: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận“ kèm theo những nghĩa vụ, trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe, hoặc đạo đức của công chúng“.

Việc Nhà nước Việt Nam đưa ra quyền tự do ngôn luận, mà Hiến pháp 1992 ghi là “theo quy định của pháp luật“, cùng với những quy định về hạn chế quyền này (Điều 88, Điều 258 Bộ luật Hình sự năm 1999) là hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế. Tất nhiên ở các quốc gia, pháp luật khó có thể ghi đầy đủ mọi hành vi phạm tội. Pháp luật Việt Nam cũng như thế. Ở nhiều nước, tòa án có quyền đưa ra những phán quyết không hẳn đã có trong luật mà chỉ có trong những bản án từ trước, được gọi là án lệ. Thế nên, không phải là không có cơ sở pháp lý nào đó mà Hoa Kỳ và nhiều quốc gia châu Âu đã truy nã chủ nhân trang mạng Wikileaks, cũng như nhiều quốc gia Hồi giáo đã kết tội những người xúc phạm đến nhà tiên tri Mohamet.Trong thực tiễn pháp lý, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia đã đưa những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc vào pháp luật. Ở nhiều quốc gia, theo thể chế quân chủ như Vương quốc Anh, Thụy Điển, Thái Lan… có những quy định pháp luật bảo vệ một số đặc quyền đối với Hoàng gia, trong đó có việc bảo vệ uy tín của nhà vua. Hiến pháp Việt Nam đã đưa giá trị đạo đức truyền thống dân tộc vào Hiến pháp 1992: “Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ” (Điều 64). Pháp luật Việt Nam không có những quy định về đặc quyền cho cá nhân, tổ chức.

Một số cơ quan, tổ chức nước ngoài và blogger cố tình xuyên tạc Nhà nước Việt Nam đã “tiếp tục sử dụng các điều luật về an ninh quốc gia để hạn chế các quyền dân sự, chính trị, quyền tự do ngôn luận, tự do sử dụng internet“!? Trước tình hình như vậy, các “nhà dân chủ” lại cố tình coi đó là “bất đồng chính kiến”, là sự phân hóa, chia rẽ xã hội… Điều đó không phải thiện tâm mà là sự ngộ nhận và là dã tâm mang nặng tư tưởng thù địch. Một sự thực hiển nhiên, rằng: trong xã hội ta chưa bao giờ dân chủ lại phát huy cao độ đến như vậy. Và, đó chính là sức sống, sức mạnh của nền dân chủ và chế độ XHCN mà Đảng và nhân dân ta đang ra sức xây dựng và bảo vệ. Bởi, có chế độ dân chủ, có tấm lòng trong sáng, yêu thương, người dân mới nói những điều tâm huyết, thẳng thắn, xây dựng chế độ dân chủ XHCN ngày càng hoàn thiện. Các “nhà dân chủ” ngộ nhận rằng, Việt Nam đi theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, theo con đường XHCN là “con đường chết”. Theo đó, vấn đề “tìm đường cứu nước” lại phải đặt ra. Việc đó giờ đây do chính những “nhà dân chủ mới” đang tiến hành, và đây là cơ hội để họ làm cuộc “cách mạng dân chủ mới” theo mô hình tự do, dân chủ phương Tây.Những kẻ phạm pháp lập ra cái gọi là “Cựu tù nhân lương tâm là những kẻ có những hành vi có hại cho đất nước, cho nền độc lập tự do của đất nước, cho chủ quyền thì đương nhiên họ ta phải bị pháp luật nghiêm trị, xử lý. Không phải riêng gì họ mà bất cứ ai có những hành vi có hại cho đất nước, cho nền độc lập tự do của đất nước, cho chủ quyền đều phải bị nghiêm trị. Đó là điều chính đáng. Đây không phải là vấn đề tự do ngôn luận. Cũng không phải chúng ta hạn chế ý kiến của người dân phát biểu đối với các vấn đề của đất nước. Nhưng việc phát biểu ý kiến phải trong phạm vi quyền công dân. Còn một khi đã vi phạm về luật pháp thì phải bị xử lý theo luật pháp.Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tạo điều kiện cho mọi người dân được thể hiện quyền dân chủ của mình qua việc tham gia những ý kiến đóng góp về kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật, dân sinh… tại các diễn đàn công khai. Nhà nước rất cần và rất khuyến khích sự đóng góp của tất cả người dân trong mọi mặt phát triển của đất nước.Vấn đề dân chủ theo tôi phải gắn với trách nhiệm của công dân. Mọi ý kiến của người dân góp ý về một vấn đề gì của đất nước, của cộng đồng phải xuất phát từ toàn cục và mang tính xây dựng. Muốn có dân chủ, phải có trình độ dân trí và điều kiện tiếp cận thông tin để có suy nghĩ đúng về tình hình thực tế của đất nước. Không có trình độ, không có thông tin thì không thể nhìn một cách đầy đủ được. Những ý kiến đóng góp này dù có thẳng thắn, gay gắt, trái ngược cũng đều được Đảng và Nhà nước tiếp thu một cách trân trọng và coi đây là tấm lòng đáng quý đóng góp xây dựng đất nước phát triển. Việt Nam hiện nay tuy còn nhiều khó khăn, nhưng là đất nước ổn định, bình yên, cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện. Ngay cả khi cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế đang diễn biến phức tạp, tác động mạnh đến nền kinh tế, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ, Việt Nam vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng và phấn đấu tăng. Đất nước Việt Nam có được như ngày hôm nay, rõ ràng là nhờ sự lãnh đạo của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện, nhờ sự hy sinh, nỗ lực của nhiều thế hệ người Việt Nam yêu nước. Đó là lý do, đông đảo nhân dân Việt Nam kiên quyết không để cho những phần tử “Cựu tù nhân lương tâm” tiến hành một lần nữa những hoạt động sai trái, lật đổ Nhà nước XHCN Việt Nam – Nhà nước của dân, do dân và vì dân./.

Hoa Kỳ 22-2-2014
Amari Tx

Categories: Diễn biến hòa bình | Tags: | 1 Phản hồi

Bộ Mặt Thật Của Các Nhà Dân Chủ

Một số phần tử cơ hội, bất mãn cá nhân, thành phần “trở cờ” trong đó có cả những người nhẹ dạ ở trong nước và tổ chức cực đoan nước ngoài đang lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá Đảng, Nhà nước CHXHCNVN.

Chiêu bài đó được một số tổ chức không có thiện chí với Việt Nam, các cơ quan truyền thông việt ngữ ở nước ngoài bơm, thổi phụ họa. Đây là việc làm sai trái cần đấu tranh, phê phán và vạch mặt kịp thời để mọi người thấy được bộ mặt thật của họ, nhằm góp phần bảo vệ sự ổn định của Đất nước xây dựng Tổ quốc dân chủ và phồn vinh.

Internet- Tốc độ phát triển “thần kỳ” ở Việt Nam

Gần đây, một số người đã có những bài viết có nội dung xuyên tạc, kích động, thóa mạ những thành tựu mà toàn thể dân tộc Việt Nam đã đạt được kể từ khi công cuộc đổi mới được tiến hành. Vậy họ là ai? Đó là một số người có quan điểm chính trị cơ hội một cách rõ ràng, có hiểu biết, có một thời gian nắm một số vị trí trong hệ thống chính trị, họ có tham vọng chính trị lớn, trong đó có cả những người có chức sắc tôn giáo, một số người bất mãn, một số người có nhận thức mơ hồ, không phân biệt được phải trái, đúng sai, bị kích động, lôi kéo, ngày càng lún sâu vào con đường lầm lạc.Thông qua Internet, các blogger, họ đã cấu kết với nhau phát tán trên các mạng truyền thông việt ngữ ở nước ngoài như VOA- RFA-RFI- BBC, tuyên truyền, xuyên tạc, nói xấu Đảng và Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, vu cáo, bôi đen chế độ ở Việt Nam.

Nhìn vào các bài viết của họ ta có thể thấy rằng ,nói chung, mục tiêu chủ yếu của họ vẫn là những hoạt động nhằm phủ định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tấn công trực diện vào Cương lĩnh, đường lối đổi mới trong xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng CSVN đang lãnh đạo toàn diện. Họ tìm mọi cách bóp méo, suy diễn, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam bất chấp lẽ phải,cường điệu hóa một vài vụ việc liên quan đến pháp luật từ đó họ hồ đồ kết luận là: đó là “Bản chất” của chế độ. Không những thế họ còn mạnh miệng bôi nhọ quá khứ cách mạng một cách vô liêm xỉ, chà đạp lên giá trị truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc làm tổn thương đến tình cảm thiêng liêng mà Đảng và nhân dân Việt Nam dành cho các anh hùng liệt sĩ đã vì nước hy sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc. Họ đưa ra những câu hỏi lấp lửng như “có cần thiết hay không khi Đảng phát động toàn dân trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân pháp và đế quốc Mỹ”? hay “Nếu không có Đảng CSVN thì dân tộc này đã ở một vị thế khác…” !?..vv… xuyên tạc lịch sử, hòng chia rẽ Đảng với Nhà nước; cô lập, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, kích động một số thành phần mà họ cho là “Nhạy cảm” dễ thâm nhập nhất đó là: trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên, học sinh, kích động một số người từng tham gia hoạt động cách mạng trước đây có tâm trạng bất mãn vì trước khi còn đang làm việc đã có một số vấn đề mà không được “Thỏa mãn” cái “tôi” của họ nay đã hạ cánh thì “Trở cờ” hòng thực hiện ý đồ “trong biến thì phất cờ”. Họ nhắm vào điểm cốt yếu đó là: chia rẽ tôn giáo, dân tộc, chia rẽ các vùng, miền trên đất nước với âm mưu thâm hiểm hòng phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hướng tới mục đích cuối cùng là làm suy yếu Đảng, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, thực hiện đa nguyên, đa đảng, lập các đảng phái nhằm đưa đất nước đi theo con đường khác mà theo lý luận của họ là sẽ “Dân chủ hơn, sáng sủa hơn” !? Gần đây nhất, họ tìm mọi cách phủ nhận những thành tựu to lớn của nhân dân, dân tộc ta qua gần 30 năm đổi mới, xuyên tạc, bóp méo, bôi đen bức tranh xã hội, hòng gây tâm lý hoang mang, mất niềm tin trong nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ. Họ đặt ra những điều kỳ quặc như: “Có bao giờ nhân dân Việt Nam lại sống trong cảnh tủi nhục, đau thương như hiện nay không?”. “Có bao giờ dân tộc Việt Nam lại bị chia rẽ, nghi kỵ nhau, hận thù nhau sau những năm tháng cai trị của một chế độ như bây giờ không”? Từ đó, họ đưa ra những điều xuyên tạc, vu cáo trắng trợn: “Hơn nửa thế kỷ áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên đất nước ta, Đảng Cộng sản đã thực hiện chính sách cai trị bằng thủ đoạn và bạo lực. Nhân dân chỉ được phép cúi đầu sợ hãi và sống trong mòn mỏi, tuyệt vọng”. Họ nhắm mắt nói bừa rằng, tất cả những quyền thiêng liêng của dân tộc được nói trong “Tuyên ngôn độc lập” “đều bị chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền cộng sản được dựng lên!”

Họ đã lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để nhen nhóm tổ chức ra những đảng phái; thảo ra những “điều lệ”, “tuyên ngôn”, “cương lĩnh” và đề ra những hình thức, phương pháp hoạt động, hòng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chống phá Nhà nước, chế độ, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đó chính là bộ mặt thật của cái gọi là “những tổ chức đấu tranh đòi dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam” và đó cũng chính là những hành động vi phạm pháp luật. Việc xét xử nghiêm minh những người vi phạm pháp luật là việc làm bình thường, theo đúng quy định của pháp luật Nhà nước Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế. Một số thế lực ở nước ngoài tìm cách tiếp tay, kích động những phần tử chống phá Nhà nước và chế độ. Khi các phần tử này bị xử lý theo pháp luật thì họ kêu la, hò hét rằng, Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, vi phạm tự do tín ngưỡng, đàn áp tôn giáo, đàn áp những người bất đồng chính kiến. Đó là sự xuyên tạc thô bạo, đổi trắng thay đen nhằm che giấu những âm mưu đen tối của họ.

Để đạt mục tiêu đó, họ thực hiện sự kết hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nước, nhưng hướng chính là khơi dậy từ bên trong, tiến tới xây dựng lực lượng chống đối từ trong nước, tạo dựng “Ngọn cờ”, nhân vật “Nòng cốt”, chờ thời cơ để thành lập các tổ chức đối lập với Đảng Cộng sản. Phụ họa theo các nhà “Dân chủ, nhân quyền” có các tổ chức gọi là “Theo dõi nhân quyền” thường sản xuất ra những cái gọi là: “Nghị quyết”, “Báo cáo” về tình hình tự do, nhân quyền trên thế giới trong đó có Việt Nam, họ đòi áp đặt cho Việt Nam những khái niệm về “Tự do, dân chủ” theo kiểu của họ, bất chấp tính đặc thù của quốc gia đó. Mỗi dịp như vậy các nhà “Dân chủ” trong nước được dịp thể hiện cái gọi là “Bức xúc” trước “Thảm trạng” về tự do, dân chủ, nhân quyền trong nước. Một loạt các đối tượng đưa ra xét xử như: Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê công Định, Lê Thăng Long, Cù Huy Hà Vũ, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Tạ Phong Trần, Nguyễn Văn Hải, Lê Quốc Quân, Nguyễn Phương Uyên…. những người vi phạm đó chỉ vì một chút định kiến, động cơ cá nhân không trong sang đưa ra những thông tin méo mó, bôi đen sự thật về xã hội Việt Nam, họ liên hệ với những tổ chức, phần tử người việt chống cộng cực đoan ở hải ngoại chống đối nhà nước Việt Nam, đòi lật đổ chế độ hiện hành. Nhiều vị luật sư bào chữa cho các bị cáo nói rằng: Những người này không phạm luật vì họ đã sử dung quyền tự do ngôn luận của mình !? vậy có phải đây là một lập luận đúng? Xin thưa rằng: đó là điều hoàn toàn sai lầm, thực ra ở đây họ đánh tráo khái niệm này. Vấn đề là ở chỗ, trong luật quốc gia và luật quốc tế thì quyền tự do ngôn luận (Và nhiều quyền khác) không phải là quyền “tuyệt đối” như các vị biện minh, ngụy biện cho hành vi phạm pháp của mình mà là những quyền có giới hạn, nói một cách khác là quyền bị hạn chế. Trong công ước Quốc tế về quyền con người, tại khoản 3 điều 19 quy định: “Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định. Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác. Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”. Như vậy là việc các bị cáo dựa vào luật quốc tế về quyền con người để biện hộ cho mình là sai, họ đã phớt lờ về khoản 3 điều 19 liên quan đến tội lợi dụng quyền tự do ngôn luận của các bị cáo thì điều 88 bộ luật hình sự 1999 quy định: “Tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN:

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến 12 năm:

a. Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân…

c. Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm”..

Việc các bị cáo và luật sư bào chữa cho rằng không có bằng chứng về hậu quả của hành vị phạm tội của các bị cáo là không có cơ sở pháp lý. Tội “tuyên truyền” vốn là tội phạm mang tính chất “bất bạo động” theo cách nói của mấy nhà “luật học mạng”, blogger. Các vị đòi hỏi phải có bằng chứng về hậu quả của những tội phạm này gây ra ư? chẳng lẽ nhà nước Việt Nam phải ngồi chờ đến khi nào luồng gió sặc “Mùi hoa” như việc đã xảy ra ở Trung đông, bắc phi thì mới có cái gọi là “bằng chứng” như các vị yêu cầu? Xin thưa hậu quả việc phạm tội của các bị cáo đó là: bạo loạn, lật đổ chính quyền, nội chiến, là sự can thiệp của nước ngoài.vv… Trên thế giới không có một quốc gia nào quy định chứng cứ về hậu quả xã hội của loại tội phạm này. Ngay tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia phương Tây đòi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông chủ mạng WikiLeaks cũng chỉ cho rằng với những thông tin của mạng này “có thể” gây nguy hiểm cho quân đội Hoa Kỳ. Như vậy là với chứng cứ mà các bị cáo khai nhận tại tòa “Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài lieu có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” đã đủ cấu thành tội phạm và chiếu theo luật hiện hành, thì mức án mà các bị cáo này phải nhận là đúng người, đúng tội, điều này không thể chối cãi được. Xã hội chính trị lành mạnh luôn hướng dẫn, khích lệ, cổ vũ những động lực đúng đắn của mỗi cá nhân, khi cá nhân đó hành động với động cơ phù hợp với ợi ích chung của cộng đồng thì khi ấy xung đột xã hội sẽ giảm thiểu, tạo ra sự hài hòa, đồng thuận cùng tồn tại và phát triển, ngược lại những cá nhân đi ngược lại dòng phát triển chung sẽ bắt buộc xá định lại nhu cầu của mình nếu không sẽ bị đào thải và bị pháp luật trừng phạt, quyền tự do bị tước đoạt. Thực tế cho chúng ta thấy rằng: không tránh khỏi có những ý kiến khác nhau trong các tầng lớp trong xã hội và khác với quan điểm, đường lối của Đảng. Đó cũng là lẽ bình thường không có điều gì “Ghê gớm” vì như chúng ta đã biết nhận thức là một quá trình, chân lý cũng là một quá trình. Do nhiều yếu tố tác động nên không tránh khỏi có những ý kiến, cách tiếp cận khác với đường lối, quan điểm của Đảng. Nhưng phải là những ý kiến đóng góp chân thành chứ không phải là quan điểm chống lạị.

Và một thực tế không thể phủ nhận được đó là: Từ một nước thuộc địa, dân bị nô lệ, chúng ta đã giành được cái nhân quyền lớn nhất là quyền tự quyết định vận mệnh của mình. Từ một nước nghèo, lạc hậu, chúng ta đã phấn đấu xóa đói, giảm nghèo, nâng trình độ phát triển kinh tế lên ngày một khá hơn. Từ một nước có mặt bằng dân trí thấp, Việt Nam đã là một quốc gia có trình độ văn hóa phổ thông cao hơn mức trung bình của thế giới và là quốc gia đạt chỉ số phát triển con người (HDI) vào hàng cao so với nhiều quốc gia khác.Đời sống nhân dân trong nước được cải thiện rõ rệt, quốc phòng, an ninh được giữ vững, xã hội ổn định, vị thế Việt Nam không ngừng được nâng cao, là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với các nước trong đó có cả cường quốc trước đây là “Cựu thù”. Rõ ràng, sức mạnh tổng hợp của đất nước đã tăng lên nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục phát triển đi lên với triển vọng tốt đẹp.

Việt Nam giờ đây là địa chỉ tin cậy cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài, báo chí quốc tế đã phản ánh nhiều điều “mắt thấy tai nghe” của du khách quốc tế viếng thăm đất nước sôi động và trẻ trung sau khi tới Việt Nam hòa mình vào cuộc sống của mọi tầng lớp nhân dân ở nhiều góc cạnh. Việt Nam ngày nay chứng tỏ là một quốc gia thiên đường cho du khách quốc tế. Sẽ là hết sức sai lầm nếu ai còn tin vào những điều ma muội của những kẻ luôn gắn hình ảnh Việt Nam với chiến tranh và sự nghèo đói, mất tự do, dân chủ và bị “kềm kẹp” dưới chế độ “Cai trị của Đảng CS”. Ngược lại, có đến mới biết Việt Nam xinh đẹp và thân thiện và người dân luôn được pháp luật bảo hộ quyền công dân một cách đầy đủ và mang tính nhân văn nhất. Chuyến thăm Việt Nam của ngoại trưởng Mỹ Ông John Kerry ngày 14-12-2013 đã nói lên điều kỳ diệu này “Không ai không ngạc nhiên khi thấy VN hiện đại đã thay đổi thế nào chỉ trong 20 năm. Thật đáng kinh ngạc” – ông nói và nhấn mạnh “đây không phải ngẫu nhiên, mà có sự cam kết và tầm nhìn của rất nhiều người” Ông dẫn chứng: “Kim ngạch thương mại song phương của chúng ta đã tăng 50 lần kể từ năm 1995 lên 25 tỉ USD/năm. Chúng ta sắp đạt mục tiêu tăng gấp đôi xuất khẩu của Mỹ sang VN như tuyên bố của Tổng thống Obama năm năm trước”. Đất nước từng bị cô lập vì cấm vận cách đây hơn 20 năm giờ “có thể là một trong những đối tác kinh tế hàng đầu của Mỹ tại khu vực và chúng ta sẽ cố để thực hiện điều đó”. Còn ông Fred Burke, giám đốc điều hành của Hãng luật Baker McKenzie và là người từng ở VN gần 20 năm, thừa nhận những gì ngoại trưởng Mỹ nói. “Những gì ông nói hoàn toàn đúng những gì tôi đã trải qua. Giờ rất nhiều thứ chúng ta xem nhẹ khi nghĩ lại VN đã thay đổi thế nào, từ điện thoại di động cho đến chất lượng cuộc sống” – ông Burke nói. Theo ông, VN giờ đây là “một cơ hội” cho người Mỹ khi rất nhiều người trẻ muốn sang VN để làm các lĩnh vực như công nghệ thông tin hay kinh doanh. Những ai vẫn tồn tại quan điểm bôi nhọ, xuyên tạc, vu khống hãy suy nghĩ lạị, chỉ một dẫn chứng nhỏ về việc này đó là: hằng năm số lượng người Việt Nam sống xa Tổ quốc về thăm đất nước luôn luôn tăng, số lượng người nước ngoài đến Việt Nam tham quan, du lịch và ký kết hợp tác làm ăn cũng ngày càng nhiều, không ít người đến hẳn Việt Nam sinh sống và làm việc. Điều đó chứng tỏ những gì mà các nhà “Dân chủ” kêu gào chỉ là điều nực cười mà thôi.

Viết tại Dallas Dec-14-2013
Amari TX

Categories: Diễn biến hòa bình | Tags: | Để lại bình luận

Vạch trần bộ mặt phản động của “Diễn đàn xã hội dân sự”

Có thể gọi Diễn đàn xã hội dân sự là quái thai ra đời lúc canh khuya thu vắng không ngoa bởi sự ra đời của nó có nguồn cơn

Kỳ1: Quái thai ra đời lúc canh khuya thu vắng

NVM Blog – Thời gian gần đây, trên internet xuất hiện những trang blog, face book có chung cái tên, cái đuôi là “diễn đàn xã hội dân sự”. Với tên gọi đậm màu sắc dân chủ, hợp với một trào lưu cải lương trên thế giới, bằng những trò ảo thuật chính trị của một nhóm người mang danh nhân sĩ, trí thức, giáo sư, tiến sĩ, cái gọi là diễn đàn xã hội dân sự này như một thứ nấm độc đang tìm cách len lỏi chui vào nhiều ngóc ngách của đời sống. Không chỉ phát tán trên mạng, họ còn cho phô tô coppy, gửi đến cả các cụ hưu trí không dùng “anh-tẹc-nét” để dụ khị, lôi kéo, phục vụ cho những động cơ đen tối. Nhằm giúp những người quan tâm có thể nhận diện, nhìn rõ bộ mặt phản động của DIỄN ĐÀN XÃ HỘI DÂN SỰ, bắt đầu từ hôm nay, NVM Blog mở loạt bài vạch rõ chân tướng loài nấm độc thông tin nguy hiểm này…

Có thể gọi Diễn đàn xã hội dân sự là quái thai ra đời lúc canh khuya thu vắng không ngoa bởi sự ra đời của nó có nguồn cơn như sau…

Gán ghép “quá khứ đỏ” cho một “tuyên bố đen”

0 giờ sáng ngày 23/9/2013, giữa lúc mọi người đang chìm trong giấc ngủ giữa tiết thu yên bình thì trên internet, với một âm mưu ấp ủ bởi những bàn ay đen ngòm, tại các trang mạng có nội dung xấu độc, phản động như Bô-shit (Bauxite), Xuân Diện, Ba Sàm, Châu Xuân Nguyễn…đồng loạt tung ra cái gọi là“Tuyên bố về thực thi quyền dân sự và chính trị” (TBTTQDSCT) và “Diễn đàn xã hội dân sự”…Cùng thời điểm này, một số trang mạng cùng mang tên “Diễn đàn xã hội dân sự” được xuất hiện trên các công cụ khác nhau của internet.

Động thái này với cộng đồng internet chẳng có gì đáng chú ý nhiều bởi nó không khác hòn đá ném ao bèo là mấy. Cộng đồng mạng từ lâu đã “quách tỉnh” với trò hò hét của mấy anh rận chủ. Vài ngày lại đưa ra một tuyên bố, mấy bữa lại quẳng một tuyên ngôn, nửa tháng lại tạo một xì-căng-đan. Nó “bình thường như cân đường hộp sữa” đến mức anh tiến sĩ luật gia họ Cù béo mập có tuyệt thực đến 1 tháng dư luận cũng thừa biết là giả vờ hay chị Phương Uyên có la làng bị công an sờ ngực cũng chẳng ai tin. Cho nên, có “thêm vài trang mạng”, “dăm bảy cái diễn đàn” cũng chẳng mấy ai bận tâm.

Tuy nhiên, với các nhà dân chủ thì đây vẫn là một sự kiện đáng chú ý, gắn với một nước cờ thâm độc. Ngay sáng hôm sau, Báo Bồn Cầu (BBC) đã có bài tán dương và để cho các nhà dân chủ đứng sau phong trào này lên tiếng. Qua đó, lộ rõ ý đồ của họ. Tờ báo này cho biết, nhóm khởi xướng Diễn đàn Xã hội Dân sự vẫn là những trí thức “phản biện độc lập và quen thuộc” như Nguyễn Quang A, Chu Hảo, Lê Đăng Doanh ở Hà Nội và Tương Lai ở Sài Gòn. Họ đã lố bịch coi thời điểm ra đời diễn đàn là sơn hà “nguy hiến” và chọn thời điẻm Diễn đàn ra đời sau khi “Tuyên bố về thực thi quyền dân sự và chính trị” được phổ biến vào đúng ngày “Mùa thu rồi, ngày hăm ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến…” vang vọng thúc giục vào tháng 9 năm 1945. Và với một sự so sánh đầy khập khiễng đến mức không biết xấu hổ, họ lếu láo gọi bản tuyên bố này bằng một cái tên khác “tuyên bố 23-9”.

Nhưng khác với những lần tuyên bố trước, cái gọi là DIỄN ĐÀN XÃ HỘI DÂN SỰ có vẻ hoạt động khá tinh vi. Điều đầu tiên có thể thấy là ở ngay nội hàm tên gọi đã cho thấy nó có vẻ như không phải là một hội, một nhóm nào cụ thể, càng không phải là một đảng phái vô thừa nhận. Với tên gọi này, có vẻ như nhóm sáng lập hi vọng sẽ tập hợp được một lực lượng đông đảo mà họ cho là “nững tiếng nói đó của các tổ chức và nhóm như Hội đồng Giám mục, nhóm các chức sắc tôn giáo, nhóm công dân tự do, nhóm Tuyên bố 258, câu lạc bộ NoU, v.v., hoặc của nhiều cá nhân ở trong và ngoài nước mang tinh thần yêu nước và khát vọng dân chủ…”. Với kiểu lập lờ “một mũi tên trúng hai con chim” này, diễn đàn vừa có vẻ như không bị hạn chế bởi phạm vi hoạt động lại vừa không bị chế tài bởi các quy định về lập hội tại Sắc lệnh số 102/SL/L004 ngày 20 tháng 5 năm 1957,Bộ Luật Dân sự 2005; Luật Tổ chức Chính phủ, Nghị định số 45/2010 của Chính phủ…Nó cũng có vẻ như có thể “mũi né” được Nghị định 72/2013 của Chính phủ về quản lý thông tin điện tử mới vừa ban hành chưa ráo mực, khi mà chủ thể điều hành diễn đàn dường như không thuộc về một cá nhân cụ thể mà tùm lum, ba la…

Tuy nhiên, họ đã lầm, tất cả những chiêu thức thủ đoạn tinh vi đó không qua mắt được các nhà quản lý cũng như quần chúng chân chính (điều này chúng tôi sẽ phân tích cụ thể ở các bài viết sau).

Dẫu vậy, những kẻ đứng sau giật dây với thói quen ngông cuồng và ảo tưởng, ngỡ bàn tay che nổi mặt trời vẫn vô hình trung bộc lộ bộ mặt phản động bằng những phát ngôn và dấu vết thông tin để lại.

Chủ xị Nguyễn Quang A – từ đứng đầu đến “đội sổ”

Ông tiến sĩ tin học Nguyễn Quang A, cũng giống như các lần trước, lại lộ diện là một trong những người “chủ chòm” của cái gọi là Diễn đàn xã hội dân sự. Ông ta kêu gọi: “Tất cả mọi người không phân biệt về chính trị, thuộc nhiều đảng phái chính trị khác nhau, thuộc nhiều chính kiến khác nhau đều được hoan nghênh cả miễn là thống nhất ở điểm dân chủ hóa,” Ông A cũng hồ đồ khi kêu gọI cả các đảng viên Đảng Cộng sản tham gia diễn đàn và tỏ ra rất huênh hoang tuyên bố: “cảnh báo chính quyền là ‘sự trấn áp sẽ không mang lại kết quả gì”. Một điều khác biệt so với bản tuyên bố 72, tại bản Tuyên bố 23-9, ông tiến sĩ Nguyễn Quang A không đứng ở vị trí số 1 mà chuyển xuống vị trí 130, đội sổ cuối cùng trong danh sách 130 nhân sĩ trí thức đầu tiên ký tên vào bản tuyên bố.

Nhưng với cơ cấu tổ chức bao gồm:

NHÓM CỐ VẤN

1- Nguyễn Đình Đầu (nhà nghiên cứu, TPHCM); 2- Lê Hiếu Đằng (luật gia, TPHCM); 3- Hà Sĩ Phu (TS Nguyễn Xuân Tụ, Đà Lạt); 4- Nguyên Ngọc (nhà văn, Hội An); 5- Nguyễn Huệ Chi (Gs, Hà Nội); 6- Chu Hảo (Gs, Hà Nội); 7- Nguyễn Quang A (Hà Nội); 8- Đinh Xuân Quân (Ts, Hoa Kỳ, Afganistan)

NHÓM TRỊ SỰ

Nguyễn Quang A cùng một số thành viên

Chỉ nhìn vào bảng danh sách trên, đã đủ cho thấy vai trò nòng cốt của một số nhân sĩ, trí thức gần đây hay có tiếng nói đối lập. Trong đó, TS Nguyễn Quang A có mặt ở cả vị trí cố vấn và trị sự, cho thấy Nguyễn Quang A là một mắt xích quan trọng của diễn đàn này.

Với sự ra đời và những tuyên bố như vậy, Diễn đàn xã hội dân sự có mục tiêu tốt đẹp vì sự phát triển của cộng đồng xã hội tại Việt Nam không? Đằng sau các hoạt động của diễn đàn này là gì? Nó là một tổ chức hay là một mạng xã hội? Thực chất nó nhằm mục tiêu gì, đã và đang có những sai phạm gì?

NVM Blog sẽ phân tích trong những bài viết tới đây…

Nguồn: Việt hải ngoại Online

Categories: Diễn biến hòa bình | 1 Phản hồi

Vạch trần âm mưu thâm độc

Thời gian gần đây ở hải ngoại bà con trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ thường nghe các tổ chức chống cộng cực đoan (CCCĐ), các đảng phái phản động người Việt ra rả tuyên truyền đòi tự do “dân chủ”, “nhân quyền” cho người dân trong nước thông qua các cuộc biểu tình, hội họp, trên vô số các trang mạng điện tử, và một điều mà chúng không bao giờ bỏ qua là luôn nhờ bàn tay của các tổ chức,cá nhân không có thiện cảm với Việt Nam ở phương tây và nhất là BU (Mỹ) can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Trong bài này ta tìm hiểu thêm một cụm từ mà thường nghe nói là Đảng và chính phủ Việt Nam lấy cớ chống “Diễn biến hòa bình” (DBHB) để thực hiện trấn áp các tổ chức, cá nhân trong nước khi họ có hành động, tư tưởng đối nghịch lại và suy diễn vu khống chính phủ Việt Nam “thổi phồng” điều mà gọi là “tưởng tượng một cách thái quá”?.

Vậy thì nội dung và ý nghĩa của cụm từ DBHB là gì? Xuất xứ nguồn gốc từ khi nào và ở nơi đâu? Thông thường thì các vị CCCĐ luôn làm cho những việc đơn giản thành phức tạp, những điều dễ hiểu thành khó hiểu, trong cái mập mờ rối tung như canh hẹ thì mới trộn lẫn nhập nhằng các khái niệm, để thực hiện trò đánh lận con đen là nghề của các vị CCCĐ nhằm lôi kéo những người bị hạn chế về nhận thức chính trị cả trong và ngoài nước. Chúng ta có thể khái quát nét cơ bản nhất về cụm từ DBHB là: Được tiến hành với những nước đã bị các thế lực phương Tây tiến công về quân sự hoặc gây lật đổ nhưng không đạt mục tiêu, nay phải dùng chiêu tiến công tổng lực “Bất chiến tự nhiên thành” (không đánh mà thắng) làm cho đối phương tự từ bỏ chế độ đang cầm quyền.

Mục tiêu của các tổ chức CCCĐ ở hải ngoại cũng thay đổi theo từng giai đoạn biến động trên trường chính trị thế giới, cùng với các tổ chức không có thiện cảm với Việt Nam , được BU hà hơi tiếp sức có thể nói âm mưu, thủ đoạn mới của các băng nhóm và thế lực thù địch Việt Nam trong chiến lược DBHB hiện nay chính là lợi dụng ngay các chủ trương, chính sách đổi mới để chống phá sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Các tổ chức, đảng phái CCCĐ xuyên tạc nói rằng Đảng cộng sản rất “lo sợ” có sự chính biến trong nước nên lúc nào cũng tuyên truyền DBHB? Diễn biến là do các nhà cầm quyền và đảng CS nghĩ ra, “suy diễn thái quá”, “tự mình sợ mình” “mắc bệnh tự kỷ” .v.v..? Nói như vậy thì chính họ này chẳng hiểu gì về cụm từ này, hoặc giả có hiểu thì xuyên tạc đánh lạc hướng nhận thức của người khác. Chúng ta tìm hiểu nguồn gốc của cụm từ này để vạch mặt kẻ ”gắp lửa bỏ tay người” của bọn phản động chống phá đất nước.Khái niệm “diễn biến hòa bình” (DBHB) không phải là ”con đẻ” của các nhà tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, cũng không phải là “con quái vật” do người cộng sản dựng nên để hù dọa thiên hạ, mà là sản phẩm của G.Kainan – một trong những chiến lược gia chính trị xuất sắc nhất của Hoa Kỳ (thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai) đề xuất. Kainan đã viết rằng, “Hoa Kỳ không có khả năng tiêu diệt Liên Xô bằng vũ lực”, muốn chiến thắng Liên Xô cần phải tăng cường sử dụng các “thủ đoạn phi quân sự, thực hiện diễn biến hòa bình” làm “thay đổi tính chất chính quyền nhà nước XHCN”… Đến đây ta có thể hiểu một cách rõ ràng về khái niệm DBHB mà từ bấy lâu nay quần chúng đồng bào hải ngoại mà ngay cả những người dân ở trong nước nghe và hiểu mơ mơ,ảo ảo. Ta tìm hiểu tiếp vậy tính chất nguy hại của chiến lược DBHB hiện nay là ở chỗ nào ? hậu quả của nó nghiêm trọng đến đâu? cái thuyết của ông G. Kainan được các “đệ tử” tiếp nhận và vận dụng ra sao? Thì đây ta thấy ngay hậu quả của nó là: Một khi những quan điểm cực đoan của phương Tây về đa nguyên chính trị, dân chủ, nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền của các dân tộc thiểu số được kích động sẽ chuyển thành những hành động chính trị phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự ổn định xã hội, thậm chí có thể hủy hoại thành quả giành độc lập dân tộc trên một nửa thế kỷ qua của nhân dân ta, đã hy sinh hàng triệu người, máu người Việt Nam thấm đỏ từng thước đất sẽ tan tành mây khói, đưa nước ta, dân tộc ta sang con đường khác với mục tiêu hướng tới làm xa rời người dân trong và ngoài nước với chính phủ và đảng CSVN và hậu quả là những kẻ trục lợi về chính trị có truyền thống ôm chân ngoại bang là kẻ hưởng lợi “đục nước béo cò”. Quan niệm của G.Kainan là cội nguồn, đồng thời là cốt lõi của khái niệm DBHB. Tư tưởng chiến lược này đã được vận dụng, phát triển không ngừng qua nhiều đời Tổng thống Mỹ và đã đạt được những kết quả nhất định như chúng ta đã thấy sự tan rã ở các nước liên xô cũ, bắc phi và khối ả rập.

Vậy điều gì đang diễn ra tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá này? mối quan hệ ràng buộc giữa Việt Nam với các quốc gia khác về lợi ích? Điều đương nhiên là Việt Nam phải thay đổi tư duy chiến lược tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể, vậy điều đó đã diễn ra như thế nào? Chúng ta tìm hiểu tiếp: Sự điều chỉnh thủ đoạn chiến lược của các thế lực thù địch và bọn phản động lưu vong người Việt kết hợp các phần tử có mầm mống phản loạn trong nước, chúng rất thâm độc và nguy hiểm hơn khi chuyển hướng từ tập trung bài xích, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam sang “có thể chấp nhận” về hình thức sự lãnh đạo của Đảng, nhưng tập trung làm cho Đảng bị tha hóa, biến chất, tự đánh mất vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Cùng với đẩy mạnh chống phá nền tảng tư tưởng, quan điểm, đường lối của Đảng CSVN, bọn chúng tăng cường tác động các tổ chức quốc tế nhất là BU (Mỹ) thúc đẩy “dân chủ hóa” trong hệ thống chính trị, trong nội bộ Đảng và bộ máy lãnh đạo nhà nước Việt Nam, kích động sự bất đồng chính kiến về những quyết sách chiến lược, nhất là định hướng phát triển của xã hội Việt Nam trong giai đoạn mới, kích động gây chia rẽ, tạo sự phân hóa giữa nhân dân và Đảng cộng sản, đồng thời tạo lập lực lượng chính trị đối lập, dẫn đến tình trạng trong Đảng có nhiều phe phái, trong xã hội có đa đảng, làm rối loạn xã hội, thủ tiêu hoàn toàn khối đoàn kết thống nhất giữa Đảng CS lãnh đạo và sự đồng thuận trong xã hội. Đánh gãy mũi tên bách chiến bách thắng đó là sự đoàn kết toàn dân được tôi luyện trong lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Một số tổ chức phản động CCCĐ ở hải ngoại móc nối, lôi kéo các phần tử cơ hội, ấu trĩ về nhận thức chính trị, một số người cả tin ở trong nước, lợi dụng chủ trương của nhà nước VN mở rộng dân chủ, cải cách hành chính, tự do tư tưởng, tự do báo chí, ngang nhiên đòi hủy bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 1992, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thực hiện nguyên tắc tam quyền phân lập. Các phần tử này viết bài tung lên mạng, hoặc được các đài báo phương Tây như BBC, VOA, RFA, RFI …vv.. móc nối, trả lời phỏng vấn, phát tán quan điểm cá nhân xuyên tạc, vu cáo chủ trương, chính sách nhà nước Việt Nam, thậm chí còn trắng trợn vu cáo Chính phủ Việt Nam bán nước cho ngoại bang, có kẻ kết nối các phần tử chống đối mưu toan thành lập các tổ chức đảng chính trị phản động nhằm lật đổ thể chế chính quyền hiện hữu.Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bọn phản động CCCĐ và các thế lực thù địch với Việt Nam đã sử dụng các hình thức, biện pháp phi vũ trang “cách mạng nhung” “cách mạng hoa” để chống phá Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cả ở trong nước và ở nước ngoài. Đây là cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt, nhằm làm suy yếu nền kinh tế, rối loạn về xã hội, làm chệch hướng đường lối chính trị, làm giảm hoặc cao hơn là làm mất sức chiến đấu của quân đội, an ninh, cô lập và hạ thấp vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Muốn thay đổi một thể chế chính trị thì biện pháp áp dụng tuỳ theo hoàn cảnh của mỗi quốc gia có khác nhau, ngòi nổ đó là bạo loạn – gồm bạo loạn chính trị và bạo loạn quân sự “Diễn biến hòa bình” và bạo loạn lật đổ tuy khác nhau về phương thức, thủ đoạn, nhưng đều thống nhất về mục tiêu là lật đổ chế độ, giành chính quyền. Trong quá trình tiến hành “diễn biến hòa bình” chống tổ quốc Việt Nam các tổ chức phản động CCCĐ và thế lực ngoại bang thường kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ, trong đó DBHB giữ vai trò xung kích, đi trước, chuẩn bị lực lượng, điều kiện để tiến hành bạo loạn lật đổ khi có thời cơ ,đảng khủng bố Việt Tân đã và đang rắp tâm thực hiện mưu đồ này. Bạo loạn lật đổ là hệ quả tất yếu của các hoạt động DBHB xảy ra trong nội bộ quốc gia.

Kết hợp DBHB với bạo loạn lật đổ là sự kết hợp hai hình thức “hòa bình” và “không hòa bình” trong một chiến lược chống phá Việt Nam, có thể diễn ra đồng thời, trên một hay nhiều khu vực trong nước. Bạo loạn chính trị thường là đòn tiến công ban đầu đối với chính phủ, “châm ngòi” cho toàn bộ cuộc bạo loạn và áp lực toàn diện đối với chính phủ trong suốt quá trình diễn ra bạo loạn. Điều này chúng ta thấy rõ trong thời gian qua các trang báo, diễn đàn mạng, các giới truyền thông chống cộng ở hải ngoại ra sức tung hô những những việc như khiếu kiện về đất đai, những vụ án về tham nhũng, biểu tình chống trung quốc .v.v… Trong rối loạn thì “ngư ông đắc lợi”. Bọn phản động chống cộng cực đoan luôn cao giọng chuyện DBHB là chuyện “nội bộ trong nước”? Nếu nhìn qua về bề ngoài, “Diễn biến hòa bình” là chiến lược của các thế lực bên ngoài, còn “tự diễn biến” là việc nội bộ của Việt Nam, phụ thuộc vào chính nội trạng của xã hội Việt Nam. Song, thực tế đã chứng minh đó là hệ quả của một chủ đề, một mục tiêu chiến lược.

Một mặt, thế giới tư bản không ngừng quảng cáo về sự thịnh vượng, sự tuyệt vời của thế giới tự do của mình, giấu nhẹm những khiếm khuyết những mâu thuẫn thường trực trong xã hội. Chính điều này đã làm loà mắt những kẻ trong nước có tư tưởng vọng ngoại, không ít vị mà bản thân họ có quá trình đóng góp đáng kể cho cách mạng, đã được Nhà nước giao nhiều trọng trách lãnh đạo, nhưng vì chưa có quá trình tìm hiểu sâu chủ nghĩa tư bản, chỉ tìm hiểu trên các trang mạng bát nháo , bị các tổ chức ma trơi CCCĐ ở hải ngoại tâng bốc, phong cho những hỗn danh “nhà này nhà nọ” … Họ quay đầu lại xỉ vả quá khứ tự “phản tỉnh”, “kính nể” chủ nghĩa tư bản như “thần tượng” không tiếc lời khen ngợi, còn với “ta” thì cái gì cũng chê không tiếc lời. Đó chính là mầm mống của “tự diễn biến”.

Chiêu thức của bọn phản động CCCĐ và các thế lực chống Việt Nam là vậy, một khi đã hiểu thấu đáo vấn đề thì việc làm vô hiệu hoá nó cũng sẽ có “thuốc” trị. Cần tỉnh táo trước xu hướng thúc đẩy cải cách luật pháp mang màu sắc Cách mạng pháp luật của các thế lực đen tối bên ngoài, mục đích của nó là từng bước tách các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp khỏi sự lãnh đạo của Đảng CSVN. Kiên quyết bác bỏ quan điểm “Quốc gia hóa quân đội”, đòi “Luật hóa mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của quân đội”, thực chất là nhằm bài xích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng và “phi chính trị hóa quân đội”. Một khi thực hiện được vấn đề cốt yếu này thì việc xoá bỏ quyền lãnh đạo của Đảng CSVN với đất nước chỉ là vấn đề về thời gian mà thôi.

Kết hợp “diễn biến hòa bình” với “bạo loạn lật đổ” là một sách lược tinh vi áp dụng chống phá Việt Nam trong nhiều năm qua, rất nguy hiểm, tác động trực tiếp đến an ninh chính trị của quốc gia, sự tồn vong của cả dân tộc.Tăng tính “miễn dịch” cho toàn dân tộc là biện pháp tối ưu chống mọi sự xâm nhập của “vi rút DBHB”. Một khi cơ thể quốc gia khoẻ mạnh thì sẽ đối đầu với bất cứ nạn “Dịch” tấn công từ bên ngoài vào, tiêu diệt mầm mống bệnh từ bên trong. Tính phức tạp cuộc đấu tranh chống DBHB là ở chỗ, trong khi phải đương đầu với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch thì đồng thời chúng ta cũng đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ngày nay trước sự điều chỉnh chiến lược, thay đổi thủ đoạn không ít người chưa nhận rõ được chân tướng của DBHB , các thế lực thù địch và bọn phản động lưu vong người Việt có thực hiện được âm mưu đó hay không tất cả đều phụ thuộc vào chúng ta, phụ thuộc vào Đảng, nhà nước.Công tác tuyên truyền vạch rõ âm mưu thủ đoạn của bọn chúng để cho người dân trong và ngoài nước biết là một việc rất cần thiết.

Những bài học rút ra từ sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô viết, từ làn sóng “Mùa xuân Ả Rập” và sự mất ổn định, lâm vào khủng hoảng của một số nước hiện nay, chúng ta ngày càng thấm thía sâu sắc một vấn đề có tính quy luật “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Để chủ động Giữ nước ngay từ thời bình phải kết hợp chặt chẽ, tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực cực đoan, khắc phục “tự diễn biến”, trong nội bộ quốc gia. Một khi có kế sách đúng đắn, có sức “miễn dịch” tốt thì chúng ta tự tin dù cho các thế lực phản động được các nước lớn hà hơi tiếp sức và tung ra bao nhiêu chiêu thức đánh phá vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước thì cũng như đánh vào khoảng không vô vọng.

Hoa kỳ 15-10-2012
Amari Tx

Categories: Diễn biến hòa bình | Tags: | Để lại bình luận

Vì sao, vì mục đích gì?

Sau khi Báo Nhân Dân đăng bài Từ hải ngoại nhìn về “các nhà dân chủ” của tác giả Trần Mai gửi từ nước Mỹ, trên một số website và blog đã có ý kiến thực hiện theo lối cắt xén, suy diễn, để từ đó phản đối bài viết của Trần Mai và quy kết là “nhận định sai lầm nghiêm trọng… về quyền con người”, và lặp lại luận điệu cho rằng, Nhà nước đã đi ngược lại các tuyên ngôn, công ước quốc tế liên quan tới vấn đề nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết! Bình luận về sự kiện này, cũng từ nước Mỹ, bạn đọc Hữu Ðức mới gửi tới tòa soạn bài Tôi thật sự không hiểu tại sao, vì mục đích gì?, xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Là một người Mỹ gốc Việt, tôi và một số bạn hữu luôn mong muốn quê hương, đất nước phát triển ổn định bền vững, có như vậy mới dồn toàn lực vào công cuộc xây dựng đất nước ngày càng phồn thịnh, đời sống, dân trí của nhân dân ngày càng được nâng cao. Vậy mà một số người lại tự phong là “nhà dân chủ” được các nhóm chống cộng cực đoan ở Hoa Kỳ tung hô, phối hợp “nội công, ngoại kích” để chống phá đất nước, mà đáng kể nhất là họ luôn lớn tiếng đưa ra các yêu sách phi lý như kêu gọi “Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu và các quốc gia tự do cử đặc phái viên tới Việt Nam để điều tra về tình trạng vi phạm nhân quyền, yêu cầu Việt Nam tôn trọng Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, hủy bỏ các điều luật về an ninh quốc gia (điều 79, 87 và 88 Bộ luật Hình sự)” và “thả ngay lập tức các tù nhân chính trị”! Ở hải ngoại, đọc các bài viết của họ, tôi thấy họ xuyên tạc vấn đề nhân quyền của Việt Nam một cách trắng trợn và lố bịch. Vì bức xúc trước tình trạng này, tôi muốn hỏi các “nhà dân chủ” ở quốc nội rằng, các vị căn cứ vào đâu mà “phán xét” Nhà nước Việt Nam về điều mà các vị gọi là “vi phạm quyền con người” qua các điều luật của Bộ luật Hình sự? Theo tôi, phải có một cái nhìn tổng thể và phải nhận thức rõ ràng về sự khác nhau giữa quyền con người và quyền công dân mới hiểu rõ sự lươn lẹo của các “nhà dân chủ” đang tung hỏa mù núp bóng “đấu tranh cho dân chủ” để trục lợi chính trị.

Không phải đến bây giờ con người mới đặt ra vấn đề quyền con người. Ý thức về nhân quyền và đấu tranh cho sự tiến bộ từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm của mọi nhà nước trên hành tinh này. “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-9-1945).

Qua việc đọc và nghiền ngẫm tôi thấy các bản tuyên ngôn đó đều khẳng định quyền con người và trách nhiệm của nhà nước trong khi thực thi quyền con người đối với mọi công dân của nước mình, cũng như cộng đồng quốc tế. Là kết quả của quá trình nhận thức sâu sắc, sự ra đời của khái niệm quyền con người gắn với các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, xóa bỏ chế độ phong kiến. Cho nên ngày nay mọi người thường nói tới Luật về các quyền của Anh năm 1689, Tuyên ngôn độc lập năm 1776, Hiến pháp bổ sung năm 1787 của Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của Pháp. Và vấn đề quyền con người đã được Nguyễn Ái Quốc nhắc tới từ năm 1919, trong Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến đại diện các nước Ðồng minh họp ở Versailles (Pháp).

Trong điều kiện một đất nước vừa trải qua những cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt, việc chăm lo, bảo đảm ngày càng đầy đủ hơn đến quyền con người vừa là mối quan tâm hàng đầu, vừa là thách thức lớn đối với Việt Nam. Sự nghiệp phát triển của Việt Nam nói chung, chăm lo phát triển quyền con người nói riêng, được tiến hành trong bối cảnh đất nước còn vô vàn khó khăn, thiếu thốn, nên có thể còn có hạn chế, bất cập, song không thể vì thế mà phủ nhận những thành tựu rất quan trọng và ngày càng tiến bộ trong việc chăm lo quyền con người, điều này đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Theo tiêu chí tổng quát về thực hiện quyền con người trong thế kỷ 21, trước hết phải kể đến Mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc tổ chức năm 2000, với sự tham gia của 189 thành viên đã nhất trí thông qua Tuyên bố Thiên niên kỷ với tám mục tiêu cụ thể và đặt mốc hoàn thành các mục tiêu này vào năm 2015. Sau 10 năm nỗ lực phấn đấu, Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá hoàn thành 90% kế hoạch đặt ra, là một trong hai nước đi đầu trong việc giảm nghèo, cải thiện sức khỏe cho nhân dân. Trong quá trình chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam còn được ghi nhận có sự phát triển tích cực trong việc bảo đảm các quyền con người, đặc biệt là thành tựu phát triển kinh tế – xã hội, mở rộng dân chủ, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của người dân. Ðây chính là cơ sở quan trọng đủ sức chứng minh sự dối trá của những người đã và đang xuyên tạc, vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền. Trong Hiến pháp Việt Nam cũng như hiến pháp của nhiều quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, quyền con người thường luôn gắn liền với nghĩa vụ công dân, từ đó hình thành khái niệm “quyền và nghĩa vụ công dân”. Ở mỗi quốc gia, quyền công dân được xem là sự thể hiện cụ thể của quyền con người. Sự khác nhau giữa quyền con người với quyền công dân trước hết ở nguồn gốc. Quyền con người được xem là quyền tự nhiên của mọi thành viên của cộng đồng, là quyền của mỗi con người từ khi người đó sinh ra cho đến khi qua đời. Trái lại, quyền công dân lại là các quyền của người dân được quy định trong pháp luật của mỗi quốc gia. Quyền công dân có thể bị tước đoạt một phần hoặc hoàn toàn khi người đó vi phạm pháp luật, hoặc mất năng lực hành vi dân sự (như do mắc bệnh tâm thần chẳng hạn). Ngay tại Hoa Kỳ, quyền công dân buộc phải tuân thủ luật của chính phủ ban hành, cá nhân nào đó, mặc dù không phải là công dân Hoa Kỳ, nhưng đang sinh sống tại Hoa Kỳ vẫn có một số quyền công dân nhất định, hoặc phải thực hiện các nghĩa vụ nhất định như mọi công dân của quốc gia mình đang cư trú.

Ở Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Hình sự năm 1999 là minh chứng. Quyền và nghĩa vụ của công dân trên các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đương nhiên là công dân của nước Việt Nam phải tuân thủ như mọi công dân ở quốc gia khác. Một số người ở trong nước cùng với những người chống cộng ở hải ngoại thường gào thét xuyên tạc rằng: “Ðiều 88, Bộ luật Hình sự năm 1999 về quyền tự do tư tưởng, báo chí là trái với Ðiều 19 của Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 mà Việt Nam đã tham gia”? Xin thưa với các quý vị rằng sự thật không phải vậy. Ðiều 88 Bộ luật Hình sự của Việt Nam hoàn toàn không có gì trái với Ðiều 19 Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị, khi dẫn lại Ðiều 19 của Công ước, các vị đã cố tình cắt xén một nội dung mà Công ước đề cập. Ðó là, khoản 3 Ðiều 19 của Công ước ghi rõ: “3. Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Theo đó, tự do báo chí phải có giới hạn, không có thứ “tự do báo chí tuyệt đối” để làm mất uy tín của người khác, vi phạm an ninh quốc gia, trật tự công cộng và đạo đức xã hội. Ðứng ra bảo vệ mấy cá nhân vi phạm Ðiều 88 là các vị bảo vệ những người vi phạm quyền con người của đại bộ phận nhân dân đang mong muốn xã hội ổn định để phát triển đất nước. Sống ở Hoa Kỳ đã nhiều năm, tôi biết thực chất vấn đề nhân quyền tại Hoa Kỳ. Báo cáo Nhân quyền thế giới năm 2010 của Mỹ chỉ trích 130 quốc gia vì hạn chế các quyền con người, trong khi đó Tổ chức ân xá quốc tế lại cảnh báo về tình trạng vi phạm nhân quyền ở chính Hoa Kỳ khi cho rằng: “Là một quốc gia hùng mạnh bậc nhất thế giới, Mỹ tự cho mình cái quyền đề ra tiêu chuẩn ứng xử cho các quốc gia. Nhưng Mỹ lại thể hiện cái xấu của mình qua hàng loạt hành động thách thức luật pháp quốc tế”! Bốn năm liền, Viện dân chủ và hợp tác ở New York công bố báo cáo về các hành vi thô bạo của cảnh sát chống người nhập cư, các vụ xâm phạm quyền tự do ngôn luận, bất bình đẳng về giai cấp ở Hoa Kỳ. Ông Andranik Migranyan – Giám đốc Viện này, từng nói: “Tất nhiên, Hoa Kỳ là một quốc gia với nhiều truyền thống dân chủ. Nhưng, nếu nhìn kỹ cách tổ chức đời sống xã hội, thì rất tiếc sẽ thấy rõ nhiều vấn đề không cho phép Hoa Kỳ coi mình như thầy giáo giới thiệu mô hình lý tưởng về việc bảo vệ quyền con người”.

Ðể chứng minh, có thể lấy thí dụ từ việc bầu cử tổng thống ở Mỹ. Về hình thức, đây có vẻ là một biểu hiện của dân chủ với hình thức lý tưởng; nhưng trên thực tế lại có sự phân biệt đối xử về nguồn gốc xã hội, về dân tộc, thậm chí cả việc vi phạm quyền bầu cử. Trả lời phỏng vấn của đài Tiếng nói nước Nga, bà Cheri Honkala – ứng cử viên Phó Tổng thống Mỹ của đảng Xanh, đã nói: “Nguyên nhân vì sao Mỹ không cho phép các quan sát viên theo dõi bầu cử có thể ẩn sau khả năng sự lừa dối: chúng tôi có rất nhiều người dân hoặc không muốn hoặc không được đi bỏ phiếu. Còn bây giờ, ở một số bang lại xuất hiện cái gọi là hệ thống “cấp phép quyền bầu cử”. Một rào cản khiên cưỡng ngăn chặn các cử tri tiềm năng, đó là tầng lớp lao động và những người sống dưới mức nghèo khổ”. Và gần đây, ông Alexei Pushkov, người đứng đầu Ủy ban Duma Quốc gia Nga về các vấn đề ngoại giao, nói: “Ðã quá lâu, chúng ta chấp nhận quyền lên tiếng giáo huấn của cái gọi là đất nước dân chủ truyền thống. Tuy nhiên tồn tại hơn hai thập kỷ, nước Nga sau Liên Xô đã có nhận thức rõ nét rằng, những quốc gia giành vai trò người dạy dỗ tuyệt vời, trong thời gian này chứng tỏ thấy họ không hề hoàn hảo. Chúng ta nhận thấy, bản thân Hoa Kỳ cũng vi phạm không ít quyền con người ở trong và ngoài nước. Có thể kể ra ở đây trường hợp các nhà tù CIA bí mật ở Trung Ðông và Ðông Âu, trường hợp thiệt hại thường dân Afghanistan trong các hoạt động quân sự do Mỹ và NATO thực hiện ở nước này, cũng như nhiều khía cạnh khác. Trước hoàn cảnh này, tiếp tục giữ im lặng sẽ có nghĩa chấp thuận vào hùa với trò bao vây thông tin do các phương tiện truyền thông phương Tây tạo dựng để lấp liếm sự vi phạm nhân quyền của chính phương Tây”.

Vì sao các “nhà dân chủ” ở quốc nội lại không quan tâm tới các vấn đề này? Họ lấy Hoa Kỳ là “khuôn vàng, thước ngọc” để so sánh và phê phán Việt Nam. Họ tôn thờ cái gọi là “thiên đường dân chủ” nhưng hình như thực chất thì họ chẳng hiểu gì về nước Mỹ cùng các vấn đề của nó. Vì sao, vì mục đích gì, họ lại có thể đi ngược lại nỗ lực của mọi người dân đang cố gắng xây dựng một đất nước Việt Nam phồn thịnh, xã hội càng ngày càng dân chủ, công bằng, văn minh?

HỮU ÐỨC (Hoa Kỳ, ngày 4-11-2012)
Nguồn Amritx

Categories: Diễn biến hòa bình | Để lại bình luận

CHỐNG PHÁ NHÂN DANH LÒNG YÊU NƯỚC

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch sử dụng nhiều luận điệu khác nhau để kích động chống ĐCS, chống Nhà nước VN, kêu gọi lật đổ chính quyền. Dù nấp dưới danh nghĩa nào, vẫn có thể nhận ra các luận điệu nhằm mục đích chống phá của họ.

Mới đây, một số website và blog truyền bá bài viết của Phạm Lê Vương Các – người tự giới thiệu là “sinh viên đại học năm thứ ba”(!?), cũng nằm trong các thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang triển khai.

Sau khi viện dẫn “triết gia Socrate bị kết án tử hình vì tội đầu độc tư tưởng cho giới trẻ và chống lại nhà nước dân chủ chủ nô”, Bruno “phải lên máy chém vì ủng hộ thuyết “nhật tâm”, Phạm Lê Vương Các nhắc tới một số nhân vật lịch sử như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học… và gọi họ là “những người tiên phong trong việc chống nhà nước phong kiến nửa thuộc địa đương thời để xóa bỏ sự nô dịch, lạc hậu, và bất công”. Từ những cứ liệu đó, tác giả này kết luận “không thể xem chống nhà nước là hành vi hoàn toàn tiêu cực được”. Khi làm công việc này, Phạm Lê Vương Các đã bỏ qua một nội dung có tính chất nền tảng là bối cảnh lịch sử của mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử, và tính tất yếu của quá trình nhận thức cùng hành vi của con người trong bối cảnh lịch sử ấy. Phải chăng, tác giả do thiếu hiểu biết hay cố tình bỏ qua nội dung nền tảng này, đánh đồng nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến nửa thuộc địa với nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân hiện nay? Trên thực tế, bản chất các loại hình nhà nước mà những nhân vật lịch sử do Phạm Lê Vương Các viện dẫn đã từng sống lại hoàn toàn khác nhau, mục đích đấu tranh của mỗi người cũng rất khác nhau. Từ sự mập mờ này, Phạm Lê Vương Các nhận định “tuy cùng một hành vi chống nhà nước, nhưng đã làm cho Việt Nam sản sinh ra những con người “phản động” theo tinh thần lý luận đấu tranh giai cấp nhưng lại mang bản chất “yêu nước” theo tinh thần ý thức trách nhiệm của một công dân đấu tranh cho dân chủ tiến bộ, tùy theo cách hiểu khác nhau của mỗi người”. Sao lại đánh đồng “phản động” với “yêu nước”? Nếu là người hiểu biết, không thể nhầm lẫn giữa hai phạm trù đối nghịch nhau như thế. Phản động hay yêu nước đều phải dựa trên các tiêu chí xét đoán rõ ràng, được cả cộng đồng thừa nhận, không phải muốn là có thể nói vống lên. Trong cuộc sống, suy nghĩ và hành vi của con người có ý thức đều hướng tới mục tiêu cụ thể, mà tựu trung trước hết là vì nhu cầu của bản thân mình và vì nhu cầu của cộng đồng mà mình là thành viên. Thử hỏi ba blogger mà Phạm Lê Vương Các đứng ra bao biện cho họ đã đóng góp gì cho đất nước, cho cộng đồng nơi họ sống, mà có thể gán cho tên gọi “người yêu nước”? Việc họ viết năm, bảy cái entry chứa đựng thông tin mơ hồ, thật – giả và tốt – xấu lẫn lộn… để vu cáo chính quyền lẽ nào lại là biểu hiện của lòng “yêu nước”? Và không biết vì ấu trĩ không hiểu mối quan hệ giữa hiến pháp và pháp luật với nhà nước hay tôn thờ chủ nghĩa vô chính phủ mà Phạm Lê Vương Các còn viết một cách rất tùy tiện rằng: “Không thể lấy hiến pháp và pháp luật để bảo vệ Nhà nước”! Thử hỏi, nếu Nhà nước không có hiến pháp và pháp luật sẽ ra sao, ai sẽ bảo vệ quyền lợi của người dân?! Xã hội sẽ ra sao nếu mỗi công dân lại tự đề ra một luật riêng cho bản thân để muốn làm gì thì làm?

Nguy hiểm hơn, theo Phạm Lê Vương Các: “Một khi nhà nước không còn là của dân, do dân, và vì dân trên thực tế thì chống lại nhà nước đó là hành vi tất yếu”. Cần vạch rõ sự dối trá này vì nó chỉ đúng khi “dân” ở đây là đại đa số nhân dân, chứ không phải là một vài cá nhân chưa làm được bất cứ điều gì cho dân nhưng vẫn xưng xưng tự nhận là “đại diện của nhân dân”. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhà nước thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam chỉ phục vụ bộ máy cai trị thực dân, thẳng y đàn áp bóc lột nhân dân. Còn Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được Hiến pháp khẳng định là Nhà nước “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Chúng xây dựng Nhà nước pháp quyền chính là xây dựng một nhà nước dân chủ ngày càng hoàn thiện, nơi nhân dân đứng ra tự tổ chức, tự quản lý, tự điều hành xã hội của mình. Tính thống nhất bao trùm lên mọi hoạt động tổ chức và thực hiện quyền lực của nhân dân, chứ không phải mâu thuẫn hay đối kháng. Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do nhân dân lập ra thông qua bầu cử, ý chí của đại đa số nhân dân thể hiện qua hoạt động của Nhà nước một cách công khai, minh bạch, và hành động của Nhà nước thể hiện ý chí, tư tưởng, nguyện vọng của nhân dân. Nhân dân lập ra Nhà nước để bảo vệ cho các quyền và lợi ích của chính mình, nếu Nhà nước không có Hiến pháp và pháp luật bảo vệ thì sẽ không bảo vệ được nhân dân. Ðiều 6 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (năm 1992) quy định “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”; Ðiều 53 khẳng định công dân “có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương”. Trong trường hợp công dân không đồng tình với Nhà nước, hoặc muốn đưa ra ý kiến riêng thì có thể “kiến nghị với cơ quan Nhà nước”, Ðiều 74 nêu cụ thể “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào”. Quy định của pháp luật nước cũng nêu rõ, công dân có quyền phản đối cơ quan Nhà nước, công dân có thể kiện cơ quan Nhà nước ra tòa án. Ðó là quyền của công dân, bởi không phải lúc nào các cơ quan nhà nước cũng đúng, và ở nước đã có một số trường hợp công dân thắng kiện cơ quan nhà nước.

Bên cạnh đó, Phạm Lê Vương Các còn cho rằng, có sự khác nhau trong quan niệm “chống nhà nước” giữa “các nước dân chủ” với các nước XHCN. Xét từ chính trị học, tất cả các mô hình nhà nước đều có những mặt tốt và mặt hạn chế, con người luôn cố gắng tiệm cận với một mô hình nhà nước hoàn hảo như tiệm cận với chân lý. Nhà nước còn có tính lịch sử, văn hóa sâu sắc, không thể đem mô hình nhà nước của quốc gia này áp dụng cho quốc gia khác mà hy vọng sẽ có kết quả. Tuy nhiên, Phạm Lê Vương Các lại đưa ra quan niệm lệch lạc: “chống lại nhà nước XHCN ở đây luôn được nhà cầm quyền xem là mối đe dọa lực lượng thống trị, an ninh quốc gia, phá vỡ khối đại đoàn kết thống nhất, và lý tưởng của toàn dân”. Xét từ nguồn gốc và bản chất của nhà nước, điều này thật ngây thơ, người viết hoàn toàn không hiểu biết. Ðể bảo vệ nhà nước, mọi quốc gia đều phải áp dụng các biện pháp bảo đảm an ninh, một số quốc gia phương Tây còn theo dõi tường tận đến từng cá nhân, thậm chí phát động tấn công các quốc gia khác với lý do… để bảo đảm an ninh! Ở Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, dù là hành pháp, lập pháp hay tư pháp đều phải làm đúng, làm hết trách nhiệm của mình. Nhà nước khuyến khích hoạt động phản biện xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể. Khi công dân có vấn đề cần giải quyết, họ đều có quyền yêu cầu các tổ chức đoàn thể, hệ thống thông tin đại chúng… giúp đỡ. Song không vì thế, công dân lại làm dư luận hoang mang, gây mất ổn định xã hội bằng đưa tin bịa đặt trên internet, nói xấu lãnh đạo, nói xấu người khác mà không đưa ra bằng chứng, rồi kích động bạo loạn, kêu gọi lật đổ chính quyền… Các Ðiều 87, Ðiều 88, Ðiều 92 của Bộ luật Hình sự quy định rõ các tội danh liên quan đến hành vi chống chính quyền nhân dân, chỉ có ai cố tình không hiểu mới phát ngôn tùy tiện như vậy. Xét trên mọi phương diện, hành vi “làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu có nội dung chống nhà nước” đều rất nguy hiểm đối với xã hội và không thể gọi đó là hành vi yêu nước. Vì thế, các nước phương Tây đã đối xử rất cứng rắn với Julian Assange khi trang mạng Wikileaks tải lên những thông tin “nhạy cảm”.

Nhà nước của chúng đang có bước chuyển quan trọng để tự hoàn thiện, từ đó tiếp tục tổ chức, lãnh đạo sự nghiệp phát triển đất nước, củng cố niềm tin của mọi tầng lớp nhân dân. Và khi trong bộ máy Nhà nước còn những “con sâu làm rầu nồi canh”, chúng cần đấu tranh làm trong sạch theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI). Hệ thống pháp luật của nước được xây dựng nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, nhưng một số cán bộ, công chức chưa thực hiện đúng nhiệm vụ, chức trách được giao, vẫn còn tình trạng cơ hội, trục lợi cá nhân, gây bất bình trong nhân dân. Những cán bộ trong bộ máy nhà nước, doanh nghiệp vi phạm pháp luật bị khởi tố trong thời gian qua là minh chứng cho quyết tâm lập lại kỷ cương xã hội của Nhà nước. Do đó, mỗi công dân cần có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của Nhà nước, cũng như cần đóng góp thiết thực để xây dựng Nhà nước. Từ lâu, những ý kiến đóng góp tâm huyết của người yêu nước chân chính luôn luôn được ghi nhận, nghiên cứu, xem xét một cách nghiêm túc.

(NHÂN DÂN ONLINE)
treonline.com

Categories: Diễn biến hòa bình | Để lại bình luận

Thêm một màn kịch chính trị trơ tráo của SBTN

Lợi dụng kỷ niệm Ngày Quốc tế nhân quyền (10-12-2012), SBTN (đài truyền hình phát bằng tiếng Việt tại Mỹ), do Trúc Hồ làm Giám đốc điều hành, vừa phát động cái gọi là “chiến dịch triệu con tim, một tiếng nói”.

Căn cứ vào các hành vi mà SBTN từng thực hiện trong thời gian qua, có thể khẳng định đây thực chất là một màn kịch chính trị bị thao túng bởi các thế lực thù địch, nhằm vu cáo Nhà nước Việt Nam.

Theo SBTN, cái gọi là “chiến dịch triệu con tim, một tiếng nói” được phát động trong thời gian hai tháng, từ ngày 15-10-2012 đến ngày Quốc tế nhân quyền 10-12-2012. Màn mở đầu của vở kịch lố lăng này là thu thập 100 nghìn chữ ký vào “thỉnh nguyện thư” gửi Chủ tịch Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc, Ðại diện cấp cao của Liên minh châu Âu về ngoại giao và chính sách an ninh, Bộ trưởng Ngoại giao các nước Anh, Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Ca-na-đa, Pháp, Ðức, Nhật, Hà Lan, Na Uy, Thụy Sỹ… “Thỉnh nguyện thư” trắng trợn vu khống Nhà nước Việt Nam kiểm duyệt internet, bắt giam tùy tiện và đối xử khắc nghiệt với “tù nhân lương tâm”, blogger và một số đối tượng “đấu tranh dân chủ ôn hòa”. Các đối tượng gửi “thỉnh nguyện thư” kêu gọi Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu và các quốc gia tự do cử đặc phái viên tới Việt Nam để điều tra về tình trạng vi phạm nhân quyền, yêu cầu Việt Nam tôn trọng Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, hủy bỏ các điều luật về an ninh quốc gia (điều 79, 87 và 88 Bộ luật Hình sự) và “thả ngay lập tức các tù nhân chính trị”! Luận điệu trong cái gọi là “thỉnh nguyện thư” không có gì mới, yêu sách đưa ra cũng đã nhàm, vì đó là mấy điều mà các thế lực thù địch vẫn lải nhải lâu nay.

Ðiều đáng nói là trong khi kêu gào như vậy, những kẻ chủ mưu sản xuất ra “thỉnh nguyện thư” cố tình phớt lờ, thậm chí phủ nhận nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền. Vì trên thực tế, Việt Nam luôn quan tâm mở rộng các kênh trao đổi về nhân quyền với Mỹ, EU và các nước khác thông qua các chuyến thăm, tìm hiểu thực tế hoặc đối thoại nhân quyền thường niên nhằm thu hẹp khác biệt trong quan điểm của các bên về vấn đề này. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia đi đầu trong việc thực hiện các công ước, tuyên ngôn, chương trình hành động của Liên hợp quốc, trong đó có Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Trong khi vu cáo Việt Nam vi phạm các nội dung của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị thì những kẻ chủ mưu “thỉnh nguyện thư” lại phớt lờ một vấn đề cốt lõi. Ðó là chính các văn bản này đã quy định việc thụ hưởng nhân quyền phải tuân thủ quy định của pháp luật và các nghĩa vụ, trách nhiệm đặc biệt để “tôn trọng các quyền và uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe và đạo đức xã hội”. Ðó cũng là lý do để Việt Nam ban hành và thực thi Bộ luật Hình sự, trong đó có các quy định về “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (Ðiều 79), “Tội phá hoại chính sách đoàn kết” (Ðiều 87) và “Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” (Ðiều 88). Cần khẳng định đây là việc làm cần thiết để bảo đảm an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân. Ở Việt Nam không có “tù nhân lương tâm” hay “tù nhân chính trị” như các thế lực thù địch vẫn rêu rao, mà chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật cần phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

Bên cạnh việc xuyên tạc, bóp méo sự thật và đưa ra các yêu sách vô căn cứ, cách thức ký tên vào “thỉnh nguyện thư” cũng rất kỳ quặc. Người tham gia chỉ việc điền họ tên (bất kể tên thật hoặc tên giả), tên thành phố và quốc gia cư trú rồi xác nhận bằng địa chỉ email. Với phương thức này, một người có thể tự lập hàng chục, thậm chí hàng trăm email ảo để tham gia ký “thỉnh nguyện thư”. Do đó, số người tham gia do SBTN công bố thực chất chỉ là con số ảo, vì không thể kiểm chứng. Thêm nữa, theo danh sách ký vào “thỉnh nguyện thư” có thể nhận ra những cái tên quen thuộc, có tiền sử chống Việt Nam về dân chủ, nhân quyền như Dân biểu Hạ viện Mỹ Loretta Sanchez, các đối tượng thuộc tổ chức khủng bố thuộc “đảng Việt Tân” (như Ðỗ Hoàng Ðiềm, Hoàng Tứ Duy) hay những đối tượng từng bị chính quyền Việt Nam bắt giữ, xét xử vì các hành vi tuyên truyền, chống phá Nhà nước như Nguyễn Văn Ðài, Bùi Thị Minh Hằng, Trần Khải Thanh Thủy, Nguyễn Hữu Giải,…

Bước tiếp theo trong chiến dịch “triệu con tim, một tiếng nói” là kêu gọi cộng đồng gọi điện thoại hoặc fax 24/24 giờ đến Ðại sứ quán hoặc Lãnh sự quán Việt Nam trên toàn thế giới. Tác giả của màn kịch “triệu con tim, một tiếng nói” gọi đây là hành động “biểu tình qua điện thoại và fax”. Ðể làm việc này, thông qua website của SBTN và một trang mạng khác, họ cung cấp danh sách và số điện thoại của các cơ quan đại diện Việt Nam; đồng thời hướng dẫn chi tiết cách thức, nội dung gọi điện thoại và fax, đề nghị người tham gia sao chép lại nội dung trao đổi để phát tán trên các mạng xã hội như facebook, Youtube, blog… Hành động quấy nhiễu hệ thống thông tin liên lạc của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thể xem là một biến tướng của khủng bố thông tin. Ðây là loại hình khủng bố mới xuất hiện khi công nghệ thông tin phát triển. Theo Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài ban hành năm 2009, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài (Ðại sứ quán, Lãnh sự quán) có nhiệm vụ thúc đẩy quan hệ chính trị – xã hội, quốc phòng – an ninh, văn hóa, phục vụ phát triển kinh tế đất nước, đồng thời thực hiện nhiệm vụ lãnh sự như liên hệ, tiếp xúc với công dân Việt Nam trong trường hợp họ bị bắt, tạm giữ, tạm giam, xét xử hoặc đang chấp hành hình phạt tù tại quốc gia tiếp nhận; cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cấp đổi, cấp lại, hủy bỏ các loại hộ chiếu, giấy thông hành và giấy tờ khác có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh Việt Nam, cấp và gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cấp lại, hủy bỏ thị thực và giấy miễn thị thực của Việt Nam… Việc duy trì sự thông suốt mạng lưới thông tin của các cơ quan đại diện ở Việt Nam ở nước ngoài là tối cần thiết. Hành động khủng bố hệ thống điện thoại và fax của các cơ quan đại diện Việt Nam sẽ cản trở hoạt động của các cơ quan đại diện, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, pháp nhân và tác động trực tiếp tới lợi ích của chính cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài, vì thế cần phải lên án nghiêm khắc và cần phải xử lý.

Vậy đằng sau chiến dịch “triệu con tim, một tiếng nói” là gì? Thực ra, đây không phải là lần đầu tiên SBTN phát động chiến dịch “thỉnh nguyện thư”. Trước đó, từ ngày 8-2 đến ngày 5-3-2012, Trúc Hồ (SBTN) đã phối hợp với Nguyễn Ðình Thắng và Tổ chức cứu người vượt biển – BPSOS, phát động chiến dịch “thỉnh nguyện thư” trên diễn đàn We the people của Nhà Trắng để kêu gọi chính quyền Mỹ gây sức ép với Việt Nam để thả Việt Khang (đối tượng bị cơ quan An ninh Việt Nam bắt giữ vì có hành vi tuyên truyền chống Nhà nước), kêu gọi Mỹ “chấm dứt phát triển thương mại với Việt Nam nếu không cải thiện về nhân quyền”. Tuy nhiên, cái gọi là “chiến dịch thỉnh nguyện thư” đó đã thất bại thảm hại, bộ mặt thật của mấy kẻ chủ mưu đã bị người Việt ở nước ngoài vạch trần. Họ cho rằng, SBTN và BPSOS đã lừa đảo và lợi dụng cộng đồng để mưu lợi cho tổ chức. SBTN bị cáo buộc lợi dụng “chiến dịch” này để thu lợi từ quảng cáo, tăng số lượng thuê bao để tránh bị Hệ thống truyền hình vệ tinh Direc TV cắt sóng (vì từ năm 2006, số lượng thuê bao của SBTN bị sụt giảm liên tục xuống dưới mức quy định). Không phải ngẫu nhiên mà Trúc Hồ giúp mấy “nhà dân chủ”, liên tục phát động các “chiến dịch thỉnh nguyện thư vì dân chủ nhân quyền”. Ðằng sau những mục tiêu mà SBTN đưa ra để mị dân, là những toan tính của Trúc Hồ để gây tiếng vang, chứng minh ảnh hưởng của SBTN. Hơn nữa, núp sau “chiến dịch triệu con tim, một tiếng nói” là các tổ chức đã có tiền sử chống phá Việt Nam như “Nhân quyền cho Việt Nam”, “đảng Việt Tân”, “Tổ chức Dân chủ nhân dân”,… Các tổ chức này đang hà hơi, tiếp sức cho chiến dịch của SBTN để đánh bóng tên tuổi, làm dày “thành tích chống cộng”, thu hút sự chú ý của cộng đồng và các thế lực cực hữu nhằm dễ bề vận động tài chính.

Là một đài truyền hình, lẽ ra SBTN phải đi đầu trong việc cung cấp thông tin trung thực, khách quan về tình hình Việt Nam, giúp cộng đồng người Việt tại Mỹ hiểu thêm về đất nước, từ đó góp phần xây dựng và phát triển đất nước, đó là cái tâm và cái đích mà người làm báo chân chính hướng tới. Nhưng SBTN lại đi chệch hướng, tự biến mình trở thành công cụ của các tổ chức đội lốt nhân quyền để chống phá Việt Nam. Việc làm đó không mang lại vinh dự và uy tín mà trái lại chỉ càng làm cho hình ảnh của SBTN thêm xấu xa. Chính vì thế, chắc chắn cái gọi là chiến dịch “triệu con tim, một tiếng nói” sẽ thất bại thảm hại, như các “chiến dịch” do SBTN phát động trước đây mà thôi.

LAM SƠN
treonline.vn

Categories: Diễn biến hòa bình | Để lại bình luận

Blog at WordPress.com. The Adventure Journal Theme.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.