Diễn biến hòa bình

Sự Lộng Ngôn Của Nhóm Người Gọi Là “Cựu Tù Nhân Lương Tâm”

Tác Giả : Amari tx (Bài đăng trên tạp chí Nhân Quyền việt Nam tháng 3-2014)

Gần đây, một số người tự xưng khơi khơi là những “Nhà này, nhà nọ” chém vè, chém gió ào ào trên các mạng xã hội, kêu gọi lập hội, kéo bè… để thể hiện cái ta đây là những “Nhân sĩ”, “Ái quốc” theo cái gọi là “Trào lưu tự sướng” đã có những bài viết có nội dung xuyên tạc, kích động, thóa mạ những thành tựu mà toàn thể dân tộc Việt Nam đã đạt được kể từ khi công cuộc đổi mới được tiến hành.

Hình ảnh

Không những thế họ còn kết bè kiểu “Mèo mả, gà đồng” thành lập hội này nọ, ra những cái gọi là như “Tuyên ngôn”, “Thông cáo” nghe như là một tổ chức có tiếng nói trọng lượng ở trong nước, là đối trọng với Đảng cầm quyền trong nước hòng lừa bịp những người thiếu cập nhật thông tin, và lừa bịp bà con kiều bào ở xa tổ quốc hòng kiếm sự tài trợ, đó là những kẻ có tư tưởng ảo vọng, cấu kết với các phần tử ở nước ngoài chống đối lại Nhà nước Việt Nam. Làm như vậy là ảnh hưởng đến hình ảnh của người Việt Nam ở nước ngoài đồng thời đi ngược lại sự phát triển của đất nước và chia rẽ, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc giữa người Việt Nam đang sống ở nước ngoài với người Việt Nam ở trong nước. Hành vi bất minh đó đáng bị lên án và vạch mặt đó là Tuyên bố này được đưa ra tại Việt Nam ngày 18 tháng 02 năm 2014 của một nhóm người với cái nhân xưng rất chi là cải lương, trong lời tuyên bố có viết: “Chúng tôi trân trọng tuyên bố chính thức thành lập Hội Cựu Tù nhân Lương tâm Việt Nam” !? Nói bộc toạc ra thực ra đó là hội “68 tên tội phạm” thì đúng nhất bởi vì danh sách “68 Hội viên” ký tên kêu gào đồng bào ở hải ngoại và các tổ chức ngoại bang can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam thì nó đã sực mùi “Cõng rắn cắn gà nhà” của băng, nhóm này.Một điều nực cười là những tên “Tội phạm” này lấy tư cách gì mà đòi “Đại diện” cho dân tộc Việt Nam, lấy tư cách gì mà yêu cầu nhà cầm quyền phải làm thế này, phải làm thế kia theo yêu sách mang hơi hướng “Tâm thần” như: “Mọi tù nhân phải được đối xử như những con người, phải được các tổ chức nhân quyền trong và ngoài nước theo dõi chế độ giam giữ họ” hay như “Hội Cựu Tù nhân Lương tâm Việt Nam đấu tranh cho một nền pháp chế biết đề cao nhân phẩm, tôn trọng nhân quyền, thăng tiến tự do, xây dựng dân chủ theo các chuẩn mực quốc tế, văn minh của nhân loại, được biểu đạt trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và hai Công ước Quốc tế về các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội”….v..v đại loại là như vậy.

Một số cơ quan, tổ chức nước ngoài và blogger cố tình “té nước theo mưa” xuyên tạc Nhà nước Việt Nam đã “tiếp tục sử dụng các điều luật về an ninh quốc gia để hạn chế các quyền dân sự, chính trị, quyền tự do ngôn luận, tự do. Trước đó, các phương tiện truyền thông Việt ngữ ởphương Tây và nhiều blogger “lề dân” đã từng bênh vực cho các tội phạm mà họ cho là người “yêu nước“, “tranh đấu cho nhân quyền” là những “Người hùng” dám đương đầu với chế độ… Nhưng oái ăm thay những kẻ được tung hứng đó chính là những kẻ phạm pháp bị pháp luật Việt Nam trừng phạt, trong đó nhiều kẻ mang dáng dấp của kẻ tâm thần. Trong các bản luận tội khi đứng trước vành móng ngựa thì những tài liệu, chứng cứ thu thập được lại có không ít bài xuyên tạc, bôi xấu, kích động lật đổ chế độ. Tất nhiên, Bộ luật Hình sự chỉ nói những nét cơ bản, không thể ghi hết những hành vi làm tổn hại đến uy tín, sự bền vững của chế độ xã hội qua những ngôn từ kiểu“bóng gió” nhằm trốn tránh pháp luật mà những kẻ chống đối, bài xích chế độ đã cân nhắc, tính toán khi chấp bút. Nhưng dù những người nào đó có thật sự là “Khôn ngoan” đến cỡ nào thì cũng không thể “Bịt mắt” được hết mọi người, và càng không thể trốn tránh được sự phán xét dư luận và sự nghiêm minh của pháp luật. Chúng ta đều biết, bất cứ một nền dân chủ nào cũng gắn với kỷ cương, pháp luật của Nhà nước. Bất cứ sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nào của mỗi công dân trong một xã hội tự do, dân chủ đều không được làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị – xã hội và quyền tự do, dân chủ của những công dân khác cũng như của cộng đồng. Do đó, mọi người phải sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; tất cả những hành động vi phạm pháp luật đều phải bị xét xử. Trong những nơi lưu giữ phạm nhân ở nước ta hiện nay, có người nguyên là tu sĩ, chức sắc tôn giáo và cũng có những người vốn không phải là tu sĩ, tín đồ nào, thậm chí có những người trước đây là cán bộ, đảng viên, nhưng tất cả đều bị xử lý theo pháp luật, vì họ là những người phạm pháp, chứ không phải vì lý do nào khác.

Vậy họ là ai? 68 vị “Hảo hán” đồng ký tên thề thốt ở cái nơi gọi là “Sơn bạc”? ta phải nói ngay đó là một nhóm người đã có một quá trình ngồi “Bóc lịch” trực tiếp hoặc gián tiếp trong nhà tù. Nguyên nhân dẫn đến kết quả đó là: Ở họ có tham vọng chính trị theo kiểu “Đục nước thả câu” “Cháy nhà hôi của” muốn trục lợi cá nhân, đánh bóng tên tuổi, trong đó có cả những người có chức sắc tôn giáo, một số người bất mãn, một số người có nhận thức mơ hồ, không phân biệt được phải trái, đúng sai, bị kích động, lôi kéo, ngày càng lún sâu vào con đường lầm lạc, chống phá, gây bất ổn xã hội. Nhìn vào các cáo trạng của họ ta có thể thấy rằng, nói chung, mục tiêu chủ yếu của họ vẫn là những hoạt động nhằm phủ định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tấn công trực diện vào Cương lĩnh, đường lối đổi mới trong xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng. Họ ngộ nhận rằng mình là tài giỏi, xuất chúng, có thể xoay chuyển được thời thế, lật đổ được chế độ, để khi “cách mạng dân chủ mới” thành công sẽ làm ông này, bà nọ…, tha hồ hưởng vinh hoa phú quý “ăn trên ngồi trốc” thiên hạ. Chúng ta thử làm một cuộc khảo sát tên vài vị có danh sách “Hảo hán” trong cái gọi là hội “Cựu tù nhân lương tâm” và hãy thử nhìn vào “tài năng”, “đức độ” của các vị này như thế nào?

Nguyễn Văn Đài bị tuyên phạt 4 năm tù giam,4 năm quản chế. Lê Thị Công Nhân bị án phạt 3 năm tù giam, 3 năm quản chế (2007)-Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao và kết quả thẩm vấn, tranh luận công khai tại phiên toà, từ năm 2006 đến ngày bị bắt, Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã sử dụng Văn phòng luật sư Thiên Ân ở số 10 phố Đoàn Trần Nghiệp (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) do Nguyễn Văn Đài làm trưởng văn phòng để thực hiện hành vi tuyên truyền, đả kích chính quyền nhân dân và làm ra, tàng trữ, lưu hành nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc nhằm chống Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Lê Công Định bị tuyên phạt 3,5 năm tù giam,3 năm quản chế (2009), Ngày 20/1, TAND TP HCM đã mở phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm đối với 4 đối tượng Trần Huỳnh Duy Thức (44 tuổi), Nguyễn Tiến Trung (27 tuổi), Lê Công Định (42 tuổi) và Lê Thăng Long (43 tuổi) phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Định thừa nhận mình đã làm ra 33 tài liệu, tàng trữ 24 tài liệu và 32 quyển sách có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tháng 3/2009, Định có tham gia khóa huấn luyện về phương pháp đấu tranh “Bất bạo động” lật đổ chính quyền nhân dân do tổ chức khủng bố có tên gọi “Việt Tân” tổ chức tại Thái Lan. Tương tự như Định, tại tòa, Nguyễn Tiến Trung nói: “Rất ăn năn, hối hận vì những việc làm vi phạm pháp luật của mình trong thời gian vừa qua. Do nhận thức sai, hành vi của bị cáo giờ đây không chỉ ảnh hưởng đến gia đình, cha mẹ, bạn bè mà còn chống lại Nhà nước và nhân dân Việt Nam…”

Trái với Trung và Định, tại tòa Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long chưa tỏ ra thành khẩn nhưng vẫn thừa nhận: Do có sự nhìn nhận, đánh giá chủ quan về các hiện tượng tiêu cực xảy ra trong xã hội, Thức nảy sinh tư tưởng bất mãn với chế độ… Vì vậy, từ cuối năm 2005, Thức thành lập tổ chức chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có tên gọi “Nhóm nghiên cứu Chấn” và viết bài tuyên truyền lôi kéo một số đối tượng tham gia tổ chức này hoạt động, nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Thức đã liên hệ chặt chẽ với tổ chức phản động có tên “Đảng dân chủ Việt Nam” cùng Nguyễn Sỹ Bình, Lê Công Định bàn bạc, thống nhất phương thức hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân như: xây dựng kế hoạch tổng thể dưới dạng cuốn sách có tên gọi “Con đường Việt Nam” nhằm thay đổi thể chế chính trị, đề ra kế hoạch 5 người, nhận trách nhiệm thành lập tổ chức “Đảng xã hội Việt Nam” chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để phát triển lực lượng cho tổ chức “Đảng dân chủ Việt Nam” Trong quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, ngoài việc thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Trần Huỳnh Duy Thức, viết: “Tôi thực sự ân hận về việc làm của mình, tôi xin Nhà nước rộng lượng khoan hồng, miễn giảm hình phạt cho tôi để sớm được về với gia đình…” Nguyễn Tiến Trung, viết: “Tôi đã thấy được các hành vi của tôi là vi phạm pháp luật nghiêm trọng… nay tôi xin được hưởng sự khoan hồng”. Lê Công Định: “Tôi đã tham gia tổ chức Đảng dân chủ Việt Nam nhằm mục đích lật đổ chính quyền nhân dân… Tôi nhận thức những việc làm nói trên đã vi phạm Điều 79 Bộ Luật Hình sự… Tôi mong các cơ quan pháp luật xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để cho tôi được hưởng sự khoan hồng”. Theo khai báo và thú nhận của họ sau khi bị bắt giam, mọi hoạt động chống phá, bôi nhọ chế độ đều được bọn phản động lưu vong ở nước ngoài chi tiền, trả “lương” hàng tháng. Rõ ràng, hoạt động chống phá của họ đâu có phải vì nước, vì dân!

Và đây một gương mặt được tung hô là “Biểu tượng của lòng yêu nước” Bùi Minh Hằng: thực chất là con người như thế nào? Sau khi đọc xong những thông tin dưới đây, câu hỏi trên sẽ được trả lời. Theo “trích ngang”, Hằng đã từng có tiền án, tiền sự, cụ thể: Năm 1993: Vi phạm chế độ hôn nhân 1 vợ, 1 chồng, TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 9 tháng tù treo, 12 tháng thử thách. Ngày 29/11/1996, CA tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu khởi tố vụ án HS về tội cưỡng đoạt tài sản, ngày 19/3/1997 xử phạt hành chính Bùi Thị Minh Hằng 400.000 đồng về hành vi cưỡng đoạt tài sản, đến 29/3/1997, đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Những hành vi dẫn đến việc Bùi Thị Minh Hằng được đưa đi cơ sở giáo dục cũng rõ ràng: Năm 2011 đã 3 lần bị tạm giam vì hành vi gây rối trật tự công cộng. Cụ thể, ngày 2/8/2011 Bùi Thị Minh Hằng có mặt tại phiên tòa xét xử phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ, với vai trò kích động một số người có mặt tại phiên tòa gây mất trật tự công cộng; mặc dù đã được nhắc nhở nhiều lần nhưng vẫn cố tình vi phạm. Các lực lượng làm nhiệm vụ đưa Hằng về trụ sở công an quận Hoàn Kiếm để lập biên bản, ghi lời khai, ra quyết định xử phạt hành chính với hình thức cảnh cáo về hành vi gây rối trật tự ở nơi công cộng đối với Bùi Thị Minh Hằng.

Nguyễn Đan Quế, thường trú tại phường 3, quận 5, TPHCM. Từ sau 30-4-1975 đến nay, Nguyễn Đan Quế tham gia các tổ chức nhen nhóm phản động ở trong, ngoài nước hoạt động chống chính quyền cách mạng ở TPHCM. Quế đã bị bắt giam nhiều lần vào năm 1978, 1990, 2003 và bị kết án hàng chục năm tù tội chống, lật đổ chính quyền nhân dân. Lần gần đây, ngày 27-2-2011, Quế bị cơ quan an ninh điều tra, Công an TPHCM bắt quả tang khi đang lưu giữ, phát tán 60.000 đầu tài liệu kích động, lật đổ. Nguyễn Đan Quế thừa nhận và cũng đã ký xác nhận tài liệu do y soạn thảo ngày 24-2-2011, đã tán phát cho đối tượng phản động trong và ngoài nước nhằm “biểu tình lật đổ chế độ”… Hoạt động chống đối chính quyền của Nguyễn Đan Quế đều theo “kịch bản”, có sự tiếp tiền, hậu thuẫn của các thế lực ngoại bang, bọn phản động trong, ngoài nước.

Nguyễn Công Chính là một mục sư “nổi tiếng” ở Plây-cu, Gia Lai với “thành tích” đánh trọng thương bố đẻ, đốt sách vở học sinh và tội cưỡng dâm, lừa đảo. Nực cười thay, Chính lại được bọn phản động người Việt lưu vong ở Mỹ tặng “giải thưởng nhân quyền”.

Thích Không Tánh, tên thật là Phan Ngọc Ấn, sinh năm 1943, nguyên quán xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, đăng ký nhân khẩu thường trú tại chùa Liên Trì, số 153 đường Lương Định Của, quận 2, TPHCM. Là thuộc hạ của Thích Quảng Độ trong suốt thời gian dài, Thích Không Tánh đã liên tục được cất nhắc vào các vị trí trọng yếu trong cái gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất (GHPGVNTN), một tổ chức tôn giáo không được thừa nhận ở nước ta.Thích Không Tánh đã trở thành tay sai đắc lực của Thích Quảng Độ thực hiện những âm mưu, kế hoạch nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước. Thích Không Tánh có một lai lịch bất hảo, đảm nhiệm công tác liên lạc, tổ chức các hoạt động nhằm khuếch trương thanh thế của GHPGVNTN và làm cầu nối thông tin với các tổ chức Phật giáo Việt Nam lưu vong.Mặc dù là tu sĩ, miệng vẫn niệm nam mô và tay vẫn lần tràng hạt, nhưng Thích Không Tánh lại rất hăng hái tham gia các hoạt động tổn hại đến lợi ích của dân tộc, trái với đạo pháp do Thích Quảng Độ và các thế lực phản động trong và ngoài nước tổ chức. Với cương vị phụ trách các hoạt động xã hội của cái gọi là Viện Hóa đạo, Thích Không Tánh còn được giao nhiệm vụ tiếp xúc, liên lạc với các thế lực phản động lưu vong, đặc biệt là với Võ Văn Ái (giám đốc cái gọi là Phòng thông tin Phật giáo quốc tế tại Pháp).Từ năm 1978 đến 1986, Thích Không Tánh đã bị tập trung cải tạo, do hăng hái tham gia các hoạt động của những phần tử đội lốt tu hành chống phá Nhà nước và vi phạm pháp luật. Đến năm 1987, Thích Không Tánh được trả tự do và thường trú tại chùa Liên Trì (TPHCM). Nhưng cũng giống như Thích Quảng Độ, Thích Không Tánh vẫn chứng nào tật ấy, lại tiếp tục tiến hành các hoạt động chống phá Nhà nước dưới sự chỉ đạo của Thích Quảng Độ và sự tiếp tay của các thế lực phản động lưu vong. Ngày 2-10-1992, Thích Không Tánh bị các lực lượng chức năng bắt quả tang khi đang lưu hành nhiều tài liệu có nội dung chống lại Nhà nước và bị án phạt 5 năm tù giam và quản chế 5 năm sau khi mãn hạn tù.

Trên đây là sơ lược một số “Hảo Hán” có số má trong cái gọi là “Hội cựu tù nhân lương tâm”!? Họ tìm mọi cách bóp méo, suy diễn, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam bất chấp lẽ phải,cường điệu hóa một vài vụ việc liên quan đến pháp luật từ đó họ hồ đồ kết luận là: đó là “Bản chất” của chế độ. Không những thế họ còn mạnh miệng bôi nhọ quá khứ cách mạng một cách vô liêm xỉ, chà đạp lên giá trị truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc làm tổn thương đến tình cảm thiêng liêng mà Đảng và nhân dân Việt Nam dành cho các anh hùng liệt sĩ đã vì nước hy sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc. Họ đưa ra những câu hỏi lấp lửng như “có cần thiết hay không khi Đảng phát động toàn dân trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân pháp và đế quốc Mỹ “? hay “Nếu không có Đảng CSVN thì dân tộc này đã ở một vị thế khác…” !?..v v…kích động một số người từng tham gia hoạt động cách mạng trước đây có tâm trạng bất mãn vì trước đây khi còn đang làm việc vì có một số vấn đề mà không được “Thỏa mãn” vì cái “tôi” của họ nay đã hạ cánh thì “Trở cờ” hòng thực hiện ý đồ “trong biến thì phất cờ”, Họ nhắm vào điểm cốt yếu đó là :chia rẽ tôn giáo, dân tộc, chia rẽ các vùng, mien trên đất nước với âm mưu thâm hiểm hòng phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hướng tới mục đích cuối cùng là làm suy yếu Đảng, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, thực hiện đa nguyên, đa đảng, lập các đảng phái nhằm đưa đất nước đi theo con đường khác mà theo lý luận của họ là sẽ “Dân chủ hơn, sáng sủa hơn” !? Gần đây nhất, họ tìm mọi cách phủ nhận những thành tựu to lớn của nhân dân, dân tộc ta qua gần 30 năm đổi mới, xuyên tạc, bóp méo, bôi đen bức tranh xã hội, hòng gây tâm lý hoang mang, mất niềm tin trong nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ. Họ đặt ra những điều kỳ quặc như: “Có bao giờ nhân dân Việt Nam lại sống trong cảnh tủi nhục, đau thương như hiện nay không?”. “Có bao giờ dân tộc Việt Nam lại bị chia rẽ, nghi kỵ nhau, hận thù nhau sau những năm tháng cai trị của một chế độ như bây giờ không”? Từ đó, họ đưa ra những điều xuyên tạc, vu cáo trắng trợn: “Hơn nửa thế kỷ áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên đất nước ta, Đảng Cộng sản đã thực hiện chính sách cai trị bằng thủ đoạn và bạo lực. Nhân dân chỉ được phép cúi đầu sợ hãi và sống trong mòn mỏi, tuyệt vọng”!? Họ nhắm mắt nói bừa rằng, tất cả những quyền thiêng liêng của dân tộc được nói trong “Tuyên ngôn độc lập” “đều bị chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền cộng sản được dựng lên”!?

Luật quốc tế về quyền con người cũng như pháp luật của các quốc gia đều quy định: Quyền của cá nhân có thể bị hạn chế. Điều 29 của “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người” năm 1948 viết: “Mỗi người trong khi hưởng thụ các quyền và tự do cá nhân, chỉ phải chịu hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với quyền và tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ“. Tương tự như vậy, Điều 19 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 cũng quy định: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận“ kèm theo những nghĩa vụ, trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe, hoặc đạo đức của công chúng“.

Việc Nhà nước Việt Nam đưa ra quyền tự do ngôn luận, mà Hiến pháp 1992 ghi là “theo quy định của pháp luật“, cùng với những quy định về hạn chế quyền này (Điều 88, Điều 258 Bộ luật Hình sự năm 1999) là hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế. Tất nhiên ở các quốc gia, pháp luật khó có thể ghi đầy đủ mọi hành vi phạm tội. Pháp luật Việt Nam cũng như thế. Ở nhiều nước, tòa án có quyền đưa ra những phán quyết không hẳn đã có trong luật mà chỉ có trong những bản án từ trước, được gọi là án lệ. Thế nên, không phải là không có cơ sở pháp lý nào đó mà Hoa Kỳ và nhiều quốc gia châu Âu đã truy nã chủ nhân trang mạng Wikileaks, cũng như nhiều quốc gia Hồi giáo đã kết tội những người xúc phạm đến nhà tiên tri Mohamet.Trong thực tiễn pháp lý, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia đã đưa những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc vào pháp luật. Ở nhiều quốc gia, theo thể chế quân chủ như Vương quốc Anh, Thụy Điển, Thái Lan… có những quy định pháp luật bảo vệ một số đặc quyền đối với Hoàng gia, trong đó có việc bảo vệ uy tín của nhà vua. Hiến pháp Việt Nam đã đưa giá trị đạo đức truyền thống dân tộc vào Hiến pháp 1992: “Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ” (Điều 64). Pháp luật Việt Nam không có những quy định về đặc quyền cho cá nhân, tổ chức.

Một số cơ quan, tổ chức nước ngoài và blogger cố tình xuyên tạc Nhà nước Việt Nam đã “tiếp tục sử dụng các điều luật về an ninh quốc gia để hạn chế các quyền dân sự, chính trị, quyền tự do ngôn luận, tự do sử dụng internet“!? Trước tình hình như vậy, các “nhà dân chủ” lại cố tình coi đó là “bất đồng chính kiến”, là sự phân hóa, chia rẽ xã hội… Điều đó không phải thiện tâm mà là sự ngộ nhận và là dã tâm mang nặng tư tưởng thù địch. Một sự thực hiển nhiên, rằng: trong xã hội ta chưa bao giờ dân chủ lại phát huy cao độ đến như vậy. Và, đó chính là sức sống, sức mạnh của nền dân chủ và chế độ XHCN mà Đảng và nhân dân ta đang ra sức xây dựng và bảo vệ. Bởi, có chế độ dân chủ, có tấm lòng trong sáng, yêu thương, người dân mới nói những điều tâm huyết, thẳng thắn, xây dựng chế độ dân chủ XHCN ngày càng hoàn thiện. Các “nhà dân chủ” ngộ nhận rằng, Việt Nam đi theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, theo con đường XHCN là “con đường chết”. Theo đó, vấn đề “tìm đường cứu nước” lại phải đặt ra. Việc đó giờ đây do chính những “nhà dân chủ mới” đang tiến hành, và đây là cơ hội để họ làm cuộc “cách mạng dân chủ mới” theo mô hình tự do, dân chủ phương Tây.Những kẻ phạm pháp lập ra cái gọi là “Cựu tù nhân lương tâm là những kẻ có những hành vi có hại cho đất nước, cho nền độc lập tự do của đất nước, cho chủ quyền thì đương nhiên họ ta phải bị pháp luật nghiêm trị, xử lý. Không phải riêng gì họ mà bất cứ ai có những hành vi có hại cho đất nước, cho nền độc lập tự do của đất nước, cho chủ quyền đều phải bị nghiêm trị. Đó là điều chính đáng. Đây không phải là vấn đề tự do ngôn luận. Cũng không phải chúng ta hạn chế ý kiến của người dân phát biểu đối với các vấn đề của đất nước. Nhưng việc phát biểu ý kiến phải trong phạm vi quyền công dân. Còn một khi đã vi phạm về luật pháp thì phải bị xử lý theo luật pháp.Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tạo điều kiện cho mọi người dân được thể hiện quyền dân chủ của mình qua việc tham gia những ý kiến đóng góp về kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật, dân sinh… tại các diễn đàn công khai. Nhà nước rất cần và rất khuyến khích sự đóng góp của tất cả người dân trong mọi mặt phát triển của đất nước.Vấn đề dân chủ theo tôi phải gắn với trách nhiệm của công dân. Mọi ý kiến của người dân góp ý về một vấn đề gì của đất nước, của cộng đồng phải xuất phát từ toàn cục và mang tính xây dựng. Muốn có dân chủ, phải có trình độ dân trí và điều kiện tiếp cận thông tin để có suy nghĩ đúng về tình hình thực tế của đất nước. Không có trình độ, không có thông tin thì không thể nhìn một cách đầy đủ được. Những ý kiến đóng góp này dù có thẳng thắn, gay gắt, trái ngược cũng đều được Đảng và Nhà nước tiếp thu một cách trân trọng và coi đây là tấm lòng đáng quý đóng góp xây dựng đất nước phát triển. Việt Nam hiện nay tuy còn nhiều khó khăn, nhưng là đất nước ổn định, bình yên, cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện. Ngay cả khi cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế đang diễn biến phức tạp, tác động mạnh đến nền kinh tế, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ, Việt Nam vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng và phấn đấu tăng. Đất nước Việt Nam có được như ngày hôm nay, rõ ràng là nhờ sự lãnh đạo của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện, nhờ sự hy sinh, nỗ lực của nhiều thế hệ người Việt Nam yêu nước. Đó là lý do, đông đảo nhân dân Việt Nam kiên quyết không để cho những phần tử “Cựu tù nhân lương tâm” tiến hành một lần nữa những hoạt động sai trái, lật đổ Nhà nước XHCN Việt Nam – Nhà nước của dân, do dân và vì dân./.

Hoa Kỳ 22-2-2014
Amari Tx

Categories: Diễn biến hòa bình | Tags:

Bộ Mặt Thật Của Các Nhà Dân Chủ

Một số phần tử cơ hội, bất mãn cá nhân, thành phần “trở cờ” trong đó có cả những người nhẹ dạ ở trong nước và tổ chức cực đoan nước ngoài đang lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá Đảng, Nhà nước CHXHCNVN.

Chiêu bài đó được một số tổ chức không có thiện chí với Việt Nam, các cơ quan truyền thông việt ngữ ở nước ngoài bơm, thổi phụ họa. Đây là việc làm sai trái cần đấu tranh, phê phán và vạch mặt kịp thời để mọi người thấy được bộ mặt thật của họ, nhằm góp phần bảo vệ sự ổn định của Đất nước xây dựng Tổ quốc dân chủ và phồn vinh.

Internet- Tốc độ phát triển “thần kỳ” ở Việt Nam

Gần đây, một số người đã có những bài viết có nội dung xuyên tạc, kích động, thóa mạ những thành tựu mà toàn thể dân tộc Việt Nam đã đạt được kể từ khi công cuộc đổi mới được tiến hành. Vậy họ là ai? Đó là một số người có quan điểm chính trị cơ hội một cách rõ ràng, có hiểu biết, có một thời gian nắm một số vị trí trong hệ thống chính trị, họ có tham vọng chính trị lớn, trong đó có cả những người có chức sắc tôn giáo, một số người bất mãn, một số người có nhận thức mơ hồ, không phân biệt được phải trái, đúng sai, bị kích động, lôi kéo, ngày càng lún sâu vào con đường lầm lạc.Thông qua Internet, các blogger, họ đã cấu kết với nhau phát tán trên các mạng truyền thông việt ngữ ở nước ngoài như VOA- RFA-RFI- BBC, tuyên truyền, xuyên tạc, nói xấu Đảng và Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, vu cáo, bôi đen chế độ ở Việt Nam.

Nhìn vào các bài viết của họ ta có thể thấy rằng ,nói chung, mục tiêu chủ yếu của họ vẫn là những hoạt động nhằm phủ định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tấn công trực diện vào Cương lĩnh, đường lối đổi mới trong xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng CSVN đang lãnh đạo toàn diện. Họ tìm mọi cách bóp méo, suy diễn, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam bất chấp lẽ phải,cường điệu hóa một vài vụ việc liên quan đến pháp luật từ đó họ hồ đồ kết luận là: đó là “Bản chất” của chế độ. Không những thế họ còn mạnh miệng bôi nhọ quá khứ cách mạng một cách vô liêm xỉ, chà đạp lên giá trị truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc làm tổn thương đến tình cảm thiêng liêng mà Đảng và nhân dân Việt Nam dành cho các anh hùng liệt sĩ đã vì nước hy sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc. Họ đưa ra những câu hỏi lấp lửng như “có cần thiết hay không khi Đảng phát động toàn dân trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân pháp và đế quốc Mỹ”? hay “Nếu không có Đảng CSVN thì dân tộc này đã ở một vị thế khác…” !?..vv… xuyên tạc lịch sử, hòng chia rẽ Đảng với Nhà nước; cô lập, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, kích động một số thành phần mà họ cho là “Nhạy cảm” dễ thâm nhập nhất đó là: trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên, học sinh, kích động một số người từng tham gia hoạt động cách mạng trước đây có tâm trạng bất mãn vì trước khi còn đang làm việc đã có một số vấn đề mà không được “Thỏa mãn” cái “tôi” của họ nay đã hạ cánh thì “Trở cờ” hòng thực hiện ý đồ “trong biến thì phất cờ”. Họ nhắm vào điểm cốt yếu đó là: chia rẽ tôn giáo, dân tộc, chia rẽ các vùng, miền trên đất nước với âm mưu thâm hiểm hòng phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hướng tới mục đích cuối cùng là làm suy yếu Đảng, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, thực hiện đa nguyên, đa đảng, lập các đảng phái nhằm đưa đất nước đi theo con đường khác mà theo lý luận của họ là sẽ “Dân chủ hơn, sáng sủa hơn” !? Gần đây nhất, họ tìm mọi cách phủ nhận những thành tựu to lớn của nhân dân, dân tộc ta qua gần 30 năm đổi mới, xuyên tạc, bóp méo, bôi đen bức tranh xã hội, hòng gây tâm lý hoang mang, mất niềm tin trong nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ. Họ đặt ra những điều kỳ quặc như: “Có bao giờ nhân dân Việt Nam lại sống trong cảnh tủi nhục, đau thương như hiện nay không?”. “Có bao giờ dân tộc Việt Nam lại bị chia rẽ, nghi kỵ nhau, hận thù nhau sau những năm tháng cai trị của một chế độ như bây giờ không”? Từ đó, họ đưa ra những điều xuyên tạc, vu cáo trắng trợn: “Hơn nửa thế kỷ áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên đất nước ta, Đảng Cộng sản đã thực hiện chính sách cai trị bằng thủ đoạn và bạo lực. Nhân dân chỉ được phép cúi đầu sợ hãi và sống trong mòn mỏi, tuyệt vọng”. Họ nhắm mắt nói bừa rằng, tất cả những quyền thiêng liêng của dân tộc được nói trong “Tuyên ngôn độc lập” “đều bị chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền cộng sản được dựng lên!”

Họ đã lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để nhen nhóm tổ chức ra những đảng phái; thảo ra những “điều lệ”, “tuyên ngôn”, “cương lĩnh” và đề ra những hình thức, phương pháp hoạt động, hòng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chống phá Nhà nước, chế độ, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đó chính là bộ mặt thật của cái gọi là “những tổ chức đấu tranh đòi dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam” và đó cũng chính là những hành động vi phạm pháp luật. Việc xét xử nghiêm minh những người vi phạm pháp luật là việc làm bình thường, theo đúng quy định của pháp luật Nhà nước Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế. Một số thế lực ở nước ngoài tìm cách tiếp tay, kích động những phần tử chống phá Nhà nước và chế độ. Khi các phần tử này bị xử lý theo pháp luật thì họ kêu la, hò hét rằng, Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, vi phạm tự do tín ngưỡng, đàn áp tôn giáo, đàn áp những người bất đồng chính kiến. Đó là sự xuyên tạc thô bạo, đổi trắng thay đen nhằm che giấu những âm mưu đen tối của họ.

Để đạt mục tiêu đó, họ thực hiện sự kết hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nước, nhưng hướng chính là khơi dậy từ bên trong, tiến tới xây dựng lực lượng chống đối từ trong nước, tạo dựng “Ngọn cờ”, nhân vật “Nòng cốt”, chờ thời cơ để thành lập các tổ chức đối lập với Đảng Cộng sản. Phụ họa theo các nhà “Dân chủ, nhân quyền” có các tổ chức gọi là “Theo dõi nhân quyền” thường sản xuất ra những cái gọi là: “Nghị quyết”, “Báo cáo” về tình hình tự do, nhân quyền trên thế giới trong đó có Việt Nam, họ đòi áp đặt cho Việt Nam những khái niệm về “Tự do, dân chủ” theo kiểu của họ, bất chấp tính đặc thù của quốc gia đó. Mỗi dịp như vậy các nhà “Dân chủ” trong nước được dịp thể hiện cái gọi là “Bức xúc” trước “Thảm trạng” về tự do, dân chủ, nhân quyền trong nước. Một loạt các đối tượng đưa ra xét xử như: Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê công Định, Lê Thăng Long, Cù Huy Hà Vũ, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Tạ Phong Trần, Nguyễn Văn Hải, Lê Quốc Quân, Nguyễn Phương Uyên…. những người vi phạm đó chỉ vì một chút định kiến, động cơ cá nhân không trong sang đưa ra những thông tin méo mó, bôi đen sự thật về xã hội Việt Nam, họ liên hệ với những tổ chức, phần tử người việt chống cộng cực đoan ở hải ngoại chống đối nhà nước Việt Nam, đòi lật đổ chế độ hiện hành. Nhiều vị luật sư bào chữa cho các bị cáo nói rằng: Những người này không phạm luật vì họ đã sử dung quyền tự do ngôn luận của mình !? vậy có phải đây là một lập luận đúng? Xin thưa rằng: đó là điều hoàn toàn sai lầm, thực ra ở đây họ đánh tráo khái niệm này. Vấn đề là ở chỗ, trong luật quốc gia và luật quốc tế thì quyền tự do ngôn luận (Và nhiều quyền khác) không phải là quyền “tuyệt đối” như các vị biện minh, ngụy biện cho hành vi phạm pháp của mình mà là những quyền có giới hạn, nói một cách khác là quyền bị hạn chế. Trong công ước Quốc tế về quyền con người, tại khoản 3 điều 19 quy định: “Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định. Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác. Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”. Như vậy là việc các bị cáo dựa vào luật quốc tế về quyền con người để biện hộ cho mình là sai, họ đã phớt lờ về khoản 3 điều 19 liên quan đến tội lợi dụng quyền tự do ngôn luận của các bị cáo thì điều 88 bộ luật hình sự 1999 quy định: “Tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN:

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến 12 năm:

a. Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân…

c. Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm”..

Việc các bị cáo và luật sư bào chữa cho rằng không có bằng chứng về hậu quả của hành vị phạm tội của các bị cáo là không có cơ sở pháp lý. Tội “tuyên truyền” vốn là tội phạm mang tính chất “bất bạo động” theo cách nói của mấy nhà “luật học mạng”, blogger. Các vị đòi hỏi phải có bằng chứng về hậu quả của những tội phạm này gây ra ư? chẳng lẽ nhà nước Việt Nam phải ngồi chờ đến khi nào luồng gió sặc “Mùi hoa” như việc đã xảy ra ở Trung đông, bắc phi thì mới có cái gọi là “bằng chứng” như các vị yêu cầu? Xin thưa hậu quả việc phạm tội của các bị cáo đó là: bạo loạn, lật đổ chính quyền, nội chiến, là sự can thiệp của nước ngoài.vv… Trên thế giới không có một quốc gia nào quy định chứng cứ về hậu quả xã hội của loại tội phạm này. Ngay tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia phương Tây đòi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông chủ mạng WikiLeaks cũng chỉ cho rằng với những thông tin của mạng này “có thể” gây nguy hiểm cho quân đội Hoa Kỳ. Như vậy là với chứng cứ mà các bị cáo khai nhận tại tòa “Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài lieu có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” đã đủ cấu thành tội phạm và chiếu theo luật hiện hành, thì mức án mà các bị cáo này phải nhận là đúng người, đúng tội, điều này không thể chối cãi được. Xã hội chính trị lành mạnh luôn hướng dẫn, khích lệ, cổ vũ những động lực đúng đắn của mỗi cá nhân, khi cá nhân đó hành động với động cơ phù hợp với ợi ích chung của cộng đồng thì khi ấy xung đột xã hội sẽ giảm thiểu, tạo ra sự hài hòa, đồng thuận cùng tồn tại và phát triển, ngược lại những cá nhân đi ngược lại dòng phát triển chung sẽ bắt buộc xá định lại nhu cầu của mình nếu không sẽ bị đào thải và bị pháp luật trừng phạt, quyền tự do bị tước đoạt. Thực tế cho chúng ta thấy rằng: không tránh khỏi có những ý kiến khác nhau trong các tầng lớp trong xã hội và khác với quan điểm, đường lối của Đảng. Đó cũng là lẽ bình thường không có điều gì “Ghê gớm” vì như chúng ta đã biết nhận thức là một quá trình, chân lý cũng là một quá trình. Do nhiều yếu tố tác động nên không tránh khỏi có những ý kiến, cách tiếp cận khác với đường lối, quan điểm của Đảng. Nhưng phải là những ý kiến đóng góp chân thành chứ không phải là quan điểm chống lạị.

Và một thực tế không thể phủ nhận được đó là: Từ một nước thuộc địa, dân bị nô lệ, chúng ta đã giành được cái nhân quyền lớn nhất là quyền tự quyết định vận mệnh của mình. Từ một nước nghèo, lạc hậu, chúng ta đã phấn đấu xóa đói, giảm nghèo, nâng trình độ phát triển kinh tế lên ngày một khá hơn. Từ một nước có mặt bằng dân trí thấp, Việt Nam đã là một quốc gia có trình độ văn hóa phổ thông cao hơn mức trung bình của thế giới và là quốc gia đạt chỉ số phát triển con người (HDI) vào hàng cao so với nhiều quốc gia khác.Đời sống nhân dân trong nước được cải thiện rõ rệt, quốc phòng, an ninh được giữ vững, xã hội ổn định, vị thế Việt Nam không ngừng được nâng cao, là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với các nước trong đó có cả cường quốc trước đây là “Cựu thù”. Rõ ràng, sức mạnh tổng hợp của đất nước đã tăng lên nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục phát triển đi lên với triển vọng tốt đẹp.

Việt Nam giờ đây là địa chỉ tin cậy cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài, báo chí quốc tế đã phản ánh nhiều điều “mắt thấy tai nghe” của du khách quốc tế viếng thăm đất nước sôi động và trẻ trung sau khi tới Việt Nam hòa mình vào cuộc sống của mọi tầng lớp nhân dân ở nhiều góc cạnh. Việt Nam ngày nay chứng tỏ là một quốc gia thiên đường cho du khách quốc tế. Sẽ là hết sức sai lầm nếu ai còn tin vào những điều ma muội của những kẻ luôn gắn hình ảnh Việt Nam với chiến tranh và sự nghèo đói, mất tự do, dân chủ và bị “kềm kẹp” dưới chế độ “Cai trị của Đảng CS”. Ngược lại, có đến mới biết Việt Nam xinh đẹp và thân thiện và người dân luôn được pháp luật bảo hộ quyền công dân một cách đầy đủ và mang tính nhân văn nhất. Chuyến thăm Việt Nam của ngoại trưởng Mỹ Ông John Kerry ngày 14-12-2013 đã nói lên điều kỳ diệu này “Không ai không ngạc nhiên khi thấy VN hiện đại đã thay đổi thế nào chỉ trong 20 năm. Thật đáng kinh ngạc” – ông nói và nhấn mạnh “đây không phải ngẫu nhiên, mà có sự cam kết và tầm nhìn của rất nhiều người” Ông dẫn chứng: “Kim ngạch thương mại song phương của chúng ta đã tăng 50 lần kể từ năm 1995 lên 25 tỉ USD/năm. Chúng ta sắp đạt mục tiêu tăng gấp đôi xuất khẩu của Mỹ sang VN như tuyên bố của Tổng thống Obama năm năm trước”. Đất nước từng bị cô lập vì cấm vận cách đây hơn 20 năm giờ “có thể là một trong những đối tác kinh tế hàng đầu của Mỹ tại khu vực và chúng ta sẽ cố để thực hiện điều đó”. Còn ông Fred Burke, giám đốc điều hành của Hãng luật Baker McKenzie và là người từng ở VN gần 20 năm, thừa nhận những gì ngoại trưởng Mỹ nói. “Những gì ông nói hoàn toàn đúng những gì tôi đã trải qua. Giờ rất nhiều thứ chúng ta xem nhẹ khi nghĩ lại VN đã thay đổi thế nào, từ điện thoại di động cho đến chất lượng cuộc sống” – ông Burke nói. Theo ông, VN giờ đây là “một cơ hội” cho người Mỹ khi rất nhiều người trẻ muốn sang VN để làm các lĩnh vực như công nghệ thông tin hay kinh doanh. Những ai vẫn tồn tại quan điểm bôi nhọ, xuyên tạc, vu khống hãy suy nghĩ lạị, chỉ một dẫn chứng nhỏ về việc này đó là: hằng năm số lượng người Việt Nam sống xa Tổ quốc về thăm đất nước luôn luôn tăng, số lượng người nước ngoài đến Việt Nam tham quan, du lịch và ký kết hợp tác làm ăn cũng ngày càng nhiều, không ít người đến hẳn Việt Nam sinh sống và làm việc. Điều đó chứng tỏ những gì mà các nhà “Dân chủ” kêu gào chỉ là điều nực cười mà thôi.

Viết tại Dallas Dec-14-2013
Amari TX

Categories: Diễn biến hòa bình | Tags:

Vạch trần bộ mặt phản động của “Diễn đàn xã hội dân sự”

Có thể gọi Diễn đàn xã hội dân sự là quái thai ra đời lúc canh khuya thu vắng không ngoa bởi sự ra đời của nó có nguồn cơn

Kỳ1: Quái thai ra đời lúc canh khuya thu vắng

NVM Blog – Thời gian gần đây, trên internet xuất hiện những trang blog, face book có chung cái tên, cái đuôi là “diễn đàn xã hội dân sự”. Với tên gọi đậm màu sắc dân chủ, hợp với một trào lưu cải lương trên thế giới, bằng những trò ảo thuật chính trị của một nhóm người mang danh nhân sĩ, trí thức, giáo sư, tiến sĩ, cái gọi là diễn đàn xã hội dân sự này như một thứ nấm độc đang tìm cách len lỏi chui vào nhiều ngóc ngách của đời sống. Không chỉ phát tán trên mạng, họ còn cho phô tô coppy, gửi đến cả các cụ hưu trí không dùng “anh-tẹc-nét” để dụ khị, lôi kéo, phục vụ cho những động cơ đen tối. Nhằm giúp những người quan tâm có thể nhận diện, nhìn rõ bộ mặt phản động của DIỄN ĐÀN XÃ HỘI DÂN SỰ, bắt đầu từ hôm nay, NVM Blog mở loạt bài vạch rõ chân tướng loài nấm độc thông tin nguy hiểm này…

Có thể gọi Diễn đàn xã hội dân sự là quái thai ra đời lúc canh khuya thu vắng không ngoa bởi sự ra đời của nó có nguồn cơn như sau…

Gán ghép “quá khứ đỏ” cho một “tuyên bố đen”

0 giờ sáng ngày 23/9/2013, giữa lúc mọi người đang chìm trong giấc ngủ giữa tiết thu yên bình thì trên internet, với một âm mưu ấp ủ bởi những bàn ay đen ngòm, tại các trang mạng có nội dung xấu độc, phản động như Bô-shit (Bauxite), Xuân Diện, Ba Sàm, Châu Xuân Nguyễn…đồng loạt tung ra cái gọi là“Tuyên bố về thực thi quyền dân sự và chính trị” (TBTTQDSCT) và “Diễn đàn xã hội dân sự”…Cùng thời điểm này, một số trang mạng cùng mang tên “Diễn đàn xã hội dân sự” được xuất hiện trên các công cụ khác nhau của internet.

Động thái này với cộng đồng internet chẳng có gì đáng chú ý nhiều bởi nó không khác hòn đá ném ao bèo là mấy. Cộng đồng mạng từ lâu đã “quách tỉnh” với trò hò hét của mấy anh rận chủ. Vài ngày lại đưa ra một tuyên bố, mấy bữa lại quẳng một tuyên ngôn, nửa tháng lại tạo một xì-căng-đan. Nó “bình thường như cân đường hộp sữa” đến mức anh tiến sĩ luật gia họ Cù béo mập có tuyệt thực đến 1 tháng dư luận cũng thừa biết là giả vờ hay chị Phương Uyên có la làng bị công an sờ ngực cũng chẳng ai tin. Cho nên, có “thêm vài trang mạng”, “dăm bảy cái diễn đàn” cũng chẳng mấy ai bận tâm.

Tuy nhiên, với các nhà dân chủ thì đây vẫn là một sự kiện đáng chú ý, gắn với một nước cờ thâm độc. Ngay sáng hôm sau, Báo Bồn Cầu (BBC) đã có bài tán dương và để cho các nhà dân chủ đứng sau phong trào này lên tiếng. Qua đó, lộ rõ ý đồ của họ. Tờ báo này cho biết, nhóm khởi xướng Diễn đàn Xã hội Dân sự vẫn là những trí thức “phản biện độc lập và quen thuộc” như Nguyễn Quang A, Chu Hảo, Lê Đăng Doanh ở Hà Nội và Tương Lai ở Sài Gòn. Họ đã lố bịch coi thời điểm ra đời diễn đàn là sơn hà “nguy hiến” và chọn thời điẻm Diễn đàn ra đời sau khi “Tuyên bố về thực thi quyền dân sự và chính trị” được phổ biến vào đúng ngày “Mùa thu rồi, ngày hăm ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến…” vang vọng thúc giục vào tháng 9 năm 1945. Và với một sự so sánh đầy khập khiễng đến mức không biết xấu hổ, họ lếu láo gọi bản tuyên bố này bằng một cái tên khác “tuyên bố 23-9”.

Nhưng khác với những lần tuyên bố trước, cái gọi là DIỄN ĐÀN XÃ HỘI DÂN SỰ có vẻ hoạt động khá tinh vi. Điều đầu tiên có thể thấy là ở ngay nội hàm tên gọi đã cho thấy nó có vẻ như không phải là một hội, một nhóm nào cụ thể, càng không phải là một đảng phái vô thừa nhận. Với tên gọi này, có vẻ như nhóm sáng lập hi vọng sẽ tập hợp được một lực lượng đông đảo mà họ cho là “nững tiếng nói đó của các tổ chức và nhóm như Hội đồng Giám mục, nhóm các chức sắc tôn giáo, nhóm công dân tự do, nhóm Tuyên bố 258, câu lạc bộ NoU, v.v., hoặc của nhiều cá nhân ở trong và ngoài nước mang tinh thần yêu nước và khát vọng dân chủ…”. Với kiểu lập lờ “một mũi tên trúng hai con chim” này, diễn đàn vừa có vẻ như không bị hạn chế bởi phạm vi hoạt động lại vừa không bị chế tài bởi các quy định về lập hội tại Sắc lệnh số 102/SL/L004 ngày 20 tháng 5 năm 1957,Bộ Luật Dân sự 2005; Luật Tổ chức Chính phủ, Nghị định số 45/2010 của Chính phủ…Nó cũng có vẻ như có thể “mũi né” được Nghị định 72/2013 của Chính phủ về quản lý thông tin điện tử mới vừa ban hành chưa ráo mực, khi mà chủ thể điều hành diễn đàn dường như không thuộc về một cá nhân cụ thể mà tùm lum, ba la…

Tuy nhiên, họ đã lầm, tất cả những chiêu thức thủ đoạn tinh vi đó không qua mắt được các nhà quản lý cũng như quần chúng chân chính (điều này chúng tôi sẽ phân tích cụ thể ở các bài viết sau).

Dẫu vậy, những kẻ đứng sau giật dây với thói quen ngông cuồng và ảo tưởng, ngỡ bàn tay che nổi mặt trời vẫn vô hình trung bộc lộ bộ mặt phản động bằng những phát ngôn và dấu vết thông tin để lại.

Chủ xị Nguyễn Quang A – từ đứng đầu đến “đội sổ”

Ông tiến sĩ tin học Nguyễn Quang A, cũng giống như các lần trước, lại lộ diện là một trong những người “chủ chòm” của cái gọi là Diễn đàn xã hội dân sự. Ông ta kêu gọi: “Tất cả mọi người không phân biệt về chính trị, thuộc nhiều đảng phái chính trị khác nhau, thuộc nhiều chính kiến khác nhau đều được hoan nghênh cả miễn là thống nhất ở điểm dân chủ hóa,” Ông A cũng hồ đồ khi kêu gọI cả các đảng viên Đảng Cộng sản tham gia diễn đàn và tỏ ra rất huênh hoang tuyên bố: “cảnh báo chính quyền là ‘sự trấn áp sẽ không mang lại kết quả gì”. Một điều khác biệt so với bản tuyên bố 72, tại bản Tuyên bố 23-9, ông tiến sĩ Nguyễn Quang A không đứng ở vị trí số 1 mà chuyển xuống vị trí 130, đội sổ cuối cùng trong danh sách 130 nhân sĩ trí thức đầu tiên ký tên vào bản tuyên bố.

Nhưng với cơ cấu tổ chức bao gồm:

NHÓM CỐ VẤN

1- Nguyễn Đình Đầu (nhà nghiên cứu, TPHCM); 2- Lê Hiếu Đằng (luật gia, TPHCM); 3- Hà Sĩ Phu (TS Nguyễn Xuân Tụ, Đà Lạt); 4- Nguyên Ngọc (nhà văn, Hội An); 5- Nguyễn Huệ Chi (Gs, Hà Nội); 6- Chu Hảo (Gs, Hà Nội); 7- Nguyễn Quang A (Hà Nội); 8- Đinh Xuân Quân (Ts, Hoa Kỳ, Afganistan)

NHÓM TRỊ SỰ

Nguyễn Quang A cùng một số thành viên

Chỉ nhìn vào bảng danh sách trên, đã đủ cho thấy vai trò nòng cốt của một số nhân sĩ, trí thức gần đây hay có tiếng nói đối lập. Trong đó, TS Nguyễn Quang A có mặt ở cả vị trí cố vấn và trị sự, cho thấy Nguyễn Quang A là một mắt xích quan trọng của diễn đàn này.

Với sự ra đời và những tuyên bố như vậy, Diễn đàn xã hội dân sự có mục tiêu tốt đẹp vì sự phát triển của cộng đồng xã hội tại Việt Nam không? Đằng sau các hoạt động của diễn đàn này là gì? Nó là một tổ chức hay là một mạng xã hội? Thực chất nó nhằm mục tiêu gì, đã và đang có những sai phạm gì?

NVM Blog sẽ phân tích trong những bài viết tới đây…

Nguồn: Việt hải ngoại Online

Categories: Diễn biến hòa bình

Vạch trần âm mưu thâm độc

Thời gian gần đây ở hải ngoại bà con trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ thường nghe các tổ chức chống cộng cực đoan (CCCĐ), các đảng phái phản động người Việt ra rả tuyên truyền đòi tự do “dân chủ”, “nhân quyền” cho người dân trong nước thông qua các cuộc biểu tình, hội họp, trên vô số các trang mạng điện tử, và một điều mà chúng không bao giờ bỏ qua là luôn nhờ bàn tay của các tổ chức,cá nhân không có thiện cảm với Việt Nam ở phương tây và nhất là BU (Mỹ) can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Trong bài này ta tìm hiểu thêm một cụm từ mà thường nghe nói là Đảng và chính phủ Việt Nam lấy cớ chống “Diễn biến hòa bình” (DBHB) để thực hiện trấn áp các tổ chức, cá nhân trong nước khi họ có hành động, tư tưởng đối nghịch lại và suy diễn vu khống chính phủ Việt Nam “thổi phồng” điều mà gọi là “tưởng tượng một cách thái quá”?.

Vậy thì nội dung và ý nghĩa của cụm từ DBHB là gì? Xuất xứ nguồn gốc từ khi nào và ở nơi đâu? Thông thường thì các vị CCCĐ luôn làm cho những việc đơn giản thành phức tạp, những điều dễ hiểu thành khó hiểu, trong cái mập mờ rối tung như canh hẹ thì mới trộn lẫn nhập nhằng các khái niệm, để thực hiện trò đánh lận con đen là nghề của các vị CCCĐ nhằm lôi kéo những người bị hạn chế về nhận thức chính trị cả trong và ngoài nước. Chúng ta có thể khái quát nét cơ bản nhất về cụm từ DBHB là: Được tiến hành với những nước đã bị các thế lực phương Tây tiến công về quân sự hoặc gây lật đổ nhưng không đạt mục tiêu, nay phải dùng chiêu tiến công tổng lực “Bất chiến tự nhiên thành” (không đánh mà thắng) làm cho đối phương tự từ bỏ chế độ đang cầm quyền.

Mục tiêu của các tổ chức CCCĐ ở hải ngoại cũng thay đổi theo từng giai đoạn biến động trên trường chính trị thế giới, cùng với các tổ chức không có thiện cảm với Việt Nam , được BU hà hơi tiếp sức có thể nói âm mưu, thủ đoạn mới của các băng nhóm và thế lực thù địch Việt Nam trong chiến lược DBHB hiện nay chính là lợi dụng ngay các chủ trương, chính sách đổi mới để chống phá sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Các tổ chức, đảng phái CCCĐ xuyên tạc nói rằng Đảng cộng sản rất “lo sợ” có sự chính biến trong nước nên lúc nào cũng tuyên truyền DBHB? Diễn biến là do các nhà cầm quyền và đảng CS nghĩ ra, “suy diễn thái quá”, “tự mình sợ mình” “mắc bệnh tự kỷ” .v.v..? Nói như vậy thì chính họ này chẳng hiểu gì về cụm từ này, hoặc giả có hiểu thì xuyên tạc đánh lạc hướng nhận thức của người khác. Chúng ta tìm hiểu nguồn gốc của cụm từ này để vạch mặt kẻ ”gắp lửa bỏ tay người” của bọn phản động chống phá đất nước.Khái niệm “diễn biến hòa bình” (DBHB) không phải là ”con đẻ” của các nhà tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, cũng không phải là “con quái vật” do người cộng sản dựng nên để hù dọa thiên hạ, mà là sản phẩm của G.Kainan – một trong những chiến lược gia chính trị xuất sắc nhất của Hoa Kỳ (thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai) đề xuất. Kainan đã viết rằng, “Hoa Kỳ không có khả năng tiêu diệt Liên Xô bằng vũ lực”, muốn chiến thắng Liên Xô cần phải tăng cường sử dụng các “thủ đoạn phi quân sự, thực hiện diễn biến hòa bình” làm “thay đổi tính chất chính quyền nhà nước XHCN”… Đến đây ta có thể hiểu một cách rõ ràng về khái niệm DBHB mà từ bấy lâu nay quần chúng đồng bào hải ngoại mà ngay cả những người dân ở trong nước nghe và hiểu mơ mơ,ảo ảo. Ta tìm hiểu tiếp vậy tính chất nguy hại của chiến lược DBHB hiện nay là ở chỗ nào ? hậu quả của nó nghiêm trọng đến đâu? cái thuyết của ông G. Kainan được các “đệ tử” tiếp nhận và vận dụng ra sao? Thì đây ta thấy ngay hậu quả của nó là: Một khi những quan điểm cực đoan của phương Tây về đa nguyên chính trị, dân chủ, nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền của các dân tộc thiểu số được kích động sẽ chuyển thành những hành động chính trị phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự ổn định xã hội, thậm chí có thể hủy hoại thành quả giành độc lập dân tộc trên một nửa thế kỷ qua của nhân dân ta, đã hy sinh hàng triệu người, máu người Việt Nam thấm đỏ từng thước đất sẽ tan tành mây khói, đưa nước ta, dân tộc ta sang con đường khác với mục tiêu hướng tới làm xa rời người dân trong và ngoài nước với chính phủ và đảng CSVN và hậu quả là những kẻ trục lợi về chính trị có truyền thống ôm chân ngoại bang là kẻ hưởng lợi “đục nước béo cò”. Quan niệm của G.Kainan là cội nguồn, đồng thời là cốt lõi của khái niệm DBHB. Tư tưởng chiến lược này đã được vận dụng, phát triển không ngừng qua nhiều đời Tổng thống Mỹ và đã đạt được những kết quả nhất định như chúng ta đã thấy sự tan rã ở các nước liên xô cũ, bắc phi và khối ả rập.

Vậy điều gì đang diễn ra tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá này? mối quan hệ ràng buộc giữa Việt Nam với các quốc gia khác về lợi ích? Điều đương nhiên là Việt Nam phải thay đổi tư duy chiến lược tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể, vậy điều đó đã diễn ra như thế nào? Chúng ta tìm hiểu tiếp: Sự điều chỉnh thủ đoạn chiến lược của các thế lực thù địch và bọn phản động lưu vong người Việt kết hợp các phần tử có mầm mống phản loạn trong nước, chúng rất thâm độc và nguy hiểm hơn khi chuyển hướng từ tập trung bài xích, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam sang “có thể chấp nhận” về hình thức sự lãnh đạo của Đảng, nhưng tập trung làm cho Đảng bị tha hóa, biến chất, tự đánh mất vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Cùng với đẩy mạnh chống phá nền tảng tư tưởng, quan điểm, đường lối của Đảng CSVN, bọn chúng tăng cường tác động các tổ chức quốc tế nhất là BU (Mỹ) thúc đẩy “dân chủ hóa” trong hệ thống chính trị, trong nội bộ Đảng và bộ máy lãnh đạo nhà nước Việt Nam, kích động sự bất đồng chính kiến về những quyết sách chiến lược, nhất là định hướng phát triển của xã hội Việt Nam trong giai đoạn mới, kích động gây chia rẽ, tạo sự phân hóa giữa nhân dân và Đảng cộng sản, đồng thời tạo lập lực lượng chính trị đối lập, dẫn đến tình trạng trong Đảng có nhiều phe phái, trong xã hội có đa đảng, làm rối loạn xã hội, thủ tiêu hoàn toàn khối đoàn kết thống nhất giữa Đảng CS lãnh đạo và sự đồng thuận trong xã hội. Đánh gãy mũi tên bách chiến bách thắng đó là sự đoàn kết toàn dân được tôi luyện trong lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Một số tổ chức phản động CCCĐ ở hải ngoại móc nối, lôi kéo các phần tử cơ hội, ấu trĩ về nhận thức chính trị, một số người cả tin ở trong nước, lợi dụng chủ trương của nhà nước VN mở rộng dân chủ, cải cách hành chính, tự do tư tưởng, tự do báo chí, ngang nhiên đòi hủy bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 1992, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thực hiện nguyên tắc tam quyền phân lập. Các phần tử này viết bài tung lên mạng, hoặc được các đài báo phương Tây như BBC, VOA, RFA, RFI …vv.. móc nối, trả lời phỏng vấn, phát tán quan điểm cá nhân xuyên tạc, vu cáo chủ trương, chính sách nhà nước Việt Nam, thậm chí còn trắng trợn vu cáo Chính phủ Việt Nam bán nước cho ngoại bang, có kẻ kết nối các phần tử chống đối mưu toan thành lập các tổ chức đảng chính trị phản động nhằm lật đổ thể chế chính quyền hiện hữu.Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bọn phản động CCCĐ và các thế lực thù địch với Việt Nam đã sử dụng các hình thức, biện pháp phi vũ trang “cách mạng nhung” “cách mạng hoa” để chống phá Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cả ở trong nước và ở nước ngoài. Đây là cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt, nhằm làm suy yếu nền kinh tế, rối loạn về xã hội, làm chệch hướng đường lối chính trị, làm giảm hoặc cao hơn là làm mất sức chiến đấu của quân đội, an ninh, cô lập và hạ thấp vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Muốn thay đổi một thể chế chính trị thì biện pháp áp dụng tuỳ theo hoàn cảnh của mỗi quốc gia có khác nhau, ngòi nổ đó là bạo loạn – gồm bạo loạn chính trị và bạo loạn quân sự “Diễn biến hòa bình” và bạo loạn lật đổ tuy khác nhau về phương thức, thủ đoạn, nhưng đều thống nhất về mục tiêu là lật đổ chế độ, giành chính quyền. Trong quá trình tiến hành “diễn biến hòa bình” chống tổ quốc Việt Nam các tổ chức phản động CCCĐ và thế lực ngoại bang thường kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ, trong đó DBHB giữ vai trò xung kích, đi trước, chuẩn bị lực lượng, điều kiện để tiến hành bạo loạn lật đổ khi có thời cơ ,đảng khủng bố Việt Tân đã và đang rắp tâm thực hiện mưu đồ này. Bạo loạn lật đổ là hệ quả tất yếu của các hoạt động DBHB xảy ra trong nội bộ quốc gia.

Kết hợp DBHB với bạo loạn lật đổ là sự kết hợp hai hình thức “hòa bình” và “không hòa bình” trong một chiến lược chống phá Việt Nam, có thể diễn ra đồng thời, trên một hay nhiều khu vực trong nước. Bạo loạn chính trị thường là đòn tiến công ban đầu đối với chính phủ, “châm ngòi” cho toàn bộ cuộc bạo loạn và áp lực toàn diện đối với chính phủ trong suốt quá trình diễn ra bạo loạn. Điều này chúng ta thấy rõ trong thời gian qua các trang báo, diễn đàn mạng, các giới truyền thông chống cộng ở hải ngoại ra sức tung hô những những việc như khiếu kiện về đất đai, những vụ án về tham nhũng, biểu tình chống trung quốc .v.v… Trong rối loạn thì “ngư ông đắc lợi”. Bọn phản động chống cộng cực đoan luôn cao giọng chuyện DBHB là chuyện “nội bộ trong nước”? Nếu nhìn qua về bề ngoài, “Diễn biến hòa bình” là chiến lược của các thế lực bên ngoài, còn “tự diễn biến” là việc nội bộ của Việt Nam, phụ thuộc vào chính nội trạng của xã hội Việt Nam. Song, thực tế đã chứng minh đó là hệ quả của một chủ đề, một mục tiêu chiến lược.

Một mặt, thế giới tư bản không ngừng quảng cáo về sự thịnh vượng, sự tuyệt vời của thế giới tự do của mình, giấu nhẹm những khiếm khuyết những mâu thuẫn thường trực trong xã hội. Chính điều này đã làm loà mắt những kẻ trong nước có tư tưởng vọng ngoại, không ít vị mà bản thân họ có quá trình đóng góp đáng kể cho cách mạng, đã được Nhà nước giao nhiều trọng trách lãnh đạo, nhưng vì chưa có quá trình tìm hiểu sâu chủ nghĩa tư bản, chỉ tìm hiểu trên các trang mạng bát nháo , bị các tổ chức ma trơi CCCĐ ở hải ngoại tâng bốc, phong cho những hỗn danh “nhà này nhà nọ” … Họ quay đầu lại xỉ vả quá khứ tự “phản tỉnh”, “kính nể” chủ nghĩa tư bản như “thần tượng” không tiếc lời khen ngợi, còn với “ta” thì cái gì cũng chê không tiếc lời. Đó chính là mầm mống của “tự diễn biến”.

Chiêu thức của bọn phản động CCCĐ và các thế lực chống Việt Nam là vậy, một khi đã hiểu thấu đáo vấn đề thì việc làm vô hiệu hoá nó cũng sẽ có “thuốc” trị. Cần tỉnh táo trước xu hướng thúc đẩy cải cách luật pháp mang màu sắc Cách mạng pháp luật của các thế lực đen tối bên ngoài, mục đích của nó là từng bước tách các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp khỏi sự lãnh đạo của Đảng CSVN. Kiên quyết bác bỏ quan điểm “Quốc gia hóa quân đội”, đòi “Luật hóa mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của quân đội”, thực chất là nhằm bài xích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng và “phi chính trị hóa quân đội”. Một khi thực hiện được vấn đề cốt yếu này thì việc xoá bỏ quyền lãnh đạo của Đảng CSVN với đất nước chỉ là vấn đề về thời gian mà thôi.

Kết hợp “diễn biến hòa bình” với “bạo loạn lật đổ” là một sách lược tinh vi áp dụng chống phá Việt Nam trong nhiều năm qua, rất nguy hiểm, tác động trực tiếp đến an ninh chính trị của quốc gia, sự tồn vong của cả dân tộc.Tăng tính “miễn dịch” cho toàn dân tộc là biện pháp tối ưu chống mọi sự xâm nhập của “vi rút DBHB”. Một khi cơ thể quốc gia khoẻ mạnh thì sẽ đối đầu với bất cứ nạn “Dịch” tấn công từ bên ngoài vào, tiêu diệt mầm mống bệnh từ bên trong. Tính phức tạp cuộc đấu tranh chống DBHB là ở chỗ, trong khi phải đương đầu với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch thì đồng thời chúng ta cũng đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ngày nay trước sự điều chỉnh chiến lược, thay đổi thủ đoạn không ít người chưa nhận rõ được chân tướng của DBHB , các thế lực thù địch và bọn phản động lưu vong người Việt có thực hiện được âm mưu đó hay không tất cả đều phụ thuộc vào chúng ta, phụ thuộc vào Đảng, nhà nước.Công tác tuyên truyền vạch rõ âm mưu thủ đoạn của bọn chúng để cho người dân trong và ngoài nước biết là một việc rất cần thiết.

Những bài học rút ra từ sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô viết, từ làn sóng “Mùa xuân Ả Rập” và sự mất ổn định, lâm vào khủng hoảng của một số nước hiện nay, chúng ta ngày càng thấm thía sâu sắc một vấn đề có tính quy luật “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Để chủ động Giữ nước ngay từ thời bình phải kết hợp chặt chẽ, tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực cực đoan, khắc phục “tự diễn biến”, trong nội bộ quốc gia. Một khi có kế sách đúng đắn, có sức “miễn dịch” tốt thì chúng ta tự tin dù cho các thế lực phản động được các nước lớn hà hơi tiếp sức và tung ra bao nhiêu chiêu thức đánh phá vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước thì cũng như đánh vào khoảng không vô vọng.

Hoa kỳ 15-10-2012
Amari Tx

Categories: Diễn biến hòa bình | Tags:

Vì sao, vì mục đích gì?

Sau khi Báo Nhân Dân đăng bài Từ hải ngoại nhìn về “các nhà dân chủ” của tác giả Trần Mai gửi từ nước Mỹ, trên một số website và blog đã có ý kiến thực hiện theo lối cắt xén, suy diễn, để từ đó phản đối bài viết của Trần Mai và quy kết là “nhận định sai lầm nghiêm trọng… về quyền con người”, và lặp lại luận điệu cho rằng, Nhà nước đã đi ngược lại các tuyên ngôn, công ước quốc tế liên quan tới vấn đề nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết! Bình luận về sự kiện này, cũng từ nước Mỹ, bạn đọc Hữu Ðức mới gửi tới tòa soạn bài Tôi thật sự không hiểu tại sao, vì mục đích gì?, xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Là một người Mỹ gốc Việt, tôi và một số bạn hữu luôn mong muốn quê hương, đất nước phát triển ổn định bền vững, có như vậy mới dồn toàn lực vào công cuộc xây dựng đất nước ngày càng phồn thịnh, đời sống, dân trí của nhân dân ngày càng được nâng cao. Vậy mà một số người lại tự phong là “nhà dân chủ” được các nhóm chống cộng cực đoan ở Hoa Kỳ tung hô, phối hợp “nội công, ngoại kích” để chống phá đất nước, mà đáng kể nhất là họ luôn lớn tiếng đưa ra các yêu sách phi lý như kêu gọi “Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu và các quốc gia tự do cử đặc phái viên tới Việt Nam để điều tra về tình trạng vi phạm nhân quyền, yêu cầu Việt Nam tôn trọng Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, hủy bỏ các điều luật về an ninh quốc gia (điều 79, 87 và 88 Bộ luật Hình sự)” và “thả ngay lập tức các tù nhân chính trị”! Ở hải ngoại, đọc các bài viết của họ, tôi thấy họ xuyên tạc vấn đề nhân quyền của Việt Nam một cách trắng trợn và lố bịch. Vì bức xúc trước tình trạng này, tôi muốn hỏi các “nhà dân chủ” ở quốc nội rằng, các vị căn cứ vào đâu mà “phán xét” Nhà nước Việt Nam về điều mà các vị gọi là “vi phạm quyền con người” qua các điều luật của Bộ luật Hình sự? Theo tôi, phải có một cái nhìn tổng thể và phải nhận thức rõ ràng về sự khác nhau giữa quyền con người và quyền công dân mới hiểu rõ sự lươn lẹo của các “nhà dân chủ” đang tung hỏa mù núp bóng “đấu tranh cho dân chủ” để trục lợi chính trị.

Không phải đến bây giờ con người mới đặt ra vấn đề quyền con người. Ý thức về nhân quyền và đấu tranh cho sự tiến bộ từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm của mọi nhà nước trên hành tinh này. “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-9-1945).

Qua việc đọc và nghiền ngẫm tôi thấy các bản tuyên ngôn đó đều khẳng định quyền con người và trách nhiệm của nhà nước trong khi thực thi quyền con người đối với mọi công dân của nước mình, cũng như cộng đồng quốc tế. Là kết quả của quá trình nhận thức sâu sắc, sự ra đời của khái niệm quyền con người gắn với các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, xóa bỏ chế độ phong kiến. Cho nên ngày nay mọi người thường nói tới Luật về các quyền của Anh năm 1689, Tuyên ngôn độc lập năm 1776, Hiến pháp bổ sung năm 1787 của Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của Pháp. Và vấn đề quyền con người đã được Nguyễn Ái Quốc nhắc tới từ năm 1919, trong Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến đại diện các nước Ðồng minh họp ở Versailles (Pháp).

Trong điều kiện một đất nước vừa trải qua những cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt, việc chăm lo, bảo đảm ngày càng đầy đủ hơn đến quyền con người vừa là mối quan tâm hàng đầu, vừa là thách thức lớn đối với Việt Nam. Sự nghiệp phát triển của Việt Nam nói chung, chăm lo phát triển quyền con người nói riêng, được tiến hành trong bối cảnh đất nước còn vô vàn khó khăn, thiếu thốn, nên có thể còn có hạn chế, bất cập, song không thể vì thế mà phủ nhận những thành tựu rất quan trọng và ngày càng tiến bộ trong việc chăm lo quyền con người, điều này đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Theo tiêu chí tổng quát về thực hiện quyền con người trong thế kỷ 21, trước hết phải kể đến Mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc tổ chức năm 2000, với sự tham gia của 189 thành viên đã nhất trí thông qua Tuyên bố Thiên niên kỷ với tám mục tiêu cụ thể và đặt mốc hoàn thành các mục tiêu này vào năm 2015. Sau 10 năm nỗ lực phấn đấu, Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá hoàn thành 90% kế hoạch đặt ra, là một trong hai nước đi đầu trong việc giảm nghèo, cải thiện sức khỏe cho nhân dân. Trong quá trình chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam còn được ghi nhận có sự phát triển tích cực trong việc bảo đảm các quyền con người, đặc biệt là thành tựu phát triển kinh tế – xã hội, mở rộng dân chủ, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của người dân. Ðây chính là cơ sở quan trọng đủ sức chứng minh sự dối trá của những người đã và đang xuyên tạc, vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền. Trong Hiến pháp Việt Nam cũng như hiến pháp của nhiều quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, quyền con người thường luôn gắn liền với nghĩa vụ công dân, từ đó hình thành khái niệm “quyền và nghĩa vụ công dân”. Ở mỗi quốc gia, quyền công dân được xem là sự thể hiện cụ thể của quyền con người. Sự khác nhau giữa quyền con người với quyền công dân trước hết ở nguồn gốc. Quyền con người được xem là quyền tự nhiên của mọi thành viên của cộng đồng, là quyền của mỗi con người từ khi người đó sinh ra cho đến khi qua đời. Trái lại, quyền công dân lại là các quyền của người dân được quy định trong pháp luật của mỗi quốc gia. Quyền công dân có thể bị tước đoạt một phần hoặc hoàn toàn khi người đó vi phạm pháp luật, hoặc mất năng lực hành vi dân sự (như do mắc bệnh tâm thần chẳng hạn). Ngay tại Hoa Kỳ, quyền công dân buộc phải tuân thủ luật của chính phủ ban hành, cá nhân nào đó, mặc dù không phải là công dân Hoa Kỳ, nhưng đang sinh sống tại Hoa Kỳ vẫn có một số quyền công dân nhất định, hoặc phải thực hiện các nghĩa vụ nhất định như mọi công dân của quốc gia mình đang cư trú.

Ở Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Hình sự năm 1999 là minh chứng. Quyền và nghĩa vụ của công dân trên các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đương nhiên là công dân của nước Việt Nam phải tuân thủ như mọi công dân ở quốc gia khác. Một số người ở trong nước cùng với những người chống cộng ở hải ngoại thường gào thét xuyên tạc rằng: “Ðiều 88, Bộ luật Hình sự năm 1999 về quyền tự do tư tưởng, báo chí là trái với Ðiều 19 của Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 mà Việt Nam đã tham gia”? Xin thưa với các quý vị rằng sự thật không phải vậy. Ðiều 88 Bộ luật Hình sự của Việt Nam hoàn toàn không có gì trái với Ðiều 19 Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị, khi dẫn lại Ðiều 19 của Công ước, các vị đã cố tình cắt xén một nội dung mà Công ước đề cập. Ðó là, khoản 3 Ðiều 19 của Công ước ghi rõ: “3. Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Theo đó, tự do báo chí phải có giới hạn, không có thứ “tự do báo chí tuyệt đối” để làm mất uy tín của người khác, vi phạm an ninh quốc gia, trật tự công cộng và đạo đức xã hội. Ðứng ra bảo vệ mấy cá nhân vi phạm Ðiều 88 là các vị bảo vệ những người vi phạm quyền con người của đại bộ phận nhân dân đang mong muốn xã hội ổn định để phát triển đất nước. Sống ở Hoa Kỳ đã nhiều năm, tôi biết thực chất vấn đề nhân quyền tại Hoa Kỳ. Báo cáo Nhân quyền thế giới năm 2010 của Mỹ chỉ trích 130 quốc gia vì hạn chế các quyền con người, trong khi đó Tổ chức ân xá quốc tế lại cảnh báo về tình trạng vi phạm nhân quyền ở chính Hoa Kỳ khi cho rằng: “Là một quốc gia hùng mạnh bậc nhất thế giới, Mỹ tự cho mình cái quyền đề ra tiêu chuẩn ứng xử cho các quốc gia. Nhưng Mỹ lại thể hiện cái xấu của mình qua hàng loạt hành động thách thức luật pháp quốc tế”! Bốn năm liền, Viện dân chủ và hợp tác ở New York công bố báo cáo về các hành vi thô bạo của cảnh sát chống người nhập cư, các vụ xâm phạm quyền tự do ngôn luận, bất bình đẳng về giai cấp ở Hoa Kỳ. Ông Andranik Migranyan – Giám đốc Viện này, từng nói: “Tất nhiên, Hoa Kỳ là một quốc gia với nhiều truyền thống dân chủ. Nhưng, nếu nhìn kỹ cách tổ chức đời sống xã hội, thì rất tiếc sẽ thấy rõ nhiều vấn đề không cho phép Hoa Kỳ coi mình như thầy giáo giới thiệu mô hình lý tưởng về việc bảo vệ quyền con người”.

Ðể chứng minh, có thể lấy thí dụ từ việc bầu cử tổng thống ở Mỹ. Về hình thức, đây có vẻ là một biểu hiện của dân chủ với hình thức lý tưởng; nhưng trên thực tế lại có sự phân biệt đối xử về nguồn gốc xã hội, về dân tộc, thậm chí cả việc vi phạm quyền bầu cử. Trả lời phỏng vấn của đài Tiếng nói nước Nga, bà Cheri Honkala – ứng cử viên Phó Tổng thống Mỹ của đảng Xanh, đã nói: “Nguyên nhân vì sao Mỹ không cho phép các quan sát viên theo dõi bầu cử có thể ẩn sau khả năng sự lừa dối: chúng tôi có rất nhiều người dân hoặc không muốn hoặc không được đi bỏ phiếu. Còn bây giờ, ở một số bang lại xuất hiện cái gọi là hệ thống “cấp phép quyền bầu cử”. Một rào cản khiên cưỡng ngăn chặn các cử tri tiềm năng, đó là tầng lớp lao động và những người sống dưới mức nghèo khổ”. Và gần đây, ông Alexei Pushkov, người đứng đầu Ủy ban Duma Quốc gia Nga về các vấn đề ngoại giao, nói: “Ðã quá lâu, chúng ta chấp nhận quyền lên tiếng giáo huấn của cái gọi là đất nước dân chủ truyền thống. Tuy nhiên tồn tại hơn hai thập kỷ, nước Nga sau Liên Xô đã có nhận thức rõ nét rằng, những quốc gia giành vai trò người dạy dỗ tuyệt vời, trong thời gian này chứng tỏ thấy họ không hề hoàn hảo. Chúng ta nhận thấy, bản thân Hoa Kỳ cũng vi phạm không ít quyền con người ở trong và ngoài nước. Có thể kể ra ở đây trường hợp các nhà tù CIA bí mật ở Trung Ðông và Ðông Âu, trường hợp thiệt hại thường dân Afghanistan trong các hoạt động quân sự do Mỹ và NATO thực hiện ở nước này, cũng như nhiều khía cạnh khác. Trước hoàn cảnh này, tiếp tục giữ im lặng sẽ có nghĩa chấp thuận vào hùa với trò bao vây thông tin do các phương tiện truyền thông phương Tây tạo dựng để lấp liếm sự vi phạm nhân quyền của chính phương Tây”.

Vì sao các “nhà dân chủ” ở quốc nội lại không quan tâm tới các vấn đề này? Họ lấy Hoa Kỳ là “khuôn vàng, thước ngọc” để so sánh và phê phán Việt Nam. Họ tôn thờ cái gọi là “thiên đường dân chủ” nhưng hình như thực chất thì họ chẳng hiểu gì về nước Mỹ cùng các vấn đề của nó. Vì sao, vì mục đích gì, họ lại có thể đi ngược lại nỗ lực của mọi người dân đang cố gắng xây dựng một đất nước Việt Nam phồn thịnh, xã hội càng ngày càng dân chủ, công bằng, văn minh?

HỮU ÐỨC (Hoa Kỳ, ngày 4-11-2012)
Nguồn Amritx

Categories: Diễn biến hòa bình

CHỐNG PHÁ NHÂN DANH LÒNG YÊU NƯỚC

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch sử dụng nhiều luận điệu khác nhau để kích động chống ĐCS, chống Nhà nước VN, kêu gọi lật đổ chính quyền. Dù nấp dưới danh nghĩa nào, vẫn có thể nhận ra các luận điệu nhằm mục đích chống phá của họ.

Mới đây, một số website và blog truyền bá bài viết của Phạm Lê Vương Các – người tự giới thiệu là “sinh viên đại học năm thứ ba”(!?), cũng nằm trong các thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang triển khai.

Sau khi viện dẫn “triết gia Socrate bị kết án tử hình vì tội đầu độc tư tưởng cho giới trẻ và chống lại nhà nước dân chủ chủ nô”, Bruno “phải lên máy chém vì ủng hộ thuyết “nhật tâm”, Phạm Lê Vương Các nhắc tới một số nhân vật lịch sử như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học… và gọi họ là “những người tiên phong trong việc chống nhà nước phong kiến nửa thuộc địa đương thời để xóa bỏ sự nô dịch, lạc hậu, và bất công”. Từ những cứ liệu đó, tác giả này kết luận “không thể xem chống nhà nước là hành vi hoàn toàn tiêu cực được”. Khi làm công việc này, Phạm Lê Vương Các đã bỏ qua một nội dung có tính chất nền tảng là bối cảnh lịch sử của mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử, và tính tất yếu của quá trình nhận thức cùng hành vi của con người trong bối cảnh lịch sử ấy. Phải chăng, tác giả do thiếu hiểu biết hay cố tình bỏ qua nội dung nền tảng này, đánh đồng nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến nửa thuộc địa với nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân hiện nay? Trên thực tế, bản chất các loại hình nhà nước mà những nhân vật lịch sử do Phạm Lê Vương Các viện dẫn đã từng sống lại hoàn toàn khác nhau, mục đích đấu tranh của mỗi người cũng rất khác nhau. Từ sự mập mờ này, Phạm Lê Vương Các nhận định “tuy cùng một hành vi chống nhà nước, nhưng đã làm cho Việt Nam sản sinh ra những con người “phản động” theo tinh thần lý luận đấu tranh giai cấp nhưng lại mang bản chất “yêu nước” theo tinh thần ý thức trách nhiệm của một công dân đấu tranh cho dân chủ tiến bộ, tùy theo cách hiểu khác nhau của mỗi người”. Sao lại đánh đồng “phản động” với “yêu nước”? Nếu là người hiểu biết, không thể nhầm lẫn giữa hai phạm trù đối nghịch nhau như thế. Phản động hay yêu nước đều phải dựa trên các tiêu chí xét đoán rõ ràng, được cả cộng đồng thừa nhận, không phải muốn là có thể nói vống lên. Trong cuộc sống, suy nghĩ và hành vi của con người có ý thức đều hướng tới mục tiêu cụ thể, mà tựu trung trước hết là vì nhu cầu của bản thân mình và vì nhu cầu của cộng đồng mà mình là thành viên. Thử hỏi ba blogger mà Phạm Lê Vương Các đứng ra bao biện cho họ đã đóng góp gì cho đất nước, cho cộng đồng nơi họ sống, mà có thể gán cho tên gọi “người yêu nước”? Việc họ viết năm, bảy cái entry chứa đựng thông tin mơ hồ, thật – giả và tốt – xấu lẫn lộn… để vu cáo chính quyền lẽ nào lại là biểu hiện của lòng “yêu nước”? Và không biết vì ấu trĩ không hiểu mối quan hệ giữa hiến pháp và pháp luật với nhà nước hay tôn thờ chủ nghĩa vô chính phủ mà Phạm Lê Vương Các còn viết một cách rất tùy tiện rằng: “Không thể lấy hiến pháp và pháp luật để bảo vệ Nhà nước”! Thử hỏi, nếu Nhà nước không có hiến pháp và pháp luật sẽ ra sao, ai sẽ bảo vệ quyền lợi của người dân?! Xã hội sẽ ra sao nếu mỗi công dân lại tự đề ra một luật riêng cho bản thân để muốn làm gì thì làm?

Nguy hiểm hơn, theo Phạm Lê Vương Các: “Một khi nhà nước không còn là của dân, do dân, và vì dân trên thực tế thì chống lại nhà nước đó là hành vi tất yếu”. Cần vạch rõ sự dối trá này vì nó chỉ đúng khi “dân” ở đây là đại đa số nhân dân, chứ không phải là một vài cá nhân chưa làm được bất cứ điều gì cho dân nhưng vẫn xưng xưng tự nhận là “đại diện của nhân dân”. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhà nước thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam chỉ phục vụ bộ máy cai trị thực dân, thẳng y đàn áp bóc lột nhân dân. Còn Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được Hiến pháp khẳng định là Nhà nước “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Chúng xây dựng Nhà nước pháp quyền chính là xây dựng một nhà nước dân chủ ngày càng hoàn thiện, nơi nhân dân đứng ra tự tổ chức, tự quản lý, tự điều hành xã hội của mình. Tính thống nhất bao trùm lên mọi hoạt động tổ chức và thực hiện quyền lực của nhân dân, chứ không phải mâu thuẫn hay đối kháng. Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do nhân dân lập ra thông qua bầu cử, ý chí của đại đa số nhân dân thể hiện qua hoạt động của Nhà nước một cách công khai, minh bạch, và hành động của Nhà nước thể hiện ý chí, tư tưởng, nguyện vọng của nhân dân. Nhân dân lập ra Nhà nước để bảo vệ cho các quyền và lợi ích của chính mình, nếu Nhà nước không có Hiến pháp và pháp luật bảo vệ thì sẽ không bảo vệ được nhân dân. Ðiều 6 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (năm 1992) quy định “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”; Ðiều 53 khẳng định công dân “có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương”. Trong trường hợp công dân không đồng tình với Nhà nước, hoặc muốn đưa ra ý kiến riêng thì có thể “kiến nghị với cơ quan Nhà nước”, Ðiều 74 nêu cụ thể “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào”. Quy định của pháp luật nước cũng nêu rõ, công dân có quyền phản đối cơ quan Nhà nước, công dân có thể kiện cơ quan Nhà nước ra tòa án. Ðó là quyền của công dân, bởi không phải lúc nào các cơ quan nhà nước cũng đúng, và ở nước đã có một số trường hợp công dân thắng kiện cơ quan nhà nước.

Bên cạnh đó, Phạm Lê Vương Các còn cho rằng, có sự khác nhau trong quan niệm “chống nhà nước” giữa “các nước dân chủ” với các nước XHCN. Xét từ chính trị học, tất cả các mô hình nhà nước đều có những mặt tốt và mặt hạn chế, con người luôn cố gắng tiệm cận với một mô hình nhà nước hoàn hảo như tiệm cận với chân lý. Nhà nước còn có tính lịch sử, văn hóa sâu sắc, không thể đem mô hình nhà nước của quốc gia này áp dụng cho quốc gia khác mà hy vọng sẽ có kết quả. Tuy nhiên, Phạm Lê Vương Các lại đưa ra quan niệm lệch lạc: “chống lại nhà nước XHCN ở đây luôn được nhà cầm quyền xem là mối đe dọa lực lượng thống trị, an ninh quốc gia, phá vỡ khối đại đoàn kết thống nhất, và lý tưởng của toàn dân”. Xét từ nguồn gốc và bản chất của nhà nước, điều này thật ngây thơ, người viết hoàn toàn không hiểu biết. Ðể bảo vệ nhà nước, mọi quốc gia đều phải áp dụng các biện pháp bảo đảm an ninh, một số quốc gia phương Tây còn theo dõi tường tận đến từng cá nhân, thậm chí phát động tấn công các quốc gia khác với lý do… để bảo đảm an ninh! Ở Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, dù là hành pháp, lập pháp hay tư pháp đều phải làm đúng, làm hết trách nhiệm của mình. Nhà nước khuyến khích hoạt động phản biện xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể. Khi công dân có vấn đề cần giải quyết, họ đều có quyền yêu cầu các tổ chức đoàn thể, hệ thống thông tin đại chúng… giúp đỡ. Song không vì thế, công dân lại làm dư luận hoang mang, gây mất ổn định xã hội bằng đưa tin bịa đặt trên internet, nói xấu lãnh đạo, nói xấu người khác mà không đưa ra bằng chứng, rồi kích động bạo loạn, kêu gọi lật đổ chính quyền… Các Ðiều 87, Ðiều 88, Ðiều 92 của Bộ luật Hình sự quy định rõ các tội danh liên quan đến hành vi chống chính quyền nhân dân, chỉ có ai cố tình không hiểu mới phát ngôn tùy tiện như vậy. Xét trên mọi phương diện, hành vi “làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu có nội dung chống nhà nước” đều rất nguy hiểm đối với xã hội và không thể gọi đó là hành vi yêu nước. Vì thế, các nước phương Tây đã đối xử rất cứng rắn với Julian Assange khi trang mạng Wikileaks tải lên những thông tin “nhạy cảm”.

Nhà nước của chúng đang có bước chuyển quan trọng để tự hoàn thiện, từ đó tiếp tục tổ chức, lãnh đạo sự nghiệp phát triển đất nước, củng cố niềm tin của mọi tầng lớp nhân dân. Và khi trong bộ máy Nhà nước còn những “con sâu làm rầu nồi canh”, chúng cần đấu tranh làm trong sạch theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI). Hệ thống pháp luật của nước được xây dựng nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, nhưng một số cán bộ, công chức chưa thực hiện đúng nhiệm vụ, chức trách được giao, vẫn còn tình trạng cơ hội, trục lợi cá nhân, gây bất bình trong nhân dân. Những cán bộ trong bộ máy nhà nước, doanh nghiệp vi phạm pháp luật bị khởi tố trong thời gian qua là minh chứng cho quyết tâm lập lại kỷ cương xã hội của Nhà nước. Do đó, mỗi công dân cần có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của Nhà nước, cũng như cần đóng góp thiết thực để xây dựng Nhà nước. Từ lâu, những ý kiến đóng góp tâm huyết của người yêu nước chân chính luôn luôn được ghi nhận, nghiên cứu, xem xét một cách nghiêm túc.

(NHÂN DÂN ONLINE)
treonline.com

Categories: Diễn biến hòa bình

Thêm một màn kịch chính trị trơ tráo của SBTN

Lợi dụng kỷ niệm Ngày Quốc tế nhân quyền (10-12-2012), SBTN (đài truyền hình phát bằng tiếng Việt tại Mỹ), do Trúc Hồ làm Giám đốc điều hành, vừa phát động cái gọi là “chiến dịch triệu con tim, một tiếng nói”.

Căn cứ vào các hành vi mà SBTN từng thực hiện trong thời gian qua, có thể khẳng định đây thực chất là một màn kịch chính trị bị thao túng bởi các thế lực thù địch, nhằm vu cáo Nhà nước Việt Nam.

Theo SBTN, cái gọi là “chiến dịch triệu con tim, một tiếng nói” được phát động trong thời gian hai tháng, từ ngày 15-10-2012 đến ngày Quốc tế nhân quyền 10-12-2012. Màn mở đầu của vở kịch lố lăng này là thu thập 100 nghìn chữ ký vào “thỉnh nguyện thư” gửi Chủ tịch Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc, Ðại diện cấp cao của Liên minh châu Âu về ngoại giao và chính sách an ninh, Bộ trưởng Ngoại giao các nước Anh, Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Ca-na-đa, Pháp, Ðức, Nhật, Hà Lan, Na Uy, Thụy Sỹ… “Thỉnh nguyện thư” trắng trợn vu khống Nhà nước Việt Nam kiểm duyệt internet, bắt giam tùy tiện và đối xử khắc nghiệt với “tù nhân lương tâm”, blogger và một số đối tượng “đấu tranh dân chủ ôn hòa”. Các đối tượng gửi “thỉnh nguyện thư” kêu gọi Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu và các quốc gia tự do cử đặc phái viên tới Việt Nam để điều tra về tình trạng vi phạm nhân quyền, yêu cầu Việt Nam tôn trọng Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, hủy bỏ các điều luật về an ninh quốc gia (điều 79, 87 và 88 Bộ luật Hình sự) và “thả ngay lập tức các tù nhân chính trị”! Luận điệu trong cái gọi là “thỉnh nguyện thư” không có gì mới, yêu sách đưa ra cũng đã nhàm, vì đó là mấy điều mà các thế lực thù địch vẫn lải nhải lâu nay.

Ðiều đáng nói là trong khi kêu gào như vậy, những kẻ chủ mưu sản xuất ra “thỉnh nguyện thư” cố tình phớt lờ, thậm chí phủ nhận nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền. Vì trên thực tế, Việt Nam luôn quan tâm mở rộng các kênh trao đổi về nhân quyền với Mỹ, EU và các nước khác thông qua các chuyến thăm, tìm hiểu thực tế hoặc đối thoại nhân quyền thường niên nhằm thu hẹp khác biệt trong quan điểm của các bên về vấn đề này. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia đi đầu trong việc thực hiện các công ước, tuyên ngôn, chương trình hành động của Liên hợp quốc, trong đó có Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Trong khi vu cáo Việt Nam vi phạm các nội dung của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị thì những kẻ chủ mưu “thỉnh nguyện thư” lại phớt lờ một vấn đề cốt lõi. Ðó là chính các văn bản này đã quy định việc thụ hưởng nhân quyền phải tuân thủ quy định của pháp luật và các nghĩa vụ, trách nhiệm đặc biệt để “tôn trọng các quyền và uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe và đạo đức xã hội”. Ðó cũng là lý do để Việt Nam ban hành và thực thi Bộ luật Hình sự, trong đó có các quy định về “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (Ðiều 79), “Tội phá hoại chính sách đoàn kết” (Ðiều 87) và “Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” (Ðiều 88). Cần khẳng định đây là việc làm cần thiết để bảo đảm an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân. Ở Việt Nam không có “tù nhân lương tâm” hay “tù nhân chính trị” như các thế lực thù địch vẫn rêu rao, mà chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật cần phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

Bên cạnh việc xuyên tạc, bóp méo sự thật và đưa ra các yêu sách vô căn cứ, cách thức ký tên vào “thỉnh nguyện thư” cũng rất kỳ quặc. Người tham gia chỉ việc điền họ tên (bất kể tên thật hoặc tên giả), tên thành phố và quốc gia cư trú rồi xác nhận bằng địa chỉ email. Với phương thức này, một người có thể tự lập hàng chục, thậm chí hàng trăm email ảo để tham gia ký “thỉnh nguyện thư”. Do đó, số người tham gia do SBTN công bố thực chất chỉ là con số ảo, vì không thể kiểm chứng. Thêm nữa, theo danh sách ký vào “thỉnh nguyện thư” có thể nhận ra những cái tên quen thuộc, có tiền sử chống Việt Nam về dân chủ, nhân quyền như Dân biểu Hạ viện Mỹ Loretta Sanchez, các đối tượng thuộc tổ chức khủng bố thuộc “đảng Việt Tân” (như Ðỗ Hoàng Ðiềm, Hoàng Tứ Duy) hay những đối tượng từng bị chính quyền Việt Nam bắt giữ, xét xử vì các hành vi tuyên truyền, chống phá Nhà nước như Nguyễn Văn Ðài, Bùi Thị Minh Hằng, Trần Khải Thanh Thủy, Nguyễn Hữu Giải,…

Bước tiếp theo trong chiến dịch “triệu con tim, một tiếng nói” là kêu gọi cộng đồng gọi điện thoại hoặc fax 24/24 giờ đến Ðại sứ quán hoặc Lãnh sự quán Việt Nam trên toàn thế giới. Tác giả của màn kịch “triệu con tim, một tiếng nói” gọi đây là hành động “biểu tình qua điện thoại và fax”. Ðể làm việc này, thông qua website của SBTN và một trang mạng khác, họ cung cấp danh sách và số điện thoại của các cơ quan đại diện Việt Nam; đồng thời hướng dẫn chi tiết cách thức, nội dung gọi điện thoại và fax, đề nghị người tham gia sao chép lại nội dung trao đổi để phát tán trên các mạng xã hội như facebook, Youtube, blog… Hành động quấy nhiễu hệ thống thông tin liên lạc của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thể xem là một biến tướng của khủng bố thông tin. Ðây là loại hình khủng bố mới xuất hiện khi công nghệ thông tin phát triển. Theo Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài ban hành năm 2009, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài (Ðại sứ quán, Lãnh sự quán) có nhiệm vụ thúc đẩy quan hệ chính trị – xã hội, quốc phòng – an ninh, văn hóa, phục vụ phát triển kinh tế đất nước, đồng thời thực hiện nhiệm vụ lãnh sự như liên hệ, tiếp xúc với công dân Việt Nam trong trường hợp họ bị bắt, tạm giữ, tạm giam, xét xử hoặc đang chấp hành hình phạt tù tại quốc gia tiếp nhận; cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cấp đổi, cấp lại, hủy bỏ các loại hộ chiếu, giấy thông hành và giấy tờ khác có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh Việt Nam, cấp và gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cấp lại, hủy bỏ thị thực và giấy miễn thị thực của Việt Nam… Việc duy trì sự thông suốt mạng lưới thông tin của các cơ quan đại diện ở Việt Nam ở nước ngoài là tối cần thiết. Hành động khủng bố hệ thống điện thoại và fax của các cơ quan đại diện Việt Nam sẽ cản trở hoạt động của các cơ quan đại diện, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, pháp nhân và tác động trực tiếp tới lợi ích của chính cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài, vì thế cần phải lên án nghiêm khắc và cần phải xử lý.

Vậy đằng sau chiến dịch “triệu con tim, một tiếng nói” là gì? Thực ra, đây không phải là lần đầu tiên SBTN phát động chiến dịch “thỉnh nguyện thư”. Trước đó, từ ngày 8-2 đến ngày 5-3-2012, Trúc Hồ (SBTN) đã phối hợp với Nguyễn Ðình Thắng và Tổ chức cứu người vượt biển – BPSOS, phát động chiến dịch “thỉnh nguyện thư” trên diễn đàn We the people của Nhà Trắng để kêu gọi chính quyền Mỹ gây sức ép với Việt Nam để thả Việt Khang (đối tượng bị cơ quan An ninh Việt Nam bắt giữ vì có hành vi tuyên truyền chống Nhà nước), kêu gọi Mỹ “chấm dứt phát triển thương mại với Việt Nam nếu không cải thiện về nhân quyền”. Tuy nhiên, cái gọi là “chiến dịch thỉnh nguyện thư” đó đã thất bại thảm hại, bộ mặt thật của mấy kẻ chủ mưu đã bị người Việt ở nước ngoài vạch trần. Họ cho rằng, SBTN và BPSOS đã lừa đảo và lợi dụng cộng đồng để mưu lợi cho tổ chức. SBTN bị cáo buộc lợi dụng “chiến dịch” này để thu lợi từ quảng cáo, tăng số lượng thuê bao để tránh bị Hệ thống truyền hình vệ tinh Direc TV cắt sóng (vì từ năm 2006, số lượng thuê bao của SBTN bị sụt giảm liên tục xuống dưới mức quy định). Không phải ngẫu nhiên mà Trúc Hồ giúp mấy “nhà dân chủ”, liên tục phát động các “chiến dịch thỉnh nguyện thư vì dân chủ nhân quyền”. Ðằng sau những mục tiêu mà SBTN đưa ra để mị dân, là những toan tính của Trúc Hồ để gây tiếng vang, chứng minh ảnh hưởng của SBTN. Hơn nữa, núp sau “chiến dịch triệu con tim, một tiếng nói” là các tổ chức đã có tiền sử chống phá Việt Nam như “Nhân quyền cho Việt Nam”, “đảng Việt Tân”, “Tổ chức Dân chủ nhân dân”,… Các tổ chức này đang hà hơi, tiếp sức cho chiến dịch của SBTN để đánh bóng tên tuổi, làm dày “thành tích chống cộng”, thu hút sự chú ý của cộng đồng và các thế lực cực hữu nhằm dễ bề vận động tài chính.

Là một đài truyền hình, lẽ ra SBTN phải đi đầu trong việc cung cấp thông tin trung thực, khách quan về tình hình Việt Nam, giúp cộng đồng người Việt tại Mỹ hiểu thêm về đất nước, từ đó góp phần xây dựng và phát triển đất nước, đó là cái tâm và cái đích mà người làm báo chân chính hướng tới. Nhưng SBTN lại đi chệch hướng, tự biến mình trở thành công cụ của các tổ chức đội lốt nhân quyền để chống phá Việt Nam. Việc làm đó không mang lại vinh dự và uy tín mà trái lại chỉ càng làm cho hình ảnh của SBTN thêm xấu xa. Chính vì thế, chắc chắn cái gọi là chiến dịch “triệu con tim, một tiếng nói” sẽ thất bại thảm hại, như các “chiến dịch” do SBTN phát động trước đây mà thôi.

LAM SƠN
treonline.vn

Categories: Diễn biến hòa bình

GÓP Ý HAY LỢI DỤNG ĐỂ XUYÊN TẠC ?

Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) đã kết thúc, nhưng sự kiện này tiếp tục được các báo, đài , trang mạng điện tử của bọn phản động ở nước ngoài có định kiến cố hữu với Việt Nam bàn tán, vẽ rồng vẽ rắn , thêm thắt và đặc biệt hướng dư luận vào mục tiêu công kích sự lãnh đạo của đảng CSVN và sự điều hành yếu kém của chính phủ. Các thông tin về kết quả của hội nghị đã được các cơ quan truyền thông ở Việt Nam loan tải rất chi tiết, cung cấp kịp thời cho mọi người dân Việt Nam trong và ngoài nước được biết , vậy mà vẫn có những người đã cố tình xuyên tạc một cách lố bịch rằng “đó chẳng qua là cuộc tắm rửa qua loa của nội bộ Đảng?” hay “Đảng đang hát cho nhau nghe…?” và họ lớn tiếng “Nhân dân quá thất vọng về kết quả của hội nghị này…?” Đặc biệt có những người luôn được các đài Việt ngữ như RFA, RFI “bơm thổi” trong các cuộc phỏng vấn đã lợi dụng tự do ngôn luận kích động , quy kết, xuyên tạc đường lối chủ trương chích sách của chính phủ Việt Nam . Trong cuộc phỏng vấn của đài RFI Việt ngữ ngày 22-10-2012 với một vị ở trong nước đã nói “Ngay trong hội nghị trung ương, ông Tổng bí thư đã khẳng định, Nhà nước của ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nghĩa là không công nhận tam quyền phân lập. Mà không công nhận tam quyền phân lập thì làm sao thì gọi là Nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của nó được!.”và “Vì dân không được pháp luật bảo vệ, luật pháp của ta trong thời gian qua biểu hiện sự yếu kém một cách không thể nói gì thêm được nữa?”. Những phát ngôn này hòa toàn sai trái với những gì mà cả một quá trình lịch sử đã diễn ra từ khi thành lập nước Việt Nam cho đến ngày hôm nay.

Chúng ta hãy nhìn vào lịch sử thì thấy ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trên cương vị Chủ tịch nước, đã chỉ đạo xây dựng bộ máy Nhà nước và hệ thống luật pháp thật sự vì dân, do dân và của dân. Nhà nước đó có nhiều đóng góp to lớn trong xây dựng và bảo vệ đất nước thiết thực phục vụ lợi ích của nhân dân. Công việc đầu tiên có ý nghĩa vô cùng quan trọng là đề nghị Chính phủ và toàn dân cần làm là: Tổng tuyển cử trong cả nước và xây dựng Hiến pháp của nước Việt Nam mới.Hiến pháp năm 1946 là kết quả trực tiếp của Cách mạng Tháng Tám đồng thời về cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với xây dựng nhà nước vì dân, do dân, của dân.Vấn đề cốt lõi trong tư tưởng đó là trong xây dựng nhà nước pháp quyền vì dân là lợi ích và quyền lực thuộc về nhân dân do Đảng lãnh đạo. Đây là căn cứ để phân biệt bản chất nhà nước của Việt Nam mới với các kiểu nhà nước khác .Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân bầu ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Nhà nước Việt Nam là cơ quan công quyền được nhân dân ủy quyền thay mặt cho dân quản lý xã hội, lo cho dân chứ không phải “đè đầu, cưỡi cổ dân”, phải lấy việc đưa lại quyền lợi cho nhân dân làm mục tiêu hoạt động của mình. Tất cả mọi đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Chính phủ đều chỉ nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Đồng thời phải làm cho bộ máy nhà nước thật sự trong sạch, chống đặc quyền, đặc lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo từ rất sớm những căn bệnh của bộ máy nhà nước như cậy thế, hủ hóa, tư túi, chia rẽ, kiêu ngạo, vác mặt “quan cách mạng” ra lệnh, ra oai. Ngày 21-1-1946,  ký quốc lệnh khép tội tham ô, trộm cắp của công vào tội tử hình. Những quyết định trong thời điểm đất nước vừa giành được độc lập  tỏ rõ ý chí, quyết tâm xây dựng một nhà nước mới trong sạch, thật sự dân chủ, nêu cao tinh thần thượng tôn pháp luật và quan trọng hơn cả là đã ngăn chặn có hiệu quả các căn bệnh cùng các tệ nạn trong đội ngũ cán bộ, công chức. Đồng thời cho thấy cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham ô, lãng phí rất gian nan, khó khăn lâu dài.

Việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và một số nội dung cần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng đặt ra những yêu cầu mới trong việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền . Cương lĩnh xây dựng đất nước  (bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ: Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, quyền lực Nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo đó, Nhà nước Việt Nam đang xây dựng phải là một Nhà nước đủ khả năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội bằng pháp luật, chăm lo, phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi người dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân, nhà nước pháp quyền thể hiện nhất quán sự kết hợp giữa dân chủ và pháp luật. Dân chủ phát triển đi liền với pháp luật nghiêm minh. Và bao trùm lên tất cả đều vì con người, do con người và cho con người, bảo đảm quyền con người gắn liền với trách nghiệm, nghĩa vụ của mỗi người. Có thể thấy rất rõ, đó là sự kết hợp hài hòa, phát triển sáng tạo về nhà nước pháp quyền đã kế thừa những tinh hoa của nhân loại , coi trọng quản lý nhà nước bằng pháp luật. Đó là pháp trị, là nhà nước pháp quyền. Đồng thời  chủ trương đức trị, thực hành dân chủ rộng rãi, ra sức bảo vệ quyền tự do dân chủ cho nhân dân, lấy đức để giáo dục và cảm hóa con người, yêu thương, quý trọng nhân dân.

Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước dân. Nhà nước của nhân dân thì “bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Tất cả các cơ quan Nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. Quyền con người chỉ thực sự được tôn trọng, bảo đảm và thực hiện đầy đủ trong điều kiện nhận thức của những quyền và nghĩa vụ đạt một trình độ ý thức tự giác cao được chuyển hóa thành hành động thực tiễn cụ thể. Ý thức sâu sắc về việc tôn trọng, bảo đảm và thực hiện các quyền con người là một đòi hỏi tất yếu và quan trọng hàng đầu của những người đại diện cho nhân dân thực thi quyền lực công. Nhà nước pháp quyền  của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân sẽ không thể được xác lập hoàn toàn nếu thiếu vắng việc thực hành các quyền và tự do dân chủ rộng rãi của mọi người dân.

Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân. Nhân dân đồng lòng, việc gì dù khó mấy cũng làm được; dân không ủng hộ, việc dễ mấy cũng khó khăn, có khi thất bại. Mất lòng dân là mất tất cả. Chính phủ Việt Nam hiểu rằng có dân là có tất cả. Phải “đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợi cho dân”. Các thế lực thù địch với Việt Nam và những kẻ lợi dụng “nước đục thả câu” núp bóng với cái gọi là “góp ý”….nên hiểu rằng mọi ý đồ suy diễn, bẻ cong sự thật hòng mục đích vu khống sẽ không đạt được kết quả . Mỗi một người dân Việt Nam cả trong và ngoài nước hãy nêu cao ý chí và lòng yêu nước, tích cực học tập, lao động sáng tạo, đóng góp nhiều ý kiến để xây dựng Nhà nước Việt Nam thật sự là Nhà nước pháp quyền  của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Texas-Hoa kỳ-22-10-2012
Amari TX

Categories: Diễn biến hòa bình

Từ hải ngoại nghĩ về các “nhà dân chủ”

Nhiều năm trở lại đây, một số tổ chức và cá nhân ở nước ngoài, nấp dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”, thường đưa ra nhận xét, đánh giá xuyên tạc vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam; đáng tiếc là việc làm của các tổ chức, cá nhân này lại được một số nhân vật tự nhận là “nhà dân chủ” ở trong nước phụ họa theo. Bức xúc trước vấn đề này, từ Hoa Kỳ, tác giả Trần Mai gửi tới Báo Nhân Dân bài Từ hải ngoại nghĩ về các “nhà dân chủ”. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Tôi muốn bàn về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam khi một số tổ chức phản động cực đoan của người Việt ở nước ngoài và một số phần tử cơ hội ở trong nước được sự “bảo kê” của một số cơ quan truyền thông, một số tổ chức nhân danh “dân chủ, nhân quyền” hỗ trợ tài chính qua các loại “giải thưởng”; từ đó xuyên tạc, bóp méo sự thật, rồi tung hô nhau là “nhà dân chủ” nhằm dễ bề lôi kéo dư luận khi bị pháp luật Việt Nam trừng phạt. Trước đây, tôi từng tranh luận với một người bạn là nhà báo tại Hoa Kỳ về đề tài dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam. Khi đó, người bạn tôi đang bị cái vòng “kim cô” chống cộng cực đoan (CCCÐ) siết chặt, dù các luận điểm anh đưa ra đều bị bẻ gãy, nhưng anh vẫn “không phục”. Tôi nói với anh: “Theo tôi, khi viết bằng tất cả niềm tin vào sự thật thì chắc chắn không ai buộc  tội mình được. Không chỉ nhà báo mới có cơ hội tiếp cận sự thật, nhà báo cũng không hẳn phải là người duy nhất vạch ra chân lý. Nhưng lương tâm của người cầm bút là biết hướng dư luận đi tới chân lý, sự thật”. Anh bạn tôi lắng nghe, không nói gì.

Tuy sinh sống ở nước ngoài, nhưng là người con của dân tộc Việt Nam nên tôi biết, trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đôi khi có cá nhân, tổ chức đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, thậm chí có người cam tâm phản bội. Gần đây, có người vì bất mãn, hoặc mờ mắt khi được các thế lực thù địch tâng bốc, hứa hẹn, đã bị các tổ chức xấu ở hải ngoại lợi dụng để chống lại Nhà nước Việt Nam, v.v. Tiếc thay, trong đó lại có một vài người được coi là trí thức. Từ việc họ làm, từ lời lẽ họ đưa ra, tôi thấy dường như họ đã trút bỏ những thứ mà gần như cả cuộc đời họ theo đuổi, rồi sám hối về một số việc họ cho là “lỗi lầm”. Trong đó có người như là con kỳ nhông, sẵn sàng đổi màu để trở thành “nhà dân chủ”, để được các thế lực thù địch ngợi ca, đưa ảnh lên in-tơ-nét như là “anh hùng”, được nhắc tới tên trong thông báo hay lời kêu gọi của các tổ chức chưa bao giờ có thiện chí với Việt Nam. Theo dõi trên các phương tiện truyền thông ở hải ngoại, những người Việt luôn hướng về Tổ quốc như chúng tôi đã thấy họ chỉ là những con người cơ hội. Ðối với họ, quá khứ đau thương của dân tộc đã không còn ý nghĩa, mà tương lai cuộc “đấu tranh” của họ thì lại mơ hồ và ảo vọng; nếu thời thế đổi thay, có khi họ lại biến hình thành người khác!

Trước tiên, xin điểm qua mấy “nhà dân chủ, nhân quyền” ở hải ngoại, đó là người mà dân thường như chúng tôi vẫn gọi là các ông bà “mặt trơ trán bóng”. Họ là người có bề dày “thành tích bất hảo”, thành thạo trong việc vu khống, chống phá Nhà nước Việt Nam, trong đó có người mấy chục năm nay chỉ làm cái việc xấu xa là lập ra các “tổ chức ma” để lừa bịp và quyên góp tiền bạc của người Việt không có điều kiện tìm hiểu hiện tình đất nước. Có thể kể ra Nguyễn Ngọc Bích, Võ Văn Ái, Nguyễn Tường Bách, rồi Ðoàn Viết Hoạt, Nguyễn Minh Cần, Nguyễn Hữu Lễ, Phạm Ngọc Lũy, Nguyễn Quốc Quân,… Những người này đã hợp bè kết đảng với nhau, tự xưng là “mạng lưới nhân quyền Việt Nam”. Họ tiến hành vô số hoạt động CCCÐ, hằng năm trao “giải thưởng nhân quyền” cho các phần tử chống đối ở quốc nội. Các giải này được trao theo kiểu “anh trước em sau”, người nào rồi cũng có. Người nhận giải là  các nhân vật có hành vi vi phạm pháp luật đã bị Tòa án Nhân dân tuyên án, như Trần Anh Kim, Ðỗ Nam Hải, Nguyễn Chính Kết, Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Văn Lý, Thích Quảng Ðộ, Nguyễn Ðan Quế, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần,… Không phải bà con ở hải ngoại không biết họ là ai, chúng tôi biết họ chỉ là mấy “nhà dân chủ cuội” và đã có rất nhiều ý kiến vạch rõ bản chất của họ, cùng những lời phê phán họ trên các phương tiện truyền thông ở hải ngoại.

Theo chỗ tôi được biết, hiện nay trên thế giới có hai cách tiếp cận quyền con người: thứ nhất, nhân quyền là quyền tự nhiên, không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa, ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào và không một chủ thể nào, kể cả nhà nước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người; thứ hai, quyền con người không phải là bẩm sinh và vốn có, mà phải do nhà nước quy định trong pháp luật; và đây là quan điểm đã được phần lớn các quốc gia trên thế giới vận dụng trong khi thực thi quyền con người. Ðiều này là đúng đắn, cần thiết, bởi đối với các chế độ chính trị – xã hội đề cao quyền con người, ngoài yêu cầu về tính văn hóa, mà trước hết và trực tiếp là các chuẩn mực đạo đức, việc mỗi người thực thi quyền của mình như thế nào để không làm ảnh hưởng tới quyền của người khác, việc giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, việc hạn chế các cơ quan hành pháp, cá nhân có trách nhiệm có thể vi phạm quyền con người,… phải được đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của pháp luật. Về vấn đề này, ngài Sérgio Vieira De Mello, nguyên Cao ủy nhân quyền Liên hợp quốc, người đã tử nạn khi đang làm việc tại Iraq năm 2003, từng phát biểu: “Văn hóa nhân quyền có được sức mạnh lớn nhất từ những mong muốn và hiểu biết của mỗi cá nhân. Trách nhiệm bảo vệ nhân quyền thuộc về các nhà nước. Nhưng chính những hiểu biết, tôn trọng, mong muốn về nhân quyền của mỗi cá nhân là điều mang lại kết cấu và sức bật hằng ngày cho nhân quyền”.

Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, nhân quyền luôn là vấn đề được các chế độ chính trị – xã hội quan tâm, song không phải chế độ chính trị – xã hội nào cũng thật sự quan tâm bảo đảm về nhân quyền. Các “nhà dân chủ” trong nước thử nhìn sang những nước khác, bên một số ít quốc gia ở Bắc Âu có sự quan tâm nhất định, thì tại nhiều nước khác, việc vi phạm nhân quyền, chà đạp lên quyền con người,… vẫn khá phổ biến. Ngay tại Mỹ, nơi chúng tôi đang sống, nhân quyền nhiều khi cũng chỉ là câu khẩu hiệu, bởi tình trạng phân biệt chủng tộc, tình trạng bạo lực trong trường học, việc xả súng bừa bãi,… vẫn tồn tại trong thời gian dài. Chẳng hạn theo số liệu của FBI, mỗi năm ở Mỹ có tới 30 nghìn người bị chết do các vụ bạo lực liên quan đến súng. Các “nhà dân chủ” ở quốc nội nên hiểu rằng, quốc gia có mô hình xã hội mà họ muốn mô phỏng và xây dựng ở Việt Nam, lúc nào cũng sử dụng trò chơi hai mặt, họ chỉ bảo vệ quyền lợi của họ mà thôi. Hình như các “nhà dân chủ” ở quốc nội không thật sự hiểu được những lời ban tặng từ hải ngoại, để rồi biến mình thành con rối đáng thương. Vâng, nếu đất nước không có dân chủ và nhân quyền, người gốc Việt từ khắp năm châu đã không trở về nước làm ăn, sinh sống. Bản thân tôi cũng vậy, vì công việc và gia đình nên tôi không thể như người khác, nhưng hằng năm tôi vẫn trở về, và được tận mắt chứng kiến bao sự đổi thay trên quê hương, đất nước. Ðể nhìn rõ tính khách quan của vấn đề, tôi dẫn lại kết quả nghiên cứu của Viện Phát triển quốc tế Harvard thuộc Ðại học Harvard (Hoa Kỳ) sau khi khảo sát Việt Nam, nhà nghiên cứu Dam Fforde đánh giá: “Việt Nam có được những lợi thế chính trị quan trọng. Lên nắm quyền qua chiến tranh và cách mạng chứ không phải do lực lượng bên ngoài áp đặt, năm 1975, Ðảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu một hệ thống chính trị nhất thể với một quyền lực và tính hợp pháp không bị ai thách thức. Sau ba thập kỷ đấu tranh, Ðảng đã loại mọi đối thủ và khôi phục Việt Nam thành một nước độc lập và thống nhất. Ban lãnh đạo của Ðảng nằm trong số ổn định và thật sự nhất trí trong thế giới cộng sản, đảng viên của Ðảng bao gồm một phần lớn những người tận tụy và yêu nước nhất ở Việt Nam. Hơn nữa, đó là một đảng mà sự tồn vong và thắng lợi cuối cùng đã dựa vào việc huy động sự ủng hộ của quần chúng”.

Ðương nhiên, chúng tôi cũng hiểu rõ những thách thức mà Ðảng Cộng sản Việt Nam có thể gặp phải trong vai trò là đảng cầm quyền. Một vấn đề khách quan luôn có thể đặt ra với bất kỳ đảng cầm quyền nào, là khả năng bị tha hóa bởi lạm quyền và quan liêu hóa. Ở hải ngoại, theo dõi Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), gần đây là Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XI), chúng tôi thấy Ðảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp tục chứng tỏ sự nghiêm túc khi nhìn thẳng vào sự thật, không che giấu khuyết điểm và hạn chế, từ đó đề ra các giải pháp cấp bách và cơ bản để khắc phục, đưa đất nước đi lên. Từ đầu năm đến nay, chúng tôi thấy rất rõ sự quan tâm, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước khi Ðảng Cộng sản Việt Nam quyết tâm tiến hành các giải pháp cấp bách, cơ bản để xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Nhiều hành động công khai và minh bạch đã được tiến hành, thể hiện quyết tâm lớn trong  chống tiêu cực,  tham nhũng, hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Ðó là thông điệp rõ ràng, báo hiệu sự chuyển mình mạnh mẽ vì quyền lực và lợi ích của nhân dân, vì một nền dân chủ rộng rãi cho mọi người. Chúng tôi hiểu, việc một số tổ chức, cá nhân đặt vấn đề Việt Nam vi phạm quyền con người và đàn áp người bất đồng chính kiến, cần thực hiện “tam quyền phân lập”,… thực chất là vu khống, xuyên tạc, thiếu thiện chí, không phản ánh đúng đắn tình hình trong nước thời gian qua. Trước sự thật không thể bác bỏ ấy, chúng tôi nghĩ, nếu các “nhà dân chủ” ở trong nước thực tâm mong muốn xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước được giữ vững, mọi người đều được tạo điều kiện để phát triển,… thì nên làm những việc ích nước, lợi dân. Hãy cống hiến và cùng toàn dân xây dựng Tổ quốc Việt Nam hùng cường. Hãy là người Việt Nam chân chính để chúng tôi có thể học hỏi và noi theo.

TRẦN MAI (Hoa Kỳ)
amaritx.wordpress.com

Categories: Diễn biến hòa bình

MÕ LÀNG – ĐÀI RFA

Mõ làng RFA – xuyên tạc bóp méo sự thật về Việt Nam.

Goebel, Bộ trưởng tuyên truyền của Đức quốc xã nói: “Một sự việc dầu sai, không đúng sự thật nhưng chúng ta cứ nhắc đi nhắc lại nhiều lần, lúc đầu dân không nghe, còn bán tín bán nghi, nhưng nhắc mãi thì dân tin đó là sự thật.”

Đài RFA không những “kế thừa” tư tưởng của bọn phát xít mà còn biến hoá trong thời đại thông tin điện tử toàn cầu một cách tinh vi, thủ thuật ngày càng đa dạng, xào nấu tin tức, tẩm màu, pha trộn cho bắt mắt, gia giảm phụ gia cho hợp khẩu vị của đối tượng “khách hàng”. Trong nhiều năm qua đài RFA không ngừng xuyên tạc, bóp méo thông tin, dựng chuyện, đưa thông tin kiểu mập mờ, tung hoả mù bội nhọ chính phủ và dân tộc ViệtNam. Tại sao đài RFA lại có kiểu đưa tin hằn học như vậy, ta tìm hiểu sơ lược về cái “loa” mõ làng này.

Đài Á châu tự do RFA viết tắt  (Radio Free Asia ) được thành lập trong thời gian Chiến tranh lạnh (năm 1950), dưới sự quản lý của CIA, với mục tiêu chính là tuyên truyền đường lối của BU (Mỹ) bằng tiếng địa phương đến các quốc gia mà BU xem là kẻ thù. Đến năm 1971 CIA chuyển quyền điều hành đài RFA sang cơ quan có tên là  BIB viết tắt (Board of International Broadcasting) do tổng thống BU bổ nhiệm và chỉ đạo.

Đến năm 1994, Quốc hội BU thông qua dự luật truyền thông quốc tế, và RFA chính thức trở thành một công ty tư nhân, bất vụ lợi. Tuy trên danh nghĩa là một công ty tư nhân, nhưng ngân sách của RFA lại được Quốc hội BU tài trợ dưới sự phân phối của Hội đồng quản trị truyền thông hay BBG (Broadcasting Board of Governors). Hiện nay, RFA phát thanh 9 thứ tiếng qua làn sóng ngắn và internet đến các nước Trung Quốc, Tibet, Miến Điện, Lào, Kampuchea, Việt Nam, và Bắc Hàn.

Bộ phận phát thanh tiếng Việt của “Mõ làng” RFA mà nhân sự chủ yếu là cờ vàng CCCĐ và hậu duệ của cờ vàng được BU (Mỹ) đào tạo thành những chiến binh trên mặt trận truyền thông, phục vụ cho quyền lợi của BU. Cho nên các “chiến binh” này vẫn còn mang trong đầu tư tưởng chống chính quyền hiện tại ở Việt Nam do Đảng Cộng Sản lãnh đạo. Vì được BU đào tạo nên RFA có vẻ nhà nghề hơn rất nhiều so với các đài Việt ngữ non nớt, rẻ tiền hoạt động kiểu chợ trời đưa tin lá cải, tin vỉa hè, hành nghề chửi bới và xuyên tạc tình hình Việt Nam một cách ngu xuẩn “Miệng thì to mà đầu như trái nho”  nghe cứ lộn mửa ở hải ngoại do các nhóm người Việt ở Mỹ điều hành .

“Mõ làng” RFA tỏ ra ma mãnh và “có nghề” hơn. RFA cố gắng tỏ ra ta đây có vẻ chuyên nghiệp hơn, như có cử phóng viên về Việt Nam “khảo sát” điểm được gọi là đang nóng “lấy tin”và thêm dầu vào lửa, có phỏng vấn các quan chức trong chính phủ Việt Nam. Với lối làm truyền thông theo kiểu Chiến tranh lạnh mà Bu (Mỹ) đã đúc kết cả mấy chục năm, không ngạc nhiên khi phần lớn các chương trình phát thanh của RFA hoàn toàn tập trung vào mục tiêu gây bất ổn định cho ViệtNam. Các “món ăn” tin tức được cải tiến và khai thác triệt để kích thích độc giả mà mục tiêu cuối cùng là “đầu độc” dư luận. Ta hãy xem cái ví dụ thực đơn này ra sao.

Món “Hương đồng gió nội” đã có Tiên Lãng, Văn Giang.

Món “âm phủ” có bô xít Tây Nguyên.

Món “Núi rừng cao nguyên lộng gió” xin thưa có Mường Nhé, người Thượng Tây Nguyên.

Món “hải sản”  Hoàng Sa, Trường Sa, dân đánh bắt cá bị Trung Quốc bắt tịch thu tàu …

Món “Rân trủ” có một số thực khách đã, đang và sẽ nằm bệ xi măng, ngủ theo tiếng kẻng.

Món “Tôn ráo” có em ngay Thái Hà, Tam Toà… Đồng chiêm.

Món “Nhân quền” có các nhân vật quậy phá đất nước, khoái chà bóng tên tuổi như chà đồ đồng ngày tết.

 v.v … v.v…

Chúng ta không thể liệt kê hết ra ở đây được. Nhưng món chủ lực nhất mà “Mõ làng” RFA đặc biệt khai thác, khuyến mãi, tiếp thị mạnh nhất là món ”Tự do – dân chủ – tôn giáo”. Đây đang là mốt thịnh hành, nghe ra món này tao nhã, sạch sẽ mà các món được tâng bốc ngoài tên trần tục ra phải thêm chữ “Nhà” cho hợp thời thượng. Có thể nói phần lớn các bản tin của “Mõ làng” RFA nói về Việt Nam là những bản tin trời ơi mà những vấn đề này  người dân Việt Nam chẳng thèm quan tâm thay vì những gì mà họ đã biết qua báo chí trong nước.

Rút kinh nghiệm “xương máu” trong nghệ thuật truyền thông từ những đài CCCĐ của nhóm người Việt mà chỉ sau một đêm mộng mơ sáng dậy đã trở thành “nhà báo”, “nhà đài” của đám người chưa qua nổi tiểu học trường làng bị các thực khách coi thường và khi dễ. “Mõ làng” RFA cũng ma quái hơn các đài xóm, ấp Bolsa  chống cộng kiểu ngu xuẩn ở chỗ cách hành văn, Mõ RFA sử dụng là ngôn từ thông dụng mà báo chí trong nước thường dùng, nghe có vẻ “Chính thống” không có kiểu gào thét hạ đẳng, lưu manh của đài CCCĐ/CCCC. RFA ma muội biết đổi màu theo hoàn cảnh cho hợp thời mà mục tiêu cuối cùng là đánh lừa được thực khách sau khi xơi xong món mà họ sao tẩm chế biến thì lăn đùng ra chết.

Cẩm nang của “khách mời”- RFA

Vì nằm trong vòng cương toả “Tiền” của Bu nên đám cờ vàng nhân viên trong đó có muốn “Văng” một ít thổ ngữ ra cũng khó. Mối quan hệ của BU và ViệtNam đã có nhiều thay đổi, cục diện trên bàn cờ thế giới có nhiều biến động nên cũng phải điều chỉnh liều lượng đầu độc trên mặt trận truyền thông cho hợp lý. Các “khách mời” thường xuyên được “ưu ái” của RFA là những tổ chức khủng bố, những tổ chức chống cộng cực đoan chống phá Việt Nam trong cộng đồng người Việt ở Mỹ, đó là những thành phần lưu manh và cơ hội chính trị, trục lợi, lường gạt kiếm tiền, những kẻ vô công rồi nghề, những kẻ ăn bám xã hội Mỹ, được dán vào mặt danh hiệu “nhà dân chủ”, “nhà nhân quyền”… như Võ Văn Ái, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đình Thắng, Trần Khuê, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Đài, Đỗ Nam Hải, v.v… Các “Nhà” này muốn “chà bóng” tổ chức, tên tuổi, và một yêu cầu không kém phần quan trọng đó là năng khiếu “Chém Gió” thì xin mời: RFA sẽ cho hít  khói “Đập đá” gợi ý “Cắn vài tép” thực đơn  trước khi phỏng vấn cho nó phê để “sao vàng hạ thổ” các món đưa ra cho thực khách nhận ra rằng: Ôi! sao xã hội ViệtNamthê thảm thế, sao mà người dân Việt khổ hơn “Chị Dậu” vậy ? Đảng và chính quyền đối xử với dân “tệ hơn vợ thằng đậu ” vậy?. Lạm phát như ngựa xích thố của Quan Công phi, chuẩn bị đổi tiền, tiền mệnh gía hàng 6 đến 9 số không sẽ ra đời. An ninh quốc gia ngàn cân treo sợi tóc. Nội bộ quan chức thì như “Xuân tóc đỏ”… Nói tóm lại là các ”Nhà” này phải tung, nổ làm sao cho thật thê lương, te tua, bình luận dự báo bi đát về tình hình ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản thì mới xứng đồng tiền bát gạo mà BU đã bỏ ra.

Các vị “khách mời” này được một công đôi chuyện, ngu gì mà không tham gia, đăng ký chờ đến lượt mình chườn mặt trên RFA ”Được ăn, được nói, được gói đem về”. Phỏng vấn chứ có ”Phỏng miệng” đếch đâu mà lo, sau khi nói vung xích chó, sùi bọt mép thì tên các “nhà” này được nhiều thực khách biết đến như những “nhà đối kháng” vậy thì có chuyện gì khi mà nhà nước Việt Nam đưa vào bảng “Phong thần” cần phải “chăm sóc” khâu bớt cái mỏ chuyên ăn tục nói phét thì gào tên BU ra.

Điều này nhiều khi lại có phản ứng “bật ngược” lại những gì mà “Mõ làng” RFA đang làm, nó không khác gì một diễn viên trên sân khấu đang mải mê trình diễn mà lúc cao hứng nhất bị đứt dây thun quần, tỷ dụ như thực đơn “Zân trủ” tung tẩy, vu khống rằng Việt Nam không có tự do, dân chủ. À!  không có vậy tại sao nhân viên của cái lò mõ RFA đi Về việt Nam lùng sục hết ngang cùng ngỏ hẻm để “Đãi” ra một ông ba vạ “Đối kháng” nào đó một cách thoải mái như vậy? Muốn gặp các quan chức nhà nước phỏng vấn có vị nào bị từ chối không? Khi về “bển” gọi điện thoại chí choé truyền tin giống bộ tộc rừng A- Ma- zôn gõ vào thân cây, ai cũng biết, vậy mà an ninh Việt Nam có thèm để ý đâu. Lại còn Bờ lốc, bờ léo tung xèng trên mạng vô tư thoải mái nào ai làm gì các vị? Thật là những con rối RFA chỉ thích làm mõ làng cho ngoại bang, cái này chắc có di truyền của cờ vàng CCCĐ.

Mõ làng RFA đang làm những việc tuyên truyền chống phá, nói xấu VN thì nó cũng đang khẳng định một điều  thói đạo đức giả, thói quen nói một đường làm một nẻo của BU (Mỹ). Trong khi BU luôn cao giọng rằng có nền báo chí tự do nhất thế giới, rằng BU “Never” kiểm soát báo chí, đặt điều, vu khốngViệt Nam không có tự do báo chí, vì tất cả các cơ sở truyền thông đều do Nhà nước quản lý?

Ờ mà mới nghe qua và không hiểu cặn kẽ “Đầu cua tai nheo” như cái đám truyền thông của người Việt ở hải ngoại mà nghe BU có mà “rang thóc giống”. Đúng là BU có nhiều đài báo tư nhân, nhưng đài báo phản ảnh quyền lợi của các công ty tài phiệt, nhóm chính trị tài phiệt. Mà quyền lợi của các các công ty tài phiệt cũng chính là quyền lợi của chính phủ của BU. Làm gì có chuyện ở nước BU có nền báo chí “tự do nhất thế giới”, chỉ có những kẻ đầu óc “Mộng mơ” mới tin vào điều đó.

Mõ làng RFA và các đài tư nhân khác trên đất nước BU cũng chỉ phục vụ cho chính sách tuyên truyền của BU. Nhận định về vai trò và cách làm việc của RFA, Catharin Dalpino thuộc Brookings Institution, người từng giữ chức phó thứ trưởng phụ trách nhân quyền trong Bộ ngoại giao dưới thời Clinton, gọi Radio Free Asia là “một sự phí tiền”. Bà Dalpino viết rằng: “Bất cứ khi nào chúng ta cảm thấy có một kẻ thù ý thức hệ, chúng ta thành lập một cơ sở phát thanh với cái tên Đài Tự Do Cái Gì Đó…”

Bà Dalpino từng duyệt qua các chương trình phát thanh của RFA và cho rằng đài này thiếu khách quan. “Họ nghiêng nặng về các bản tin và báo cáo của những người bất đồng chính kiến, những tổ chức phản động lưu vong. Nó chẳng có tin gì từ trong nước”.

Chỉ cách đây vài năm, bài học về vũ khí huỷ diệt phát hiện tạiIraqđã làm giới truyền thông Mỹ phải xấu hổ. Tháng 5-2004, tờ New York Times, đã đăng lời cáo lỗi độc giả do đã thông tin sai lệch về vũ khí huỷ diệt củaIraq. Tờ báo vẫn được coi là có ảnh hưởng sâu rộng nhất trên toàn nước Mỹ thú nhận rằng, Chính phủ Mỹ đã gây áp lực khiến họ phải đăng tải những cáo buộc vô căn cứ nhằm biện minh cho cuộc chiến tranhIraq. Vào thời điểm đó, không chỉ riêng New York Times, hàng loạt các tờ báo đã đăng tải thông tin dối trá này để làm người dân Mỹ ủng hộ một cuộc chiến tranh tiêu tốn hàng trăm tỷ USD, cướp đi sinh mạng của hàng trăm ngàn người.

Thông tin đăng tải trên báo chí được chuyển đến rất nhiều người và có thể gây ra những tác động xã hội to lớn. Dù được chọn để trở thành những người đưa thông tin đúng sự thật, nhiều phương tiện truyền thông đã bỏ qua đạo đức nghề nghiệp để trở thành công cụ phục vụ cho những mưu toan chính trị. Sự thật sẽ được phơi bày nhưng dưới những ngòi bút bị bóp méo, hậu quả khôn lường xảy ra mà không thể kiểm soát mới là điều đáng nói. Hành động chống phá , gây mất ổn định đối vớiViệtNamcủa đài RFA trong thời gian dài. Tất cả nếu núp dưới chiêu bài thời thượng là “dân chủ – nhân quyền – tôn giáo”, cũng chẳng nằm ngoài mục tiêu của BU (Mỹ).

Houston 5-12-2012
Amari tx

Categories: Diễn biến hòa bình | Tags:

Chống chiến lược “Diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với Cách mạng Việt Nam

A – MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA CHUYÊN TRANG CHONGPHANDONG!

Bồi dưỡng cho sinh viên nhận rõ được âm mưu, thủ đoạn chiến lược Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, thấy được ảnh hưởng tác hại và tính chất phức tạp, quyết liệt của cuộc đấu tranh trong sự nghiệp đổi mới hiện nay. Từ đó luôn nâng cao cảnh giác cách mạng, xác định trách nhiệm cùng toàn dân làm thất bại chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của chúng.

Yêu cầu nắm và hiểu được những âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của kẻ địch, đề cao cảnh giác; tích cực chủ động tham gia phong trào bảo vệ trị an, góp phần làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn đó, giữ vững ổn định mọi mặt của nhà trường và nơi mình sinh sống.

B – NỘI DUNG

I. CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH”, BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

1. Những hiểu biết chung về “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ

a) Khái niệm “Diễn biến hoà bình” bạo loạn lật đổ

Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, đứng đầu là Mĩ nhằm lật đổ chế độ chính. trị – xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự”.

Như vậy nội dung chính của diễn biến hòa bình là:

Sử dụng mọi thủ đoạn phi quân sự, kết hợp với răng đe quân sự để ngầm phá từ bên trông, tạo ra các lực lượng chính trị đối lập núp dưới chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền.

* Kích động các mâu thuẫn tôn giáo, dân tộc, sắc tộc.

*  Triệt để khái thác và lợi dụng những khó khăn, sai sót của Nhà nước hiện hành, tạo nên sức ép ngày càng lớn buộc lãnh đạo nhà nước phải từng bước chuyển hoá, thay đổi đường lối chính trị, nhường quyền lãnh đạo cho lực lượng đối lập.

Tác động của chiến lược diễn biến hòa bình là một trong những nguyên nhân đưa đến sự sụp đổ của nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô.

- Bạo loạn lật đổ:

Bạo loạn, là hành động chống phá bằng bạo lực có tổ chức của lực lượng phản động, gây rối loạn trật tự an ninh xã hội, nhằm lật đổ chính quyền tiến bộ (cách mạng) thiết lập chính quyền phản động ở địa phương hoặc trung ương. bạo loạn lật đỗ là một thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động trong chiến lược diễn biến hòa bình để xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.

Một số đặc trưng chủ yếu của bạo loạn lật đổ:

+ Bạo loạn lật đỗ là hoạt động bằng bạo lực có tổ chức của chủ nghĩa đế quốc và lực lượng phản động để chống phá các nước tiến bộ trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa.

+ Mục đích của bạo loạn lật đỗ nhằm lật đổ chính quyền tiến bộ thiết lập chính quyền phản động ở địa phương hoặc trung ương. Diễn biến hòa bình là quá trình tạo nên những điều kiện, thời cơ cho bạo loạn lật đỗ. Cả diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đỗ đều cùng bản chất phản cách mạng trong âm mưu chống phá các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa.

Ngoài hai khái niệm trên, cần lưu ý đến hành động gây rối. Đó là hành động quá khích của một số người làm mất ổn định trật tự, an toàn xã hội ở một khu vực (thường là hẹp) trong một thời gian nhất định (thường là ngắn).

Đối với gây rối cần chú ý:

+ Gây rối thường diễn ra tự phát hoặc do các phần tử chống đối trong xã hội kích động, đôi khi lôi kéo được một bộ phận quần chúng tham gia (quần chúng quá khích, hiếu kì…).

+ Gây rối có thể bị địch lợi dụng như cuộc tập dượt hoặc bước mở màn cho bạo loạn.

b) Quá trình hình thành phát triển chiến lược diễn biến hòa bình:

Diễn biến hòa bình lúc đầu chủ nghĩa đế quốc sử dụng như là một phương thức, thủ đoạn luôn gắn với chiến lược quân sự, hỗ trợ cho chiến lược quân sự, dần dần phát triển thành một chiến lược hoàn chỉnh trong chiến lược phản cách mạng toàn cầu của chúng. Quá trình đó được diễn ra sơ lược như sau:

- Những năm của thập kí 40 – 50 (Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc (1945).

- Ngày 22 tháng 12 năm 1946 người đại diện của M ở Liên Xô, đã trình lên Chính phủ M kế hoạch chống Liên Xôtoàn diện: bao vây quân sự; phong toả kinh tế; lật đổ chính trị; có thể dùng vũ lực can thiệp.

Cũng thời gian này, giám đốc CIA (cơ quan tình báo Mĩ) tuyên bố: Mục tiêu là phải gieo rắc ở Liên Xô sự hỗn loạn và phải bắt đầu bằng chiến tranh tâm lí, thay giá trị của họ bằng đồ rởm và tìm mọi cách ủng hộ và nâng đỡ đám gọi là “nghệ sĩ” để họ truyền bá bạo lực, đồi trụy, chủ nghĩa vô liêm sỉ, phản bội. Tóm lại, mọi thứ vô đạo đức. Từ đó chiến tranh tâm lí chống Liên Xô được nâng lên hàng quốc sách ở Mĩ, gọi là chiến tranh tâm lí tổng lực. Trong hai năm 1949 – 1950, Mĩ đã chi 50 triệu đô la cho hoạt động chiến tranh tâm lí, năm 1949 Mĩ lập Uỷ ban Châu Âu tự do có đài phát thanh riêng (đài phát thanh “Châu Âu tự do”).

Như vậy đến thập kỹ 50, ý tưởng diễn biến hòa bình đã được bổ sung cho chiến lược tiến công quân sự.

- Những năm 60 Tổng thống John F. Kennedy (J. Kennơđi) đưa ra chiến lược hoà bình, với chính sách “mũi tên và cành ô lưu”. Từ đây diễn biến hòa bình bước đầu trở thành chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và luôn đi bên cạnh sức mạnh quân sự.

- Những năm 70, Tổng thống Richard Nixon (R. Nich-xơn) triệt để sử dụng chính sách ngoại giao “cây gậy và củ cà rốt”. Với chính sách này, Mĩ vừa đe doạ bằng sức mạnh quân sự, vừa mua chuộc bằng lợi ích kinh tế nhằm khuất phục các nước, nhất là các nước chậm phát triển. Trên thực tế, một mặt tiếp xúc hoà hoãn với các nước xã hội chủ nghĩa: Tiến hành thẩm thấu tư tưởng và văn hoá, gieo rắc hạt giống phá hoại từ bên trong; thực hiện đối thoại thay cho đối đầu đối với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Đàm phán trên thế mạnh là một phương sách của R.Nixon để thực hiện diễn biến hòa bình trong giai đoạn này.

- Những năm 80, lúc này các nước xã hội chủ nghĩa thực hiện cải tổ, cải cách, đổi mới, đây là một chủ trương đúng đắn nhằm làm cho xã hội chủ nghĩa  phát triển. Nhưng quá trình thực hiện, có một số sai lầm, kẻ địch lợi dụng và chúng dùng diễn biến hòa bình ráo riết tiến công nhằm làm các nước xã hội chủ nghĩa sụp dỗ.

Năm 1988, R. Nixon xuất bản cuốn sách “1999 chiến thắng không cần chiến tranh”. ĐÓ là cơ sở làm mốc cho sự hoàn chỉnh chiến lược diễn biến hòa bình về lí luận. Năm 1989, Tổng thống George Bush (G. Bu-sơ) đi thăm một số nước xã hội chủ nghĩa Đông âu: Ba Lan, Hunggari, đã phát hiện ra những mâu thuẫn trong nội bộ Đảng Cộng sản và những sai lầm của Đảng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. G. Bush đã xúc tiến nhanh chóng học thuyết “Vượt trên ngăn chặn”. Và vào cuối những năm 80 đầu những năm 90, diễn biến hòa bình được chủ nghĩa đế quốc thực hiện ráo riết, nó trở thành một chiến lược tiến công mạnh mẽ vào các nước xã hội chủ nghĩa Đông âu và Liên Xô, làm cho các nước này nhanh chóng bị sụp đổ.

Tóm lại diễn biến hòa bình có một quá trình hình thành phát triển khá rõ nét. Quá trình đó theo một trình tự, lúc đầu là một phương thức, một thủ đoạn dần phát triển thành một chiến lược hoàn chỉnh nằm trong chiến. Lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ. Chiến lược đó luôn gắn với chiến lược quân sự của Mĩ.

2. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng Việt Nam:

Ngày 3 tháng 2 năm 1994, Mĩ tuyên bố bỏ cấm vận kinh tế với Việt Nam. Ngày 11 tháng 7 năm 1995, Mĩ tuyên bố bình thường hoá quan hệ Việt – Mĩ. Ngay đêm 11 tháng 7 năm 1995 Tổng thống Mĩ – Bil Clintơn (B. Clin-tơn) tuyên bố: “Việc bình thường hoá quan hệ của chúng ta với Việt Nam không phải là kết thúc nỗ lực của chúng ta. Chúng ta sẽ tiếp tục phấn đấu cho đến khi chúng ta có được những câu trả lời mà chúng ta có thể có”.

Chúng ta bắt đầu thảo luận các vấn đề nhân quyền với Việt Nam, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến tự do tín ngưỡng”.

“Tôi tin tưởng rằng việc bình thường hoá và tăng cường các cuộc tiếp xúc giữa người Mĩ và người Việt Nam sẽ thúc đẩy sự nghiệp tự do ở Việt Nam như đã từng diễn ra ở Đông Âu và Liên Xô trước đây”

Như vậy, âm mưu xuyên suốt của Mĩ đối với Việt Nam là, xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam càng nhanh càng tốt. Vì sao Mĩ và các thế lực thù địch lại luôn theo đuổi âm mưu đó. Các chiến lược gia phương Tây phân tích và cho rằng:

- Việt Nam là ngọn cờ đấu tranh cho độc lập dân tộc và đang kiên quyết nhất trong việc chống phá chủ nghĩa đế quốc.

- Nếu xoá bỏ được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, sẽ có thêm nhiều thuận lợi để xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở các nước còn lại và uy hiếp độc lập dân tộc của các nước khác.

- Có xoá bỏ được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Mĩ mới xoá được “Hội chứng Việt Nam” trên đất Mĩ.

Cùng với các lí do để xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, các chiến lược gia của Mĩ cũng thấy được các trở ngại khi thực hiện âm mưu trên:

- Việt Nam có một Đảng Cộng Sản giàu truyền thống, có đội ngũ kế cận vững vàng.

- Đảng Cộng sản Việt Nam nắm rất chắc ngọn cờ dân tộc.

- Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không những không sụp đỗ như Đông Âu và Liên Xô mà còn tiến lên; lòng tin của nhân dân Việt Nam vào Đảng Cộng sản và chủ nghĩa xã hội ngày càng được củng cố.

Tình hình thực tế hiện nay chúng thực hiện diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đỗ chống phá cách mạng Việt Nam như thế nào ?

a) Mục tiêu:

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch của chủ nghĩa xã hội, luôn coi Việt Nam là một trọng điểm chống phá. Mục tiêu là xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, lôi kéo Việt Nam vào quỹ đạo của chúng. Mục tiêu đó không hề thay đổi.

b) Phương châm chỉ đạo:

Mềm, ngầm, sâu. Diễn biến hòa bình là chính kết hợp răn đe quân sự có lựa chọn và khi có thời cơ, xây dựng lực lượng phản động người Việt Nam ở trong và ngoài nước Việt Nam là chính: (ngụy quân, ngụy quyền cũ không cải tạo, lực lượng phản động trong dân tộc, tôn giáo, trí thức, văn nghệ sĩ, các phần tử thoái hoá biến chất, bất mãn trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và trong nhân dân ta); phá hoại càng cao, càng sâu càng tết, phá có trọng điểm, chui sâu leo cao vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, phá hoại kinh tế là trọng tâm.

c) Thủ đoạn hoạt động chủ yếu

Từ diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đỗ để tạo ra quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” từ trong nội bộ chúng ta: Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang và nhân dân. Thủ đoạn đó diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, vào mọi đối tượng trong đó tập trung trên một số lĩnh vực chủ yếu sau:

- Chống phá về chính trị tư tưởng:

Trọng tâm là xoá bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng làm tiêu tan nền tảng tư tưởng trong các tổ chức Đảng, tổ chức xã hội và mọi tầng lớp nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ. Bằng cách ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, hạ thấp hòng vô hiệu hoá chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, như việc chúng đòi xoá Điều 4 trong Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Phá vỡ hệ thống nguyên tắc tổ chức trong hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, đoàn thể và của toàn xã hội), làm mất hiệu lực của nguyên tắc tập trung dân chủ, là nguyên tắc tổ chức cao nhất của Đảng, Nhà nước ta.

 

Phá vỡ khối đại đoàn kết của toàn dân, của các tổ chức chính trị-xã hội. Bằng cách xuyên tạc, chia rẽ. làm cho nội bộ ta không tin nhau, nghi ngờ lẫn nhau, gây rối loạn nội bộ. Nhằm dễ cài cắm những quan điểm mơ hồ, những phần tử cơ hội, thậm chí phần tử phản động, thực hiện kế hoạch “kén làm tổ”, “chui sâu, leo cao” để ngầm phá ta từ bên trong lâu dài.

- Hoạt động phá hoại kinh tế

Hoạt động phá hoại kinh tế, với ý đồ làm cho Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế, luôn ở trạng thái đói nghèo, buộc phải suy sụp hoặc phải khuất phục, chuyển hoá chế độ chính trị.

Mục tiêu chính phá hoại kinh tế là, lấy việc chống phá từ bên trong kết hợp với điều kiện bên ngoài để tạo ra áp lực đối với nền kinh tế nước ta, thông qua kinh tế để buộc ta chấp nhận các điều kiện chính trị.

Hiện nay chúng tập trung phá vỡ quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa của ta bằng nhiều thủ đoạn rất xảo quyệt, như việc lợi dụng quan hệ hợp tác đầu tư liên doanh, liên kết (nhất là qua các khâu: vốn, chuyên gia, kĩ thuật), tìm cách phủ định định hướng chủ nghĩa xã hội trong nền kinh tế nhiều thành phần, thực hiện: vừa khuyến khích, ca ngợi kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, vừa tư nhân hoá dần dần làm mất vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước. Chúng cho việc làm đó là để xoá tận gốc kiểu quan hệ sản xuất dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất ở Việt Nam.

- Lợi dụng các vấn đề tôn giáo, dân tộc để chống phá ta

Vấn đề tôn giáo, dân tộc hiện nay luôn là mục tiêu kẻ thù hết sức chú trọng lợi dụng để chống phá.

+ Về vấn đề dân tộc: Kẻ thù triệt để khai thác các mâu thuẫn giữa các dân tộc do nhiều nguyên nhân gây ra, để chia rẽ khối đoàn kết, tạo dựng những mâu thuẫn mới, kích động tư tưởng hẹp hòi dân tộc, đòi quyền tự quyết dân tộc chủ nghĩa, như việc xuyên tạc, kích động, mua chuộc, xúi dục một số dân tộc thiểu số đấu tranh Với Đảng, Nhà nước ta để đòi cái gọi là “độc lập quốc gia tự trị”.

Chúng tận dụng tối đa mọi cơ hội để kích động làm bùng nổ các cuộc đòi ‘dân chủ’, tôn trọng “quyền” của các dân tộc, nhằm gây rối loạn tình hình an ninh xã hội.

Đặc biệt chúng chú trọng yếu tố tâm lí và sự dồn nén khó khăn về đời sống tinh thần, vật chất (nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, xa, vùng căn cứ cách mạng trước đây) để tạo dựng xu hướng bất bình với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

+ Vấn đề tôn giáo: Chúng triệt để lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng của Nhà nước ta, để truyền bá mê tín dị đoan và tư tưởng phản động chống chủ nghĩa xã hội.

Tích cực hoạt động, nhằm phối hợp lực lượng phản động trong nước với lực lượng tôn giáo chống Cộng quốc tế, đẩy mạnh hoạt động phá hoại để tạo ra thực lực trở thành lực lượng đối trọng với Nhà nước ta. Như việc lợi dụng những phần tử phản động đội lết tôn giáo để hoạt động gây kích động, phá hoại, xúi giục giáo dân đòi đất xây nhà thờ, chùa chiền… để tập hợp, lôi kéo tuyên truyền kích động nhân dân, từng bước vô hiệu hoá sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước đối với nhân dân vùng có đạo, tiến tới nhen nhóm, cài cắm lực lượng và xây dựng tổ chức phản động chống Đảng và chế độ ta.

Phương hướng hoạt động chủ yếu của chúng là đấu tranh ôn hoà đòi tự do tôn giáo, dẫn đến đấu tranh đòi tự do dân chủ, mở rộng quan hệ quốc tế, đến đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cuối cùng kết hợp với sự chỉ đạo, giúp đỡ, viện trợ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động bên ngoài sẽ giành thắng lợi qua bầu cử.

- Xâm nhập về văn hoá

Hoạt động tập trung nhất của chúng là, tiến công vào nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Bằng cách, làm phai mờ những giá trị văn hoá truyền thống cách mạng của chúng ta, kết hợp với việc gieo rắc Văn hoá phản động, suy đồi nhằm chuyển đổi văn hoá Việt Nam thành “thuộc địa văn hoá” của chủ nghĩa đế quốc. Như việc thông qua nhiều “kênh”, nhiều thủ đoạn, chúng ra sức tuyên truyền, cổ vũ cho văn hoá, lối sống phương Tây – thực dụng, trụy lạc, tôn thờ đồng tiền là trên hết, sống ích kỷ, phi đạo đức. Tất cả việc làm đó còn nhằm tạo ra và bổ sung cho đội quân xung kích diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đỗ của chúng.

- Vô hiệu hoá lực lượng vũ trang

Vô hiệu hoá lực lượng vũ trang nhân dân, chủ yếu là quân đội nhân dân và công an nhân dân, đây là lực lượng tập trung nhất bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Hoạt động chủ yếu của chúng nhằm phá vỡ hệ tư tưởng, tổ chức của quân đội và công an. Làm cho lực lượng này xa rời mục tiêu chiến đấu, rêu rã tổ chức; xói mòn về đạo đức, phẩm chất, lối sống… để dẫn tới giảm lòng tin vào Đảng, vào chế độ, mất phương hướng và thay đổi bản chất cách mạng của mình.

Tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ bản chất truyền thống tốt đẹp của quân đội – công an, chia rẽ nội bộ, chia rẽ tình đoàn kết máu thịt quân đội và nhân dân, quân đội và Đảng…

Trong tình hình hiện nay, chúng đặc biệt chú ý đến trạng thái tâm lí để tuyên truyền, xuyên tạc vị trí, chức năng, nhiệm vụ của quân đội nhân dân. Đặt lợi ích kinh tế đối lập với lợi ích quốc phòng. Đối lập giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm phủ định vai trò của quốc phòng trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Toàn bộ những hoạt động của chúng nhằm phủ định sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội và công an “trung lập hoá quân đội và làm phai mờ biến đổi bản chất truyền thống cách mạng của quân đội – công an”, “phi chính trị hoá” quân đội – công an. Cuối cùng còn quân đội Việt Nam nhưng do chủ nghĩa đế quốc sai khiến.

- Kích động, phối hợp hành động của lực Iượng phản động trong nước và phản động ngoài nước. Kẻ thù rất coi trọng lực lượng phản động trong nước, nhằm tạo dựng lực lượng trực tiếp chống phá ta từ bên trong.

Chúng sử dụng các lực lượng trong nước để làm cầu nối giữa các tổ chức phản động trong nước và tổ chức phản động ngoài nước, vừa phối hợp hoạt động, vừa tập trung lực lượng. Chúng sử dụng các thủ đoạn xảo quyệt, tinh vi trong hoạt động để giành những mục tiêu cụ thể. Trong đó khoét sâu vào các vấn đề kinh tế, dân chủ, nhân quyền, công bằng xã hội, phục hồi tư tưởng chống Cộng, gây chiến tranh tâm lí làm hoang mang dao động ở một số người, tạo nên tình hình xã hội luôn căng thẳng, nhằm gây bạo loạn lật đỗ từ nhỏ đến lớn: Như việc hoạt động của bọn phản động người Việt sống ở nước ngoài thời kì chúng gọi là “hậu bình thường hoá” quan hệ Việt – Mĩ, với hai trọng điểm chiến lược chống ta: “Giữ vững chiến tuyến chống Cộng tại hải ngoại – tấn công mãnh liệt vào Việt cộng tại quốc nội”, bằng những chính sách rất nham hiểm, xảo trá như: Chính sách “ngoại vận”, nhằm mở các đợt hoạt động tuyên truyền sâu, rộng lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền, tự do dân chủ, đàn áp tôn giáo. Thực hiện chính sách đó,  chúng đi vào từng đối tượng để “vận động” và có những mục tiêu cụ thể. Đối với tín đồ, đòi tự do tôn giáo, hành đạo, huỷ bỏ “hệ thống tôn giáo quốc doanh”. Đối với dân, đòi dân chủ, dân sinh. Đối với văn nghệ sĩ, trí thức, đòi tự do ngôn luận, hội họp. Chúng đem cách sử dụng mọi phương tiện truyền thông nhằm “đánh vào trái tim khối óc ộng sản, huy động tận tâm thức sâu thẳm của đồng bào trong nước”, hoặc chính sách “tổ chức, liên kết trong ngoài” để liên kết các hội đoàn phản động ngoài nước, bí mật thành lập tổ chức phản động trong nước và liên kết hai lực lượng đó lại…

Tóm lại, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động dùng nhiều thủ đoạn, trên tất cả các lĩnh vực để chống ta. Chúng hết sức chú ý đẩy mạnh, mở rộng quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” từ trong nội bộ ta. Đồng thời với việc gây lình huống, tạo cớ để nhân danh các tổ chức quốc tế nhảy vào can thiệp vào công việc nội bộ của ta, kể cả can thiệp bằng quân sự. Chính vì vậy cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đỗ càng trở nên phức tạp, lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì, quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và chúng ta nhất định sẽ giành thắng lợi.

II. NHỮNG BIỆN PHÁP CHỦ YẾU GÓP PHẦN LÀM THẤT BẠI CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH”, BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, BẢO VỆ VŨNG CHẮC TỔ QUỐC VÀ CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM

1. Luôn nắm vững mục tiêu, quan điểm, phương châm, nhiệm vụ:

a) Mục tiêu

- Giữ vững ổn định chính trị trên cơ sở độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

- Ngăn chặn và làm thất bại các thủ đoạn diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đỗ của các thế lưc thù địch.

- Nếu có bạo loạn phải dập tắt nhanh, không để lan rộng, kéo dài để kẻ thù tạo cớ can thiệp vũ trang..

b) Nhiệm vụ

- Chủ động tiến công địch trên mọi lĩnh vực.

- Thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phòng chống diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đỗ trên cơ sở đó ngăn chặn, đẩy lùi, đập tan mọi ý đồ. răn đe, can thiệp vũ trang hoặc gây chiến tranh xâm lược.

- Bảo vệ tốt chính trị nội bộ.

c) Quan điểm chỉ đạo

- Xác định chống diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đỗ là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa hiện nay cả trước mắt và lâu dài..

- Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ chống diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đỗ với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới và ứng phó với các tình huống.

- Chống diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đỗ là nhiệm vụ của toàn dân, toàn quân của cả hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo, sự quản lí điều hành tập trung thống nhất của Nhà nước.

d) Phương châm

- Kết hợp chặt chẽ giữ bên trong và chủ động ngăn ngừa. Giữ bên trong là giữ vững sự ổn định chính trị, mục tiêu con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã chọn, giữ vững khối đoàn kết dân tộc; giữ vững và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Ngăn ngừa mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù; ngăn ngừa mọi sự yếu kém, sai lầm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các cấp lãnh đạo, điều hành nhà nước.

- Giữ vững bên trong và chủ động ngăn ngừa là hai mặt quan hệ chặt chẽ với nhau, giữ vững bên trong là điều kiện cơ bản để chủ động – ngăn ngừa. Chủ động ngăn ngừa là phản ánh kết quả của giữ vững bên trong và tạo điều kiện để giữ vững bên trong.

- Phát huy sức mạnh tổng hợp, đấu tranh toàn diện gắn với xây dựng thực lực cách mạng, kết hợp xây và chống, lấy xây là cơ sở quyết định để chống.

- Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân của cả hệ thống chính trị. Đấu tranh toàn diện, chính trị, kinh tế, quân sự… kết hợp chặt chẽ các mặt đấu tranh đó, lấy đấu tranh chính trị làm chính. Đấu tranh chính trị chính là cuộc đấu tranh giành giật quần chúng, giành giật niềm tin giữa ta và địch. Phát huy sức mạnh tổng hợp là để đấu tranh toàn diện, đấu tranh toàn diện nhằm khai thác, phát huy được đầy đủ vai trò, vị trí, chức năng của từng yếu tố cấu thành sức mạnh tổng hợp để đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù.

- Chủ động trấn áp, giải quyết hậu quả với các hành vi bạo loạn. Giải quyết gây rối không để phát triển thành bạo loạn.

Phương châm này chỉ đạo việc xử lí tình huống có bạo loạn lật đỗ và vận dụng vào xử lí vụ việc gây rối. Cần chú ý:

+ Phải xử lí kiên quyết, chủ động trấn áp đúng lúc, đúng thời cơ, đúng đối tượng, trúng những tên đầu sỏ.

+ Thời gian càng nhanh càng tốt, không gian càng hẹp càng tốt.

2. Tăng cường xây dựng và củng cố trận địa chính trị tư tưởng, văn hoá, giữ vững ổn định chính trị và an ninh xã hội:

Đấu tranh chống địch phá hoại về tư tưởng, văn hoá giữ ổn định chính trị là mặt trận nóng bỏng đặt lên hàng đầu hiện nay, phải được kết hợp chặt chẽ với các lĩnh vực khác. Nội dung của cuộc đấu tranh, cần tập trung vào một số vấn đềcơ bản:

+ Không ngừng bồi dưỡng trí tuệ, lập trường quan điểm và phẩm chất đạo đức cho mọi người. Giữ vững niềm tin, kiên trì mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội đưa sự nghiệp đổi mới của đất nước đến thắng lợi.

+ Nghiên cứu nắm vững, hiểu biết đủ, đúng về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên cơ sở đó quán triệt sâu sắc và góp phần tổ chức thực hiện tốt đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước trong thực tiễn.

+ Xây dựng lối sống văn hoá, văn minh lành mạnh trật tự kỷ cương phù hợp với tình hình thực tế của đất nước. Bồi dưỡng lối sống mới xã hội chủ nghĩa, kết hợp với phê phán lối sống thực dụng, tự do, ích kỷ, buông thả. Kiên quyết đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc và lợi dụng các khía cạnh đời sống xã hội của kẻ thù, kết hợp với việc lên án, ngăn ngừa các tổ chức và hành vi hoạt động văn hoá với mục đích xấu. Luôn giữ vững trạng thái tâm lí tinh thần, ổn định tư tưởng của xã hội.

3. Nâng cao cảnh giác trước mọi âm mưu luận điệu xuyên tạc của địch trên các phương tiện thông tin đại chúng và các hoạt động khác:

Hiện nay thông tin đến với con người và các hoạt động khác bằng nhiều nguồn, nhiều phương tiện. Thông tin trở thành nhu cầu của đời sống xã hội, hằng ngày chúng ta tiếp xúc với nguồn thông tin chính thống có định hướng của Đảng, Nhà nước ta. Đồng thời chúng ta cũng chịu ảnh hưởng các nguồn thông tin khác của địch nhằm chống ta, trong đó có đài Châu A tự do. Chống lại các nguồn thông tin của địch, cần tập trung làm tết một số việc:

- Luôn nâng cao kiến thức về mọi mặt để giữ vững bản lĩnh chính trị, có phương pháp xem xét tiếp cận thông tin một cách đúng đắn khoa học.

- Nâng cao cảnh giác, đấu tranh với những nhận thức không đúng, ngộ nhận, mơ hồ trước các nguồn thông tin ngược chiều với quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước.

- Bản thân mỗi người có ý thức tự giác, kỹ luật trong quá trình tiếp  xúc thông tin. Chấp hành tốt các quy định về quyền thông tin, phạm  vi thông tin, tham gia tích cực đấu tranh chống phao tin, đồn nhảm, lưu truyền thông tin xấu, thất thiệt.

4. Trách nhiệm của sinh viên trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ:

Sinh viên, với trách nhiệm đầy đủ và khả năng trình độ nhận thức của mình, tích cực tham gia vào các hoạt động thiết thực ở nhà trường, từng địa phương để góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đỗ của kẻ địch. Trước hết mỗi người luôn nâng cao cảnh giác, tự bảo vệ mình, bảo vệ những tổ chức mà mình tham gia sinh hoạt. Luôn chủ động giải quyết tết mối quan hệ giữa cá nhân, nhà trường và xã hội.

KẾT LUẬN

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch của chủ nghĩa xã hội đã và đang thực hiện âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đỗ để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, chúng luôn coi Việt Nam là một trọng điểm.

Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta luôn nâng cao cảnh giác, nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù thấy được tính chất phức tạp, quyết liệt trong cuộc đấu tranh này, đoàn kết, kiên quyết đánh bại chúng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Chúng ta xác định, chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đỗ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta là nhiệm vụ cấp bách và lâu dài của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn mới.

Trang nhà MẶT TRẬN THANH NIÊN CHỐNG PHẢN ĐỘNG! – 2010

NDVN, ngày 29/12/2010

Ghi chú:

Chúc Đại Hội Đảng XI thành công, thành công đại thành công, là triễn khai, bổ sung, và phát huy Cương lĩnh năm 1991 là giữ vững nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Ðảng như Cương lĩnh và Ðiều lệ Ðảng đã ghi  thì thế lực thù địch DBHB Mỹ sẽ chiến bại dài dài.

Mặc dầu, các tổ chức phản động trong nước và hải ngoai không có lưc lương [chỉ còn dăm ba đứa già nua Ngụy Việt gian phản quốc VNCH trên 70 tuổi chờ chết vì bệnh tật bởi thực phẩm hóa chất ở Mỹ, sống bằng nghề “chống cộng, cứu nước”...làm giàu nhanh và Romagiáo Việt gian suy tàn chia rẽ] và tan hoang click đọc THỜI ĐIỂM CỦA MỘT XÉT LẠI BẮT BUỘC: Nguyễn Gia Kiểng , nhưng Tình báo nhân dân tự nguyện chống âm mưu DBHB Mỹ, vẫn có trong các tổ chức này…đọc Làm giàu nhanh chóng bằng nghề “Chống cộng, cứu nước” ở hải ngoại  và  PHAN NHẬT NAM “Nằm Vùng”? Và Những tên CS nằm vùng là Ai? Ở đâu?

nhandanvietnam.org

Categories: Diễn biến hòa bình

Create a free website or blog at WordPress.com. The Adventure Journal Theme.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.