Mặt thật của nước La Mã

Nước Mỹ có truyền thống nghi kỵ Công Giáo La Mã. Dưới ảnh hưởng của Tin Lành, rất rõ ràng qua những chữ tắt ASPW (Anglo-Saxon Protestant White), hầu hết các tổng thống Mỹ không theo đạo Công Giáo La Mã, và John F. Kennedy, giáo dân Công Giáo, khi ra ứng cử chức Tổng Thống Mỹ, cũng giữ một khoảng cách an toàn với Vatican. Không bao lâu ông cũng bị ám sát chết. Khi sang La Mã, John F. Kennedy ngồi ngang hàng với giáo hoàng Phao-lồ VI (Paul VI) chứ không khúm núm quỳ lạy như sắc phẩm an-nam ta. Dĩ nhiên đó là khác biệt giữa dân cường quốc và dân nô lệ. Nhưng nay, đã sang thế kỷ 21, các giáo hoàng vốn kênh kiệu là vua đạo, chưa gẫy chân đã ngồi kiệu có người khiêng, hay phải ngồi ghế giống như ngai vàng, khác hẳn những ghế thường – nên sự khiêm nhường chỉ là gian manh dối gạt lộ tẩy – Theo thời cũng phải thay đổi, như giáo hoàng Phao lồ VI, thay đổi chính sách không chống Cộng nữa, và giáo hoàng Biển Đục phải đón rước thủ tướng loài quỷ đỏ, ngồi ngang hàng với Chúa chổm loài  quỷ đen, giáo dân ta thấy rõ nhưng vẫn sung sướng được hưởng đại nạn tuyệt đối vâng lời La Mã. Quả thật chưa ở đâu, và thời nào não trạng nô lệ, đòi được ơn phúc nô lệ, khi xiềng xích nô lệ không còn nữa. Đây phải là ân sủng vô cùng đặc biệt mà Chúa và Đức Mẹ ban cho giáo dân ta, vì Chúa và Đức Mẹ không có thể cho cái nô lệ Việt Nam cái gì khác, ngoài cho được làm tôi mọi con cái La Mã đời đời, lúc nào cũng ôm cứng hôn hít tứ chi bọn ngoại, trước thì hôn chân, bây giờ hôn tay. Khi bọn chúng nhẩy vô hôn hội đồng, chắc Chúa sẽ phải cho bọn La Mã mọc sáu bẩy ngón, hay mắc bệnh trĩ sớm để có chỗ cho bọn nô lệ hôn hít thỏa lòng.

Tạ ơn Chúa nhân từ vô cùng!

Trước hết xin tóm lược về Công Giáo La Mã, hay Thiên Chúa giáo nói chung. Những giáo phái của đạo này thờ Đức Chúa Trời, mà một số linh mục hay giáo dân “trí thức” cố tình đánh lộn con đen là Ông Trời Việt-Nam, của người Châu Á, thường theo đạo Phật, Khổng, Lão vv … Đức Chúa Trời có ba ngôi, được thờ phượng là Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Cẩm nang của Đạo là  Kinh Thánh gồm Cựu, và Tân Ứơc. Đại khái hai sách này chỉ là lịch sử lập quốc của những bộ lạc Do-Thái, Nhưng đặc biệt là đạo của người  Do-Thái lại không công nhận Giêsu là Ngôi Hai, là Đức Chúa Con, mà chỉ coi là một tiên tri như các tiên tri khác thôi. Tiên tri nào cũng chỉ là người, lúc lên đồng có hồn ma nhập, nên nói như thầy bói, dĩ nhiên không phải là Chúa! Một điều không ai dám thắc mắc là Đức Chúa Trời, gồm Cha, Con và Thánh Thần sinh ra con người, trong đó có bà Maria. Thế mà bà Maria lại sinh ra Chúa Con, Ngôi Hai Giêsu. Nghĩa là Con sinh ra Mẹ rồi Mẹ lại đẻ ra Con! Có lẽ Thiên Chúa Giáo cốp-py thuyết luân hồi của Phật giáo. Mẹ sinh ra con thế nào? Sinh ra nhờ có thai bởi Thánh Thần! Con sinh ra Mẹ thế nào? Vì con là Đức Chúa Trời Ba Ngôi sinh ra loài người, và Đức Mẹ là người nên Con sinh ra Mẹ luôn! Có thể cho là dã sử, huyền thọai, Con sinh ra Mẹ, Mẹ sinh ra Con, là thời hỗn mang, truyền khẩu khó kiểm soát. Nhưng bốn sách Kinh Thánh, và ngắn gọn gần với thời Giêsu nhất là Kinh Thánh Mác (Mark), ngay đoạn đầu cho biết Giêsu sau khi chịu phép rửa bởi Gioan tiền hô, trên sông Gióc Đanh (Jourdain), đã lên núi gặp (điều đình) ma quỷ Satan, và ở chung với nó, trong khách sạn một sao, 40 ngày, phóng uế đều phải ra đồng. Sự cố này không thấy giáo hội hay các linh mục nào dám bàn đến, vậy có thể giáo hoàng Biển Đục gặp thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có phải là theo gương Giêsu hay không? Vì Công Giáo La Mã vẫn thường gọi CS là ma quỷ nên Biển Đục gặp thủ tướng Dũng, xét kỹ là gặp ai? Như thế  phải phong thánh cho Satan, vì đúng ra giáo hội Công Giáo La Mã rất ma quỷ thủ đoạn, nên còn do dự gì nữa! Còn chỗ trống phải cho nó “ngồi bên tả”. Hay là nó đã chễm trệ rồi ở Rô-Ma nên không thèm ngồi cạnh Đức Chúa Cha? Khởi đầu là như thế, sau này thêm bớt Đức Bà đồng trinh lên trời, hay các phép lạ bí tích vv .. chỉ là tiến trình phải có theo biến đổi hoàn cảnh lịch sử xã hội. Những thần học gia tùy theo khuynh hướng, bênh vực giáo hội, hay không như linh mục Đức Eugen Drwermann đã viết rõ ràng là Giêsu và Đức Mẹ không thăng thiên, riêng Đức Mẹ cũng không đồng trinh luôn, là điều ông tế nhị không nói trắng là đồng  hoang  đồng cỏ, hay đồng lầy. Tất cả chỉ là tín điều giáo lý mà giáo dân, đa số là con nít, bị nhồi sọ lúc bé, hay theo nếp sống gia đình phải tin theo, chứ không có gì cụ thể, hoàn toàn là mê tín, ngu đạo. Thật ra cũng chẳng cần vì đã gọi là đức tin ép buộc (shotgun faith) hay đức tin mù (blind faith), có sức mạnh của thứ tôn giáo xâm lấn (expansive) và dùng bạo lực, đặc biệt ở Châu Mỹ La-Tinh. Hay ở Việt-Nam nhờ vào sự cuồng tín của bọn thừa sai (missionnary) Tây Ban Nha, hay Pháp rồi dần dần củng cố bạo lực cùng với thực dân, khoác áo đạo và dùng sự ngu dốt, nên nước ta phải gánh một cổ hai tròng đời đạo cho đến 30-4-1975. Điều khó hiểu là Mẹ Thiên Chúa quyền uy lắm, sao còn phải bám lấy cái màng trinh, thật ra chẳng có gì đáng để coi như sức mạnh cứu độ? Lỡ chẳng may, vì lý do gì đó Mẹ mất trinh, thì không có ai cứu nhân loại như Công Giáo vẫn khoe là cứu rỗi qua tay Đức Mẹ Đồng Trinh! Bây giờ mới hiểu tại sao cácbác sĩ vá trinh thường chết yểu, vì phải lên Thiên Đàng “vá” cho Mẹ!

Sự ngoan cố cuồng tín hiểu được ở giới không có thông tin, bị bưng bít  hay bị khai thác sự ngu dốt. Nhưng ngay bọn trí thức, có sách báo thông tin và đa số là tu xuất, tu ra, tu chán, tu bỏ, tu về lại cuồng tín và ngu muội kinh khiếp nhất. Khi chúng nằng nặc đòi được tuyệt đối vâng lời La Mã, nhưng không hiểu tại sao, hoặc bị La Mã bắt ép, hay ban cho bọn chúng được sung sướng tình nguyện ơn nô lệ một cách quái lạ như vậy? Cũng vậy đọc sách báo của trí thức Công Giáo tu xuất ta đều thấy một lập luận tương tự là VN khỏi cần kháng chiến cũng có độc lập vì các nước Á Phi khác đều không có chiến tranh mà vẫn được độc lập vv … Đúng là một loại lý luận điển hình chạy tội của Công Giáo, không chịu thấy mãi đến nay La Mã mới cho phái đoàn đi điều đình, và trước đó chỉ  ban lệnh và giáo hội tay sai do thừa sai nắm đầu đều nhất nhất tuân theo, không suy nghĩ, thắc mắc đắn đo gì đến danh dự, chủ quyền chỉ vì cứ nghe lời La Mã là lên thiên đàng nhanh như gió lốc! Bởi vậy, có lẽ, chỉ có tu xuất Công Giáo mới lý luận như vậy, và trong suốt một ngàn năm đô hộ, không đánh đuổi xâm lăng thì Bắc Phương sẽ tự động rút ngắn thời gian đô hộ, hay thực dân Pháp sẽ bỏ đi sau khi thấy đặt ách nô lệ lên dân tộc ta là trái đức bác ái chăng?

Với người khác chắc độc giả không sửng sốt, nhưng trí thức Công Giáo và tu xuất viết như sau, người đọc không khỏi hoảng hốt kinh ngạc: “Đánh đuổi được thực dân Pháp là một vinh quang tuyệt vời, hoàn toàn là công khó của văn hóa dân tộc  Việt Nam, là ái quốc tuyệt đối, nhưng đảng CS đã gian lận muốn giành làm của riêng mình. Vốn thắng Pháp giành độc lập khỏi tay Thực dân hoàn toàn là do tinh thần ái quốc của toàn dân, đâu phải là do hạ tầng cơ sở đảng CSVN lại càng không phải nhờ thượng tầng kiến trúc văn hóa Mác-Lêninít. Ngược lại chính thượng tầng kiến trúc quốc tế này đã chia rẽ dân tộc làm hai, làm cho độc lập của dân tộc nặng nề sứt mẻ, không được trọn vẹn. Hiệp định Geneva (20/7/54) chứng minh sự thất bại đau thương đó. Thất bại vì ở đó có chỉ có CS Quốc Tế là Nga Tầu là kẻ thắng, kẻ thua là Pháp, miền Bắc và miền Nam VN, vì Mỹ kể là huề, vì đang ở trong một tình huống chẳng đặng đừng. Vì vậy ai là người trách nhiệm ? Có phải đảng CSVN không, thử hỏi ai? Tối hậu là HCM. (Đã hơn 30 năm rồi – Huỳnh văn Langtr 281).

Đánh đuổi xâm lăng là công của tòan dân, do tinh thần hy sinh ái quốc tuyệt đối. Nhưng ai gian lận giành làm của riêng? Ai cướp công kháng chiến? Đó là những câu hỏi không nên hỏi. Bà Trưng vì thù nhà nợ nước đánh đuổi quân Tầu có phải nhờ vào lòng ai quốc hy sinh của toàn dân không? Sao có thể nói là bà cướp công kháng chiến? Nhà Trần, Trần Hưng Đạo ba lần đánh quân Mông Cổ, chắc chắn là phải nhờ sự đoàn kết, và lòng ái quốc đánh đuổi xâm lăng. Ai dám bảo nhà Trần và Trần Hưng Đạo gian lận giành làm của riêng? Hoàng Đế Quang Trung đánh thắng quân Thanh do tài chỉ huy quân sự của Ngài. Nhưng nền tảng vẫn phải do lòng căm thù ngoại xâm và quyết tâm đánh đuổi xâm lăng chứ? Ai bảo Ngài gian manh muốn giành làm của riêng?

Xin đọc bài báo tường trình dưới đây về diễn văn của TT George W. Bush ở Liên Hiệp Quốc vào lần họp thứ 62 :

LHQ, ngày 25 tháng 9 – Tổng thống Bush kêu gọi các nước trên  thế giới phải đáp ứng đúng với tự do dân quyền, là những quyền được Liên Hiệp Quốc đề ra cách đây sáu thập niên. Ông loan báo, ngày thứ ba, tăng gia biện pháp chế tài với nước Myanmar (Miến Điện), và buộc tội các chính phủ Belarus, Cuba, Iran, North Korea, Syria, và Zimbawee là “những chế độ tàn bạo”, phải chống đối những lạm dụng của các chính quyền ấy!

TT Bush dùng những lời nặng,  nước Mỹ đã công khai buộc tội những nước thiếu dân chủ, nhưng ông lại tránh né những nước đồng minh của Mỹ cũng bị buộc tội không tôn trọng dân chủ gì hết .

(United Nations, Sept 25 – President Bush calling  on countries to live up to freedoms and rights promised by the United Nations almost six decades ago, announced Tuesday tigher sanctions on Myanmar and denounced the governments of Belarus, Cuba, Iran, North Korea, Syria and Zimbawee as “brutal regimes” that should be confronted for their abuses.

Mr. Bush used his most forceful language to denounce the countries that the United States publicly ranks among the least democratic while leaving out countries more closely allied to it that have been accused of undemocratic behavior). (The New York Times, Sept. 26, 2007, page A12)

Theo đoạn sách trên của ông  HVL, chúng ta đều biết các cường quốc là thủ phạm chia cắt Việt Nam, Đại Hàn và Đức Quốc. Cả ba nước này đã làm được gì? Và cũng làm được gì khi CS Quốc Tế Nga Tầu thắng? Nếu Mỹ huề, vì tình huống chẳng đặng đừng sao không dí súng  vào Mỹ bắt không được thua kém  Nga, Tầu? Còn diễn văn của TT Bush chỉ buộc tội Belarus, Cuba, Iran, North Krorea, Syria, và Zimbawwe, nhưng không hề nói gì về thiếu dân chủ ở Việt Nam, phải chăng TT Bush muốn khen nước ta, nhưng sợ phường hổ lốn bát nháo, chống Cộng vung xích chó ở Bolsa biểu tình, nên Ngài tế nhị tránh né, hay sợ quá không dám nói đến VN chăng? Xin Ngài đừng quá cả nể như vậy, nếu sợ là sợ bọn nhà báo có đạo – bọn này đã bắt giáo hội Công giáo VN phải lên tiếng cho một tên linh mục xụp lỗ – mới đáng nể. Chứ bọn biểu tình ở Bolsa là cái quái gì! Toàn là giống đào ngũ, đào nhiệm thôi!

Những chỉ trích CS phải có ở hải ngoại, nếu không làm sao báo sống hay sách bán được. Hơn nữa, chống Cộng cho đến chết vẫn là nếp sống đã hằn sâu của đạo Công Giáo và giáo dân. Công Giáo La Mã là một nước trần tục, khoác áo tôn giáo bên ngoài, lại đã kẹp chặt được hàng giáo phẩm linh mục theo Tây lâu đời, nên lãnh đạo nước La Mã bắt tay CS, mà Công Giáo vẫn xúi ngầm giáo dân chống Cộng. Đó là hai mặt của đạo thánh thiện, nếu thắng kể công nhờ ơn Chúa, nếu thua là tại giáo dân tự động làm loạn. Cả hai mặt giáo dân đều tàn mạt, còn giáo hội, hay nước La Mã an toàn nhất là đã khai sinh ra được đội ngũ “tuyệt đối vâng lời giáo hội!” Vì vậy trò hề giáo hội đòi giáo sản là trần tục quá, là tham của thế gian quá, không có gì chứng tỏ mong được về Thiên Đàng ăn bánh thánh đói vêu ra! Bởi vậy khi được tin Chúa gọi về, phải là báo ngay tin … buồn! Những vặt vãnh như thế chỉ là tai nạn không tránh được khi đạo hình thành qua nhiều chặng đường mà trình độ của con người tiệm tiến. Nhưng khổ nạn gây ra cho nạn dân Do Thái và Công Giáo La Mã là bị giết qua hai ngàn năm, và cũng là dịp cho đạo tàn nhẫn giết người trong thời gian đó chỉ vì Giêsu là Chúa hay là người. Ngày nay giáo dân ta, nhất là báo đạo cũng không cho Giêsu làm người mà phải làm Chúa dù đạo đã xác nhận“Giêsu xuống thế làm người chịu đóng đanh cứu chuộc thiên hạ!” Như vậy Chúa phải đáp ứng đòi hỏi của giáo dân, chứ không phải là Chúa được theo thánh ý Chúa. Thật khổ quá cho Chúa! Và cũng khổ cho báo và trí thức đạo vì họ cũng muốn Chúa theo ý họ, theo quan niệm của họ. Từ cái nhìn độc đoán và một chiều ấy, nên giáo dân trở thành cuồng tín, và giáo hội kẹt cứng. Nghĩa là chỉ được thờ Giêsu Chúa, và phải sát hại Giêsu làm người. Do đó nếu sách nói Giêsu hôn môi (mouth kissing) Maria Magdelena là xúc phạm, và nói Chúa lấy vợ là ả giang hồ đó lại tội nặng hơn nữa. Vì vậy có thể kết luận là Chúa Trời sai lầm khi cho Chúa Con là Giêsu xuống thế, và giáo dân mouth kissing, lấy vợ sinh con là “độc quyền” của giáo dân, còn Giêsu không khốn khổ vì bị đóng đanh, nhưng đã xuống thế làm người thì phải kiêng cữ cho đẹp lòng giáo dân. Có thể đó mới là hai thanh gỗ, bốn cái đinh và mũ gai thật của Giêsu, không cần phải là nhà khảo cổ, tinh ý cũng nhận ra được thương khó vô cùng của Giêsu!

Như thế, Công Giáo La Mã dùng Giêsu và Maria hay các thánh trong mấy ngàn năm qua để áp đặt lên giáo dân sự thờ phượng. Nhưng những Thiên Chúa, thần thánh đó dân dần mất thiêng khi hỏa mù cuồng tín dần dần biến tan. Người ta thấy những đề cao và không minh xác được rút lại chỉ là biểu tượng mà La Mã khai thác hàng ngàn năm qua, đến nay những biểu tượng đó, song là sự thật của những đặc tính gán ghép cho Thiên Chúa không còn nữa. Trái lại sự bám chặt lấy thần quyền, và xử sự mất tư cách của hàng giáo phẩm là lý do chính soi mòn Thiên Chúa đến xương tủy. Hội thánh trơ trọi thành hình ảnh của bộ xương khổng lồ, tác dụng nhất được dùng vào ngày lễ Con Ma (Halloween). Những nhà thờ đồ sộ, những linh mục tu suốt đời, lễ bạc lễ vàng, giám mục hồng y, không có bảo đảm gì đạo đức uy tín, nếu xét những tin về sự phóng túng hoang đàng của họ hay những số tiền triệu triệu đô la giáo phận phải bồi thường. Chưa kể trước đó giáo hội và giáo phận đã phải gian manh che dấu, hay thuyên chuyển? Các tội phạm đi các họ đạo mới, mà nạn nhân lại có ngay, có sẵn cho những kẻ săn lùng thỏa mãn dâm ô!

Nhưng không thể nào làm ngơ khi La Mã lợi dụng Giêsu và Maria để ngồi lên đầu giáo dân.

Trong thời Tây thuộc và Mỹ thuộc, dưới sự đàn áp đè nén của ngọai bang, La Mã đã ăn có, để bành trướng đạo, bá quyền nước trần gian La Mã.

Nhưng không còn thời Pháp thuộc, Mỹ thuộc, không còn ai bắt phải làm con cái hiếu thảo là thứ tôi mọi nô lệ đạo La Mã. Không phải ôm đít các cha Tây, không phải ôm đít hồng y Francis Spellman nữa, sao không dám thoát nạn, và can đảm đứng lên làm người?

Bọn lưu manh, phuờng bát nháo chống Cộng vung xích chó, đòi giáo hội ta phải lên tiếng trong vụ của tên linh mục xụp lỗ (Thúy Kiều) Nguyễn  văn Lý, là một cá nhân nổi loạn, nhưng lại quên thời Tây các linh mục ta phải hôn chân Tây. Cũng như khi giáo hoàng Gioan Phaolồ II, sang triều kiến Chúa loài quỷ đỏ Cuba là Fidel Castro, hay giáo hoàng Biển Đục xoay chiều đón rước thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tất cả bọn có đạo, báo đạo đều im lặng sợ hãi nhục nhã hèn mạt. Trước khi hỏi sao giáo hội ta im lặng, bọn nô lệ ngoại bang có mất não không khi chúng không dám hỏi tại sao chúng không lên tiếng. Rõ ràng là bọn nhà báo đạo non hột!

Tội nghiệp cho Giêsu, khi bị tử hình đóng đanh là hình phạt bị làm nhục, phải trần truồng như nhộng. Nhưng giáo hội đã gian dối khoác cho Giêsu cái khố. Đến nỗi cha già Augustinô Nguyễn Hữu Trọng xác nhận trên giấy là trần truồng, làm gì có khố như cách tả chân của cha là :”Con cu treo lủng lẳng!” Có gì là tục đâu mà báo đạo phải la hoảng lên là xúc phạm Nếu sai thì con cu phải treo thế nào?

Giuse Phạm Hữu Tạo, ngày 27/9/07

nhandanvietnam.org

Advertisements
Categories: Chúa Dê-su | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điều hướng bài viết

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: