Liệt kê tạm 38 Sự thật về Giáo hội La Mã

Lịch sử và kinh nghiệm thực tế cho thấy rằng, trong gần hai ngàn năm qua, Giáo Hội La Mã đã có   hàng rừng những chủ trương, chính sách và hành động tội ác trời không dung đất không tha, trong đó có những sự kiện mà các nhà viết sử đều phải công nhận rằng Giáo Hội La Mã:

1.- Là một quốc gia với danh xưng chính thức là the State of  Vatican City. Quốc gia này có lãnh thổ với diện tịch là 0.4 km2 hay 0.2mi2, vào năm 1995 có dân số là 900,  theo chế đô tăng lữ quân chủ toàn trị (monarchical-sacerdotal) và có chính quyền  mà hội đồng chính phủ là giáo triều Vatican (curia).

2.- Là một đế quốc thực dân xâm lược  mà chính quyền trung ương là giáo triều Vatican và các thuộc địa là các giáo phận tại khắp mọi nơi trên thế giới. Các thuộc địa này nằm dưới quyền cai trị  của các “prelate nullius” (phó vương) mà  thông thường được gọi là “bishop” (giám mục).

3.- Theo đuổi chủ nghĩa bá quyền nhằm thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân lọai bằng lý thuyết bịp bợm “Đô Thị Thiên Chúa” (City of God), và hệ thống tín lý Kitô. (Sẽ được nói rõ ở 2 Chương 3 & 4)

4.- Dùng danh xưng tôn giáo là Đạo Thiên Chúa La Mã  và Giáo Hội La Mã làm bức bình phong để che đậy dã tâm đã nêu lên trong sự kiện số 2 vả 3 trên đây.

5.- Có dã tâm sử dụng những chuyện hoang đường, huyễn hoặc, phi nhân bản phản khoa học, thiếu logic do bọn lưu manh buôn thần bán thánh người Do Thái bịa đặt ra   vào thời kỳ con người  còn ở trong tình trạng bán khai của các thời ông Moses và  ông Jesus cách đây hơn hai ngàn năm về trước để lừa bịp và lường gạt người đời

6.- Tiếp tục bịa đặt ra hàng rừng chuyện hoang đường khác như Chúa Ba Ngôi, Chúa Sống Lại rồi bay lên thiên đàng, Đức Mẹ Đồng Trinh, Nơi Luyện Ngục, bảy phép bí tích, Đức Mẹ hiện ra, v.v… để khuếch trương kỹ nghệ buôn thần bán thánh.

7.- Chủ trương thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để kìm hãm tín đồ và người dân dưới quyền mãi mãi ở trong tình trạng ngu dốt giống như con người ở vào thời bán khai của ông Moses cách đây hơn 3 ngàn năm để  biến con người thành một đàn cừu mà Giáo Hội gọi là “đàn con chiên“.

8.- Đặt ra hệ thống giáo luật hết sức phi nhân bản, phản khoa học, nặng tính cách  võ đóan, chuyên chế nhằm giúp cho giới giáo sĩ và giai cấp thống trị tay sai  để áp bức và bóc lột tín đồ và nhân dân dưới quyền..

9.- Theo đuổi chủ  thuyết “thần quyền chỉ đạo thế quyền” với dã tâm tiếm đọat  quyền lực chính trị, thiết lập chế độ đạo phiệt Gia-tô để có thể sử dụng chính quyển làm phương tiện thi hành “chính sách bất khoan dung” cưỡng bách người dân dưới quyền phải khuất phục, phải  tin theo những tín điều Kitô  quái đản và phải tuân hành những giáo lý phi nhân của Giáo Hội.

10.- Chủ trương dùng bạo lực để tiêu diệt tất cả các tôn giáo khác và cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải theo đạo Gia-tô.

11.- Bóp nghẹt hết tất cả các quyền tự do căn bản của con người đã được Liên Hiệp Quốc và các nước theo chế độ tự do dân chủ như ở Bắc Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Ấn Độ, v.v.., công nhận. Những quyền đó là tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do kết hôn và giải hôn, v.v…

12.- Chủ trương hủy diệt nền tất cả các nền văn minh nào không phải là văn minh Do Thái  hay Gia-tô.

13.- Chủ trương hủy diệt tình yêu tổ quốc và quê hương trong lòng tín đồ Gia-tô.

14.- Không cho phép tín đồ có một thứ tình cảm thiêng liêng cao cả  nào có thể sánh ngang hàng với tình yêu hay lòng tuyệt đối trung thành với Tòa Thánh Vatican hay Giáo Hội La Mã. Tất cả mọi thứ tình yêu thiêng liêng giữa con người với con người như tình yêu lứa đôi trai gái, tình yêu vợ chồng, tình yêu gia đình giữa cha mẹ với con cái, giữa con cái với cha mẹ,  giữa anh em với nhau, tình thày trò, tình bạn bè, tình yêu làng xóm, tình yêu đối với tổ quốc, đối với quê hương và đối với dân tộc đều phải nhường bước cho tình yêu đối  với Giáo Hôi hay Tòa Thánh Vatican.

15.- Trong thời Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085), Giáo Hội đưa ra nguyên tắc “chỉ có một mình giáo hoàng mới được đưa bàn chân ra cho các ông vua chúa hôn hít” (The Pope alone offers his foot to be kissed by princes) [i][i].  Nguyên tắc quái đản này làm nẩy sinh ra tục lệ  quái đản “giáo sĩ bản địa phải đến  quỳ mọp  xuông hôn hít giầy dép của giáo sĩ Âu Châu” tại địa phương [ii][ii] và tục lệ quái đản “tín đồ  đến trước ghế ngồi của một vị giám mục quỳ mọp xuống để được ông ta đưa bàn tay có ngón đeo nhẫn giám mục ra để hít hà  hôn hít“.

16.- Cuối năm 1095, Giáo Hoàng Urban II (1088-1099) phát động cuộc chiến Thập Tự Lần Thư Nhất đem quân đí đánh chiếm  tàn  sát nhân dân vùng Trung Đông, khởi đầu cho gần chục cuộc chiến  thập tự khác tiếp theo khiến cho cả mấy chục triệu sinh linh bị sát hại.

17.- Năm 1215, trong thời Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216), Giáo Hội  chính thức ban hành giáo luật cưỡng bách tín đồ phải đến một nơi vằng vẻ trong nhà thờ địa phương để “xưng tội” (kể lể những việc làm sai trái (theo quan niệm của Giáo Hội) với vị linh-mục quản nhiệm)  mà thâm ý của Giáo Hội là vừa để dò xét xem trong gia đình có ai là người không tuyệt đối trung thành với Giáo Hội, vừa để cho các ông linh mục quản nhiệm tại địa phương có cơ hội gã gãm” nữ tín đồ hầu  “giải tỏa tình trạng bế tắc về sinh lý và tâm lý” vốn đã bị tù hãm đã từ lâu.

18.- Năm 1232, trong  thời Giáo Hoàng Gregory IX (1227-1241), Giáo Hội cho thiết lập các Tòa Án Di Giáo (Inquisitions) với nhiệm vụ điều tra, truy lùng, tóm cổ, tra tấn và xử thiêu (xử tử bằng cách  trói  nạn nhân vào một cái cọc, rồi chụm củi khô và châm lửa thiêu sống) những tín đồ bị tình nghi là “có thái độ không tuyệt đối trung thành với Tòa Thánh Vatican“. Các Tòa Án quái đản này hoành hành ở Âu Châu ngoài lãnh thổ Tây Ban Nha cho đến khi Cách Mạng Pháp bùng nổ vào ngày 14/7/1789, và tiếp tục tác oai tác quái ở Tây Ban Nha và ở các thuộc địa của đế quốc này cho đến năm 1821. Tính ra con số nạn nhân của các Tòa Án khốn nạn này lên tới gần 100 triệu. Riêng ở Tây Ban Nha và các thuộc địa của đế quốc này cũng đã tới 68 triệu[iii][iii].

19.- Giáo Hoàng Paul IV (1555-1559) tuyên bố : “Nếu bố tôi bị phát hiện là  giáo gian (dị giáo), tôi sẽ chịm củi đốt ông ta luôn“. Sự kiện này đưa đến việc phá vỡ nền tảng gia đình, phá vỡ tình bằng hữu, phá vỡ tình   xóm làng và quê hương bằng những hành động cổ võ và khích lệ  tín đồ làm những chuyện vô luân  như “cha con tố cáo nhau, vợ chồng tố cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn bè tố cáo nhau, hàng xóm láng giềng tố cáo nhau, v.v.. trước tòa án của Giáo Hội.” [iv][iv]

20.- Đặt ra giáo luật cưỡng bách những người thuộc các tôn giáo khác muốn lập gia đình với tín đồ của Giáo Hội thì phải từ bỏ tôn giáo cổ truyền của gia đình họ, phải học giáo lý Gia-tô và  phải  rửa tội theo đạo Gia-tô rồi mới được làm lễ thành hôn ở nhà thờ.

21.- Trong thập niên 1860, thời Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878), Giáo Hội bịa đặt ra tín lý bịp bợm “Giáo Hoàng Không Lầm Lẫn” (Papal Infallibility) để  lừa dối và lường gạt tín đồ, đặc biệt là những tín đồ đã   bị điều kiện hóa thành những “con cừu” được quản lý bởi  các ngài mang chức thánh ở trong tình trạng bất bình thường vì sinh lý và tâm lý bị tù hãm.

22.- Dùng “sách lược nội công” bằng những đạo quân thứ 5 gồm những tín đồ Gia-tô bản địa và dùng “sách luợc ngọai kích” bằng ngoai giao cho người đi thuyết phục một hay nhiều đế quốc Âu Châu hoặc siêu cường Hoa Kỷ bỏ tiền ra bao giàn cuộc chiến xâm lăng và xuất quân tấn chiếm các vùng mục tiêu làm thuộc địa để cùng quản lý, cùng thu vơ lợi nhuận, và bành trướng thế lực qua chính sách Ki-tô hóa bằng bạo lực.

23.- Dùng chính sách chia để trị: Chía các quốc gia bị chiếm  ra làm nhiều tiểu quốc theo lằn ranh  địa lý thiên nhiên, theo từng nhóm sắc tộc, và dùng tín đồ Gia-tô bản địa làm tay sai cai trị  các thành phần thuộc các tôn giáo khác, điển hình là ở Đông Dương trong những năm 1862-1954 và ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975.

24.- Đã cấu kết với Đế Quốc Tây Ban Nha trong việc tấn chiếm và thống trị Châu Mỹ La-tinh, Phi Luật Tân trong thế kỷ 16 và nhiều nơi khác vào những thời điểm khác nhau.

25.- Đã cấu kết với Đế Quốc Bồ Đào Nha trong việc tấn chiếm và thống trị xứ Ba Tây ở Nam Mỹ và nhiều nơi khác vào nhiều thời điểm khác nhau.

26.- Đã cấu kết với Đế Quốc Pháp trong việc tấn chiêm và thống trị Đông Dương, Algeria, Marocco, Tunisia (ở Bắc Phi) và nhiều nơi khác vào những thời điểm khác nhau.

27.- Trong thập niên 1930 và trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, đã cấu kết với Đức Quốc Xã và Phất Xít Ý đàn áp phong trào Cách Mạng Cộng Hòa tại Tây Ban Nha để củng cố chính quyền đạo phiệt Gia-tô Francisco Franco và thiết lập chế độ đạo phiệt Gia-tô Ante Pavelich tại Croatia. Chế độ đạo phiệt Gia-tô Ante Pavelich chỉ tồn tại có  hơn 4 năm (1941-1945) mà  đã tàn sát tới  trên  700 ngàn  tín đồ Do Thái Giáo và Chính Thống Giáo  ở Croatia. Lúc đó  Croatia chỉ có vỏn vẹn gần 3 triệu dân.

28.- Đã chủ động  thuyết phục đế quốc Pháp tới ba lần trong việc xuất quân đánh chiếm và cùng thống trị Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1954 để chia phần.

29.- Dạy dỗ tín đồ bản địa  rằng : “Đừng thừa nhận quyền lực Nhà Vua và luật pháp của họ“, và “Đức Giáo Hòang  ở La Mã (Rome) mới là vị vua tối cao duy nhất của họ, họ chỉ tuân phục quyền lực Tòa Thánh Vatican” [v][v]. Đồng thời Giáo Hội lại dạy đỗ tín đồ “phải tuyệt đối vâng lời Giáo Hội và các đấng bề trên trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội“, “Vâng lời qúy hơn của lễ” và “phải tuyệt đối trung thành với Giáo Hội La Mã hay Tòa Thánh Vatican.”,  Đây là những   lời dạy lưu manh nhất  và thâm độc nhất của Giáo Hội La Mã vì rằng chính những lời dạy này đã  nhào nặn tín đồ bản địa thành những phường vong bản phản quốc, phản quê hương, phản dân tộc. Điển hình là suốt trong chiều dài lịch sử kể từ khi đạo Gia-tô đuợc truyền vào Việt Nam từ thập niên 1530 cho đến ngày nay, tín đồ Gia-tô người Việt đã  có thái độ và hành động như thế nào, dân Việt Nam ta đều đã  nhìn thấy rõ. Sự kiện này cũng được thể hiện ra   bằng hành động của Linh-mục Hoàng   Quỳnh  khi ông ta lớn tiếng hô hào tín đồ Gia-tô người Việt rằng “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” (vào năm 1964). Sự thật này đã khiến cho học giả Gia-tô Charlie Nguyễn viết bài báo có tựa đề là “Truyền Thống Phản Quốc của Công Giáo Việt Nam” đăng trên tờ Đông Dương Thời Báo sô 88 tháng 5/6 2004 nơi các trang 1, 3, 4, 5 6 & 7. (Đông Dương Thời Báo, P. O  Box  671091, Houston, Texas 77207-1091)

30.- Đã cấu kết với siêu cường Hoa Kỳ  trong sự dùng sức mạnh của Hoa Kỳ để duy trì tình trạng chia đôi Việt Nam thành hai miền Nam và Bắc cho tới ngày 30/4/1975..

31.- Trong thời 1862- 1945, Liên Minh Đế Quốc Pháp – Thập Ác Vatican đã chia Việt Nam ra làm ba miền Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ giống như ba tiểu quốc với ba thể chế chính trị và hệ thống pháp luật khác nhau,. và  ngay từ giữa thập niên 1860, Gíám-mục Puginer, đại diện của Tòa Thánh Vatican ở Đường Ngoài (miền Bắc), đã đưa ra Kế Hoạch Puginier, theo đó thì chính quyền liên minh giặc Pháp – Vatican phải “diệt tận gốc, tốc tận rế” Nho giáo và tất cả các nho sĩ Việt Nam [vi][vi]. Cũng may là kế họach ác ôn này bị người Pháp bác bỏ.

32.- Trong Thời Kháng Chiến 1945- 1954, ngay khi vừa mới được chính quyền Charles de Gaulle thỏa thuận với Tòa Thánh  Vatican đề cử năm giữ chức vụ Cao Ủy Đông Dương, cựu Linh-mục Thierry G. d’ Argenlieu   liền tiến hành kế họach xé nước Việt Nam  ra làm nhiều mảnh,  rồi thành lập nước Công Hòa Nam Kỳ và cho ra đời chính phủ lâm thời Nam Kỳ  do Bác-sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ Tướng. Sau đó, ông cựu linh mục Cao Ủy Đông Dương này lại cho thành lập nước Cộng Hòa Tây Kỳ ở miền Nam Trung Bộ, nước Cộng HòaThái  ở miền Tây Bắc Bắc Bộ và mưu đồ thành lập nước Cộng Hòa Nùng ở miền Đông Bắc Bắc Bộ. Sự kiện này được sách Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp ghi nhận như sau:

Vài ngày sau, những vụ khiêu khích mới lại nổ ra ở dọc biên giới Việt Hoa. Mồng 10 tháng Tám (1946), quân Pháp vô cớ tiến công bộ đội ta ở Tiên Yên, Đầm Hà. Ngày 13, chúng đưa bọn thổ phỉ về đóng tại Lạng Sơn. Chúng khiêu khích đồng bào ta ở Vịnh Hạ Long và vùng ven biển Hồng Gai. Cùng thời gian này, lại có tin quân Pháp từ Sơn La tiến xuống phía nam. Không lâu trước đó, d’ Argenlieu đã để lộ ý muốn lập ngay tại miền Bắc một nước cộng hòa Nùng  Thái, cùng một kiểu với “nước cộng hòa Tây Kỳ” ở Tây Nguyên. Những hoạt động của địch cùng lúc xẩy ra chạy dài theo biên giới, từ vùng biển đến miền núi, từ Đống sang Tây, nói lên âm mưu này đang bắt đầu.” [vii][vii]

33.- Trong những 1948-1954, Giáo Hội La Mã  cấu kết với chính quyền Pháp tách rời hai giáo khu Phát Diệm và Bùi Chu ra khỏi lãnh thổ Việt Nam rồi biến thành hai giáo khu tự trị với dã tâm là sẽ biến hai giáo khu này thành hai vương quốc Kitô  và đưa đạo Kitô La Mã lên làm quốc giáo.

34.- Năm 1954,  Giáo Hòang Pius XII (1939-1958) đề nghị và vận động chính quyền Hoa Kỳ sử dụng bom nguyên tử để giải  vây cho cứ điểm Điện Biên Phủ của liên quân giăc Pháp – Thập Ác Vatican, nhưng  không được Tổng Thống Dwight D Eiseinhower chấp thuận.

35.- Đã và đang và vẫn còn cố gắng làm thay đổi nền đạo lý tam giáo cổ truyền của dân tộc Việt Nam bằng nếp sống đạo giáo Kitô.

36.- Hiện đang triệt để sử dụng khối tín đồ Gia-tô người Việt ở cả trong nước và ở hải ngoại theo “sách lược nội công” để gây rối Việt Nam làm cho tình hình Việt Nam trở thành bất ổn bằng sách lược cố hữu của Giáo Hội là  “quậy cho nước đục để thả câu“. Việc tín đồ Gia-tô người Việt ở trong nước và ở hải ngoại đang la lối đòi tự do tôn giáo hiện nay là một trong những thí dụ điển hình.

37.- Là thủ phạm chính trong việc chế độ đạo phiệt Gia-tô của Giám-mục Augustin Misago tàn sát hơn 800,000 (800 ngàn) dân Tutsis Rwanda (Phi Châu) vào năm  1994

38.- Đã tàn sát trên dưới 300 triệu người từ thế kỷ 4 cho đến đầu thập niên 1990. Sự kiện này được sử gia Lloyd M. Graham ghi nhận trong cuốnDeceptions Myths of the Bible với nguyên văn như sau:

Chúng ta đã biết được những gì trong 7 trăm năm này? Ba triệu người  thiệt mạng trong vụ cố gắng chiếm lại một ngôi mồ nằm trong vùng kiểm soát của người Hồi giáo. Mười triệu người bị giết hại do bàn tay của các Tòa Án Dị Giáo Gia-tô  Mười bốn triệu người chết trong các cuộc chiến Gia-tô trong thế kỷ thứ 19. Ba mươi triệu người thiệt mạng trong các cuộc chiến giữa các quốc gia theo đạo Kitô với nhau trong hai thập niên đầu của thế kỷ thứ 20. Từ thời Constantine đến nay, chiến tranh và chính sách áp bức của các chế độ đạo phiệt Gia-tô đã gây cho hơn 200 triệu nạn nhân bị thiệt mạng. Và chúng ta phải kể thêm 23 triệu  quân nhân của 53 quốc gia và các thuộc địa đã hy sinh trong các cuộc chiến (do Giáo Hội phát động – NMQ ) và ít nhất 28 triệu nạn nhân chết  vì bom, đạn, đói và bệnh tật hay ở trong các trại tập trung.”  [What have we learned in those seven hundred years? “Three million lost their lives in a futile attempt to rescue a tomb from Mussulmans. Ten million were slain during the Inquisition. Fourteen million were slain in Christian wars of the Nineteenth Century. Thirty million lost there lives in wars between Christian nations during the first two decades of the Twentieth Century. Wars, tyranny and oppression of Christian nations since the days of Constantine have caused the death of more than 200,000,000 people”  And now we must add to this “Some 23,000,000 men in uniform from 53 nations, countries and dominions were killed or died; at least 28,000,000 died from bombs or guns, hunger or disease or in the concentration camps.) [viii][viii]

Sách Deceptions and Myths of the Bible được phát hành vào năm 1999, sách dầy gần 500 trang. Rất có thể tác giả đã mất nhiều năm sưu tầm và tham khảo tài liệu để biên soan tập sách trên đây. Công việc biên sọan, đọc lại bản thảo, sửa chữa những sai lầm và bổ túc những thiếu sót  mất rất nhiều thì giờ. Cũng vì thế mà rất có thể những biến cố xẩy ra từ đầu thập niên 1990 chưa được cho vào trong sách này. Nếu như vậy thì con số khoảng 800.000 (800 ngàn) người ở Rwanda  bị chế độ đạo phiệt Gia-tô của Giám-mục Augustin Misago tàn sát  vào giữa năm 1994 và con số khoảng hơn 7.000 (bẩy ngàn) người  (đa số là tín đồ Hồi giáo) bị chế độ đạo phiệt Serbia ở Bosnia tàn sát vào năm 1995 không được kể vào trong sách này.

Trên đây chỉ là một vài con số trong những khu rừng chủ trương, chính sách và hành động tội ác chống lại nhân loại của Giáo Hội La Mã.

 

 

PHẢN ỨNG CỦA NHÂN DÂN THẾ GIỚI

Cũng vì những khu rừng tội ác này mà  nhân dân Âu Châu khiếp sợ Giáo Hội và tránh xa như tránh hủi” [ix][ix],  văn hào Voltaire gọi Đạo Thiên Chúa La Mã  là “cái tôn giáo ác ôn” [x][x], học giả  Gia-tô Henri Guillemin gọi Giáo Hội La Mã là “Cái Giáo Hội Khốn Nạn” (Malheureuse Église)[xi][xi], học giả Gia-tô Charlie Nguyễn gọi đạo Gia-tô là “đạo dối“, “đạo bịp“,  “đạo máu” [xii][xii] , và hầu như toàn thể nhân dân thế giới đều đã quyết tâm chống lại Giáo Hội đến cùng. Dưới đây là  một số trong những bằng chứng cho sự thật này:

1.- Giáo Hội Chính Thống (Orthodox) ở Hy Lạp,  Nga và các vùng bờ biển phía Đông Địa Trung Hải cắt đứt quan hệ thân thiết với Giáo Hội vào năm 1054. Sự kiện này được Linh-mục Bùi Đức Sinh, một cán bộ truyền giáo trong bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội La Mã, viết trong bộ sách Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo với nguyên văn như sau:

Thêm vào đó, sự lỗi lầm và thiếu không ngoan của La Mã. Tháng 3 năm 1054, Đức Hồng Y Humbert, một nhà thần học và là người thân tín của Đức Leo IX (1049-1054), dẫn đầu Sứ Đoàn Tòa Thánh sang Constantinopoli. Trong 4 tháng lưu lại kinh đô, sứ đòan mất nhiều thời giờ vào các cuộc tranh luận, chỉ trích luật hôn nhân và ít nhiều điểm khác của Giáo Hội Hy Lạp: “Vậy thì chỉ có các ông là thánh thiện hơn mọi người sao?” Sứ đoàn làm bộ chỉ biết có hòang đế, dùng những danh từ chua cay nhất mỗi khi nói đến Thượng Phụ Giáo Chủ, trong khi vị này phủ nhận quyền của sứ đoàn. Giữa lúc đó, Đức Thánh Cha Leo IX qua đời ngày 19 tháng 4 (1054). Sứ đoàn tiếp tục công việc và kết thúc bằng một hành động bất ngờ : Hôm ấy là một ngày thứ bảy 16/7/1054, chính lúc một Thánh Lễ bắt đầu cử hành tại Thánh Đường Đấng Khôn Ngoan, sứ đoàn đặt trên bàn thờ một bản án đã viết sẵn phạt vạ tuyệt thông Micae Cerula, phủi bụi giầy và đi khỏi.

 Với thái độ quá thẳng thắn này, sứ đòan trưởng sẽ gây cho giáo dân Hy Lạp một cảm kích  sâu xa. Nhưng Humbert đã quên rằng không nên đối xử với vị thương phụ của giáo hội lớn như vậy, cho dầu vị này có lỗi đi nữa. Sứ đòan không ngờ sự thiếu khôn ngoan đó sẽ làm cho người Byzantine bực tức và giận bỏ luôn. Từ đấy, Cerular tha hồ khai thác sự giận dữ của giáo dân và giáo sĩ, làm tiêu tan mọi cố gắng của Hòang Đế Constantin IX trong công cuộc hòa giải, sau cùng ông lôi cuốn được một số giáo chủ khác. Đó là hậu quả của một hành động cộc cằn của người Đức do Đức Leo IX cử đi! Người ta có thể phàn nàn Đức Thánh Cha đã không không dùng một người Ý, tức người La Mã “chính cống” thường mềm giẻo và khéo léo hơn, và như vậy chắc chắn đã không phạm một lỗi lầm như thế, để tạo cho Micae Cerular có cơ hội đứng lên làm “kẻ trả thù” cho Giáo Hội Đông Phương.” [xiii][xiii]

2.- TẠI ĐỨC.- Phong Trào Tin Lành Martin Luther  ở Đức bùng lên  và chống lại Giáo Hội La Mã vào năm 1519 và lan tràn khắp Âu Châu kể từ đó.

3.- TẠI ANH.- Quốc gia này cũng chính thức chống lại Tòa Thánh Vatican và cắt đứt quan hệ với Giáo Hội  La Mã từ đầu thập niên 1530. Sự kiện này được học giả Charlie Nguyễn ghi nhận như sau:

Sự can thiệp mạnh mẽ của chính quyền, bao gồm cả hòang đế và Nghị Viện Anh quốc, đã biến đổi Công Giáo là một tôn giáo lệ thuộc La Mã trở thành Kitô giáo của dân tộc Anh” nên đuợc gọi là Anh Giáo (Anglicanism). Bằng Đạo Luật về Chủ Quyền Tối Thượng (The Act of Supremacy) ban hành ngày 1 tháng 2 năm 1535, Nghị Viện Anh quốc xác nhận  hoàng đế Anh đứng đầu Giáo Hội Công Giáo Anh, có toàn quyền quản trị tài sản của Giáo Hội Anh và có quyền bổ nhậm các giám mục. Hòang dế Anh có quyền ra lệnh giải tán hội đồng giám mục do Vatican đã bổ nhiệm trước đó và giải tán tất cả các dòng tu trực thuộc quyền lãnh đạo của La Mã. 

Trường hợp Công Giáo Anh quốc tách rời khỏi ách thống trị của Vatican vào năm 1535 là một thí dụ điển hình về sự can thiệp cần thiết của chính quyền để đưa đến một biến chuyển quan trọng trong Giáo Hội Công Giáo. Người Anh đã sớm nhận ra bản chất đế quốc của Vatican, và chính quyền Anh đã đi hàng đàu trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia bằng cách dứt khoát đoạn tuyệt với Vatican.” [xiv][xiv].

4.-TẠI NHẬT BẢN.- Cuối Thế kỷ 17, dân tộc Nhật phát động cuộc chiến chống đạo Gia-tô, hàng triệu tín đồ Gia-tô người Nhật bị sát hại vì tội phản quốc. Nhờ vậy mà nước Nhật tránh được cái đại họa Gia-tô như ở Việt Nam.

5.- TẠI TRUNG HOA.- Thế kỷ 18, nước Trung Hoa, vua Khang Hy (1662-1722), mặc  dù lúc đầu có thiện cảm với các nhà truyền giáo Gia-tô, những rồi cũng phải “ban hành  một sắc lệnh đuổi tất cả những tu sĩ Kitô giáo” ra khỏi lãnh thổ Trung Hoa. Nhờ vậy mà Trung Hoa thóat khỏi cái đại họa Gia-tô.

6.- TẠI PHÁP.- Ngay sau khi Cách Mạng Pháp bùng nổ vào ngày 14/7/1789, chính quyền Cách Mạng tiến hành sử dụng biện pháp mạnh để đối phó với Giáo Hội:

Tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội trên tòan thể lãnh thổ Pháp,

Tước bỏ mọi đặc quyền đặc lợi mà các chế độ đạo phiệt Gia-tô từ vua Louis 16 (1754-1793) trở về trước đã biệt đãi cho Giáo Hội và  giai cấp  giáo sĩ cùng giới quý tộc, trong đó có đặc quyền của Giáo Hội được thu  thuế thập phân

Ban hành “Hiến Chế Dân Sự Dành cho Giáo Sĩ” (Civil Constitution of the Clergy)  đòi hỏi họ phải tuyên thệ  tuân hành những điều luật  ghi trong hiến chế.

Thẳng tay trừng trị những giáo sĩ và tín đồ Gia-tô có những hành động phản quốc và chống lại Cách Mạng. Con số giáo sĩ, nữ tu và tín đồ Gia tô bị đưa ra pháp trường đền tội phản quốc được cựu giáo sĩ Malachi Martin ghi nhận trong sách The Decline And Fall  Of The Roman Church như sau:

Trước hết, nước Pháp mà Giáo Hòang Pius VI (1775-1799) thường gọi là “người trưởng nữ của Giáo Hội” xóa bỏ toàn bộ tôn giáo, đưa nhà vua lên đọan đầu đài, chính thức tôn vinh thần Lý Trí lên ngôi chí tôn, tàn sát 17 ngàn linh mục, 30 ngàn nữ tu và 47 giám mục,   tất cả các tu viện, các dòng tu và các trường học của Giáo Hội đều bị giải thể, tất cả các thư viện của Giáo Hôi đều bị thiêu rụi,  chính quyền Paris còn ban hành quyết định ra lệnh cho Tướng Bonaparte (Sau này là Hòang Đế Napoléon I) “đem quân đi “giải phóng nước Ý”, “có toàn quyền hành động” “hủy diệt Rome và chế độ Giáo Hòang”. Tháng 5 năm 1796, trước khi tiến vào kinh thành Rome, Tướng Bonaparte  tuyên bố, “Chúng tôi là những người bạn của con cháu Brutus (một anh hùng của dân tộc La Mã) và dân Scipios….  Chủ định của chúng tôi là phục hồi điện Capitol và giải phóng nhân dân La Mã thóat khỏi thân phận nô lệ tôi đòi.”

Quân Cách Mạng Pháp tiến chiếm kinh thành Rome và nước Ý. Hòa Ước Tolentino được ký kết giữa Tướng Bonaparte và  Giáo Triều Vatican. Đây là một sự sỉ nhục cho Tòa Thánh Vatican. Giáo Hội phải nộp cho nước Pháp một khoản tiền là 46 ngàn đồng scudi (tiền Vatican) trả làm ba hạn kỳ (Giáo Hòang Pius VI phải đem  các đồ trang trí bằng vàng và bằng bạc ra đúc tiền để trả cho Pháp), 100 món đồ nghệ thuật và 500 tác phẩm hiếm bị tịch thu mang về Pháp; tất cả các hải cảng nằm trong lãnh thổ của Tòa Thánh Vatican phải mở cửa cho hạm đội  Pháp làm căn cứ trú quân, phải từ bỏ tất cả tài sản của Giáo Hội ở trong lãnh thổ các nước Ý, Pháp, Naples, và Sicily … tất cả mọi nơi. Giáo Hoàng Pius VI ((1775-1799)  than thở, “Hòa Ước! Tệ quá đi! Quân đội Pháp chiếm đóng Vatican và Quirinal, truất phế  Giáo Hoàng Pius VI  và thiết lập nước Cọng Hòa La Mã….”

(“First, France, “eldest daughter of the church “he used to call it, abolished all religion, beheaded its king, enthroned Reason officially as supreme deity, massacred over 17,000 priests and over 30,000 nuns as well as forty-seven bishops, abolished all seminaries, schools, religious orders, burned all churches and libraries, then sent the Corsian Bonaparte  to liberate Italy and Rome” “Just as you please,” wrote the Paris government to the Corsian. “Destroy Rome and the papacy utterly ” “We are the friends of the descandants of Brutus and the Scipios… Our intention is to restore the Capitol to free the Roman people from their long slavery,” The Corsian declared in May 1796, just before taking Rome.

Then the capture, and the humiliation of the Peace of Tolentino between the   papacy and the Corsian: a ransom of 46,000 scudi in three installement (Pius melted down all available siver and gold ornaments); 100 objects d’art and 500 rare manuscripts from Vatican; the opening of all papal  harbors to the French fleet; renunciation of all property in Italy and France and Naples and Sicily – everywhere. “They made us their prisoner Spina,” mutters Pius. “Peace treaty! Bah!” The Vatican and Quirinal were occupied by French troops. They deposed Pius, and created  the  republic of Rome....”) [xv][xv]

7.- TẠI Ý ĐẠI LỢI.-  Theo gương nước Pháp, năm 1870 nhân dân  Ý Đại Lợi cũng vùng lên làm cách mạng đạp đổ bạo quyền Gia-tô của Tòa Thánh VaticanNgày 19/ 9/1870, quân đội Cách Mạng Ý đem đại bác nã vào Tòa Thánh Vatican khiến cho Giáo Hòang Pius IX (1846-1878) phải kéo cờ trắng  đầu hàng, toàn thể lãnh thổ  của các tiểu quốc gọi là “Papal States” dưới quyền  trực trị của Tòa Thánh Vatican bị quốc hữu hóa và sáp nhập vào lãnh thổ quốc gia Ý,  lãnh thổ của Tòa Thánh Vatican chỉ còn thu gọn lại một vùng đất nhỏ hẹp vào khỏang 480 ngàn thước vuông. Sự kiện này đước sách Rich Church Poor Church viết:

Ngày 19 tháng 8 năm 1970, quân đội Pháp lo bảo Vệ Tòa Thánh Vatican thực sự rút lui vĩnh viễn. Trận đánh Sedan vào ngày 2 tháng 9 năm đó   đã làm cho đế quốc của Hoàng Đế Nã Phá Luân Đệ Tam hoàn toàn sụp đổ. Tòa Thánh Vatican mất đi một thế lực bảo vệ cuối cùng, và nước Pháp, “người trưởng nữ của Giáo Hội La Mã” kể từ năm 1871 đến năm 1940 đã phải thay đổi đến 99 nội các. Quân Pháp vừa mới rút lui, tức thì, ngày 19 tháng 9, quân đội quốc gia Ý Đại Lợi tiến vào kinh thành La Mã và đóng quân ở ngay chung quanh cổ thành Leonine. Ngày hôm sau (20/9), sau khoảng ba tiếng đồng hồ nã đại pháo vào  trong Tòa Thánh và cận chiến lẻ tẻ, vào lúc 9:30 sáng, Giáo Hoàng ra lệnh kéo cờ trắng ở trên nóc nhà thờ  St. Peter. Mười phút sau đó, không còn nghe thấy tiếng súng nữa. Quân đội Cách Mạng Ý Đại Lợi tiến vào trong kinh thành và chiếm đoạt hết tất cả của cải trong đó, chỉ có Ngọn Đồi Vatican là họ không rớ tới. Quốc Gia của Giáo Hòang không còn tồn tại nữa. Diện tích của quốc gia này từ 16 ngàn dặm vuông bị cắt xén,  còn lại chỉ có 480 ngàn mét vuông kể cả ngọn Đồi Vatican và xung quanh ngọn đồi này trong đó có nhà thờ St. Peter, các tòa nhà phụ cận và các khu vườn Vatican ở gần đó. Hôm sau, ngày 21 tháng 9, Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) viết  một lá thư ngắn ngủi cho người cháu:

Cháu yêu quý:

Tất ca đã hết rồi. Không có tự do, không thể nào quản lý được Giáo Hội. Hãy cầu nguyện cho ta và cho tất cả các con. Ta chúc phúc cho các con.”

“On August 19, 1870, the protecting French troops withrew definitely. With the battle of Sedan on September 2, the empire of Napoléon III came to an end. The papacy had lost its last defender, and France, the “eldest duaghter of the Church” was to have an astounding 99 goverments between 1871 and 1940. Immediately the Italian nationalist troops march on Rome. They encamped around the old Leonine walls of Rome on September 19. The following day, after some three hours of artillery barrage and sporadic hand-to-hand fighting, the pope ordered the white flag to be raised above the dome of St. Peter at 9:30 A.M. Ten minutes later, all firing had ceased. The Italian troops entered the city and took possession of it all, leaving Vatican Hill untouched. The papal State had ceased to exist. Its 16,000 square miles were now reduced to 480,000 square meters on and around Vatican Hill where St. Peter’s it adjoining buildings, and the Vatican gardens were clustered. The next day, September 21, Pius IX (1846-1878) wrote a short note to his nephew:

Dear Nephew, all is over. Without liberty, it is impossible to govern the Church. Pray for me, all of you. I bless you. Pius P. IX.” [xvi][xvi]

Trong thập  niên 1970, quốc hội Ý lại  quyết định cho vào hiến pháp điều khoản công nhận quyền tự do tôn giáo của nhân dân. Cũng vì thế mà ngày nay, khi Giáo Hoàng đưa ra những lời lẽ trịch thượng nói về cái thế thượng đẳng của Ki-tô giáo là bị người dân Ý thuộc các tôn giáo khác lên tiếng phản đối và đưa đến pháp đình xử lý. Bản tin dưới đây nói lên sự kiện này:

“LA MÃ: Giáo Hòang, các hồng y bị một người Hồi giáo kiện trước tòa án..- Hôm Thứ Bảy (27/2/2004), một tín đồ Hồi giáo người Ý nộp đơn kiện giáo hoàng, một hồng y chóp bu và nhiều viên chức khác của Giáo Hội vì các ông này đã đưa ra những lời nhận xét trịch thượng nói về cái thế thượng đẳng của đạo Gia-tô, nhận xét như vậy là vi phạm hiến pháp của nước Ý đã công nhận mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Ông Adel Smith nói rằng ông chỉ mong được tòa  lên án những lời nhận xét trịch thượng trên đây, chứ không đòi tiền bồi thường hay trừng phạt những thiệt hại khác. Ông Smith là hội trưởng Liên Hội Tín Đồ Hồi Giáo ở Ý. Trước đó, ông đã làm sôi nổi dư luận do việc nộp đơn yêu cầu tòa án ra lệnh tháo gỡ cây thánh giá ở trong lớp học của người con trai của ông.” (“ROME: Pope, cardinals sued by Muslim activist.-: A Muslim activist sued the pope, a top cardinal and other church officials Saturday, claiming their comments about the superiority of Christianity violated the Italian constitution, which proclaims that all religions are equal under the law. Activist Adel Smith said he was seeking a court condemnation of the comments but no monetary or other pinitive damages. Smith, president of the Muslim Union of Italy, has previously made headlines for his court battle to have a crucifix taken down from his son’s classroom.” [xvii][xvii]

8.- TẠI TÂY BAN NHA– Trong các quốc gia nạn nhân của Giáo Hội La Mã, Tây Ban Nha nước nằm dưới ách thống trị của các chế độ đạo phiệt Gia-tô tay sai của Giáo Hội trong thời gian lâu dài nhất, dài hơn nước Pháp  tới 186 năm. Cách Mạng Pháp bùng nổ vào ngày 14/7/1789 và coi như thoát khỏi các ách thống trị bạo tàn của Giáo Hội kể từ ngày này. Trong khi đó thì  nhân dân Tây Ban Nha vẫn còn phải tiếp tục kéo lê kiếp sống đọa đày “mang nợ tổ tông” là tôi đòi cho Giáo Hội cho đến khi tên đạo phiệt Francisco Franco qua đời vào năm 1975 thì họ mới thoát khỏi cái ách bạo tàn của Tòa Thánh Vatican. Bởi thế cho nên, nhân dân Tây Ban Nha căm thù Giáo Hội La Mã và giai cấp tu sĩ Gia-tô còn sâu đậm hơn tất cả các dân tộc nạn nhân của Giáo Hội. Cũng vì thế mà mỗi khi có cơ may là nhân dân Tây Ban Nha nổi lên tàn sát giới tu sĩ Gia-tô không một chút xót thương. Mấy bản văn dưới đây là bằng chứng:

1.- Bản văn (thư nhất)   có tựa đề là “Hold on to your faith, Pope tells Spaniards”  của ký giả David Sharrock  trong bản tin   World News được công bố ngày May 05, 2003 mà chúng tôi ghi nhận được dưới đây là bằng chứng cho sự kiện nay. Nguyên văn bản tin này như sau:

World News May 05, 03: Hold on you faith, Pope tells Spaniards” by David Sharrock:

“The Pope urged Spain yesterday to remain to its Roman Catholic culture and faith when he proclaimed five new Spanish saints

One million people formed a giant cross at the heart of Madrid as a congregation of mostly Spaniards, but also South Americans and Poles, spread out along four boulevards  intersecting at Columbus Square, where a huge white altar was built for canonisation Mass.

We inscribe them in the book of the saints and establish that in all the Church they be devoutly honoured among the  saints,” the Pope said in confident Spanish.

In the five years he has canonised 20 Spaniards, 11 of them “martyrs” who were killed by republicans during the Spanish Civil War of 1936-1939.

Among the five who were prioclaimed  saints was Father Pedro Poveda, one of 4,18priests killed by republicans during the war. ..

The Pope has now canonised some 470 peiple and beattified 1,314, more than all his predecessors combined…”

2.- Bản văn (thứ hai )này do tờ nhật báo “Seattle-Post Intelligencer [Seattle]  ra ngày  February 6, 2003” nơi trang  A3  với nguyên văn như sau:

“Ở Tây Ban Nha, nói đến đạo Công Giáo La Mã là gợi lại hình ảnh nhà độc tài phát xít Francis Franco mà đồng tiền Tây Ban Nha nào cũng đều có in hình của ông ta và quyền lực của ông ta được hỗ trợ “bởi Ân Sủng của Thượng Đế”… Ngọai Trưởng Tây Ban Nha Ana Palaciao tuyên bố, “Điểm giống nhau của chúng ta là chiến đấu cho dân chủ, chiến đấu cho nhân quyền và chiến đấu để “tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền

Một vị dân biểu quốc hội Tiệp Khắc, (quốc gia này sẽ gia nhập  Khối Âu Châu Hợp Nhất vào năm tới), là ông Jan Zahadil tuyên bố, “Đề cập đến Thượng Đế trong bất kỳ hiến chương nào của Khối Âu Châu Hợp Nhất là một ý kiến ngu xuẩn, nó chỉ tạo nên những mối bất hòa mà thôi. Không được có một tí gì liên hệ trực tiếp với tôn giáo cả.

[“In Spain, a reference to Catholicism evokes memories of the facist dictator Francis Franco, who stamped every Spanish coin with his profile and backed his grip on power “by the Grace of God.”… Our identity is the fight for democracy, for huuman rights, for the separation between church and state,” said Spanish Foreign Minister Ana Palacio.

Jan Zahradil, a Czech parlimentarian whose country will join the EU next year, said mentioning God in any EU charter was “a stupid idea (that) will only provokes disagreements. There should be no direct link to religion at all.”] [xviii][xviii]

9.- TẠI BA LAN .- Nước Ba Lan với tỉ lệ tín đồ Gia-tô của Giáo Hội  chiếm tới 95% và đã có kinh nghiệm hơn 40 năm sống trong chế độ Cộng Sản. Ấy thế mà khi có cuộc bầu cử tự do được tổ chức vào ngày 19/11/1995 thì họ thà chọn một ứng cử viện cựu đảng viên Cộng Sản là ông Aleksander Kwasniewski còn hơn là chọn ông Gia-tô Lech Walesa, một tín đồ ngoan đạo tay sai đắc lực của Giáo Hội La Mã.

10. TẠI MEXICO (Mễ Tây Cơ).-  Nhân dân quốc gia này cũng theo gương nước Pháp vùng dậy đòi lại quyền làm người. Dù rằng hơn 90% là tín đồ của Giáo Hội, năm 1857, nhân dân Mễ Tây Cơ cũng đứng lên làm Cách Mạng và cũng dùng  những biện pháp mạnh đối với Giáo Hội. Sự kiên này được học giả Charlie Nguyễn ghi lại như sau:

Mexico cũng như cấc quốc gia khác ở Trung và Nam Mỹ Châu đều có đại đa số dân theo đạo Công Giáo. Dân số Mexico hiện nay lên tới trên 100 triệu người. Mặc dầu đa số dân là những tín đồ Công Giáo ngoan đạo, những đã hơn một thế kỷ qua chính quyền Mexico đến nay vẫn tuyệt giao với Vatican. Năm 1857, quốc hội và chính phủ Mexico đã đưa ra bản hiến pháp mang tính chất cách mạng quyết liệt chống lại Giáo Hội   La Mã:

1.- Giải tán tất cả các tu viện Nam cũng như nữ.

2.- Các nam tu sĩ bị cấm mặc áo dòng khi xuất hiện ở nơi công cộng.

3.- Tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội Công Giáo.

Tinh thần bản Hiến Pháp 1857 của Mexico được nhiều nước Mỹ Châu La Tinh noi theo. Năm 1917, Mexico sửa lại hiến pháp nhưng các biện pháp đối với Giáo Hội không thay đổi.” [xix][xix]

11.- TẠI CUBA.- Nước Cuba với tỉ lệ tín đồ Gia-tô của Giáo Hội chiếm tới gần 100%, ấy thế mà họ thà cương quyết sống với chế độ độc tài của ông Fidel Castro còn hơn là phục hội chế độ đạo phiệt Gia-tô Fulgencio Batista của thời 1952-1959.

12.- TẠI NICARAGUA.- Nước Nicaragua (Trung Mỹ) với dân số 4.267.000 (vào năm 1995) và tỉ lệ tín đồ Gia-tô của Giáo Hội chiếm tới 95% cũng đã cố gắng giẫy dụa cả thập niên 1980 để thoát khỏi ách thống trị tham tàn bạo ngược của băng đảng “quạ đen” tay sai của Giáo Hội,  cắt đứt mọi liên hệ  với Giáo Hội để lập một giáo hội riêng gọi là Giáo Hội Nhân Dân (People’s Church). Lòng căm thù của dân Nicaragua đối với Giáo hội La Mã được thể hiện bằng hành động  hạ nhục Giáo Hòang John Paul II khi Ngài  “thánh du” đến quốc gia này vào tháng 3 năm 1983. Cựu giáo sĩ Malachi Martin ghi lại  sự kiện này trong Chương với một tựa đề.”Papal Humiliation” dài 15 trang giấy khổ lớn, in trong trong ấn phẩm The Jesuites. Người viết xin  lược ghi một vài đọan chính nói về sự kiện này để độc giả thấy rõ mực độ kinh tởm của nhân dân Nicaragua nói riêng và nhân dân  thế giới  nói chung đối với Giáo hội La Mã như thế nào!

Vào lúc bắt đầu lên bục giảng bài thuyết giáo được chuẩn bị để công kích Giáo Hội Nhân Dân của nước Nicaragua. -Giáo Hòang John Paul II ngạc nhiên khi thấy hệ thống âm thanh mà Ngài đang sử dụng không lấn át được tiếng hô những khẩu hiệu cách mạng có nhịp điệu vang lên từ đám đông quần chúng ở dưới khán đài. Ngài ráng hết sức để trấn áp những tiếng hô này, nhưng sức Ngài có hạn, tiếng hô những khẩu hiệu “Quyền lực phải thuộc về nhân dân!” “Hãy nói với chúng tôi tiếng nói của dân nghèo!” “Chúng tôi mong muốn một Giáo Hội Thống Nhất cho dân nghèo!” “Không có gì mâu thuẫn giữa Thiên Chúa Giáo và Cách Mạng! cứ liên tục vang lên như sấm gầm làm rung động cả không gian.

Sự kiện này làm cho Giáo Hòang giận tái mặt và Ngài đã nhìn ra sự thật đang xẩy trước mặt. Ngài đã bị sa vào cái bẫy: tiếng nói của Ngài chìm lỉm trong vực thẳm của những tiếng động (tiếng hô những khẩu hiệu cách mạng) Trong cơn giận dữ và tuyệt vọng, Ngài lớn tiếng la “Im lặng!” Nhưng tiếng hô những khẩu hiệu cách mạng vẫn cứ vang lên lấn át cả tiếng la ra lệnh  của Ngài. Lần thứ hai Ngài lại la lớn “Im lặng”, nhưng lệnh truyền của Ngài vẫn bị tiếng hô những khẩu hiệu cách mạng của nhân dân lấn át. Lần thứ ba, Ngài lại la lớn “im lặng!”. Nhưng Ngài đã đuối sữc, tiếng ra lệnh của Ngài không còn thành tiếng nữa mà chỉ còn là dấu hiệu bằng tay mà thôi Tiếng hô những khẩu hiểu cánh mạng “Quyền lực của Nhân Dân!” và “Chúa sống với Giáo Hội của nhân dân” đã đè bẹp hết mọi cố gắng của Ngài. Quả thật là nhân dân ở đây vượt ra ngoài tầm tay của Ngài.

Tức giận, Ngài văng ra những lời mắng nhiếc vào Microphone và ném những cái nhìn nẩy lửa vào các nhân viên viên cao cấp trong chính quyền Niicaragua đang ngồi trên khán đài trong buổi lễ. Nhân dân hô lớn hơn nữa khiến cho bài thuyết giáo của Ngài phải bị bỏ dở.Thế cũng chưa đủ. Quần chúng ở bên dưới vẫn tiếp tục hô lớn “Quyền lực thuộc về nhân dân!” “Tín đồ Gia-tô có thể là người theo chủ nghĩa Marx!” và “Hãy nói với chúng tôi về sự bất công của chủ nghĩa tư bản!”

Cũng vẫn chưa hết bị làm nhục. Khi Ngài và đoàn tùy tùng lên máy bay ra về, và khi mọi người đã ngồi vào ghế ngồi trong chiếc máy bay DC 10 của hãng Alitalia tại phi trường Managua vào đêm hôm đó, viên phi công báo cho đài kiểm sóat là máy bay đã sẵn sàng cất cánh thì chính quyền Nicaragua ra lệnh cho chiếc phi cơ chở Ngài phải ở lại thêm 10 phút nữa. Đây là cử chỉ cuối cùng để nói cho Ngài biết ai là người thực sự làm chủ ở đây (Nicaragua). Còn nữa, chính quyền Nicaragua còn chơi Ngài cho đến chót. Đài phát thanh Nicaragua lên tiếng đòi Ngài phải xin lỗi về thái độ của Ngài.

(“When the moment came for him to deliver his prepared homily – a vigorously onslaught on the People’s Church. – he appeared surprised that even the microphone that had been set up for him could not overcome the well-rehearsed and beautifully timed cacophony that now rose from the crowds….When John Paul strained to make his deep voice resound over competition, the litany of the crowd became thunderously loud as regular heartbeats: “Power to the People!” “Speak to us of the poor!”… We want a united Church on the side of the poor!” “There is no contradiction between Christianity and revolution!”…

John Paul’s face became livid with indignation as he realized what was happening: He was being trapped and nullified in a well of noise. In anger and desperation, he finally shouted, “Silencio!” In the well-orchestrated symphony of the claques, the Pope’s command was but a signal to increase the tempo of slogans. “Silencio!” John Paul shouted a second time. A new crescendo of slogans engulfed him. A third time: :”Silencio!” the word accompanied now by staying gesture of his hand. An unmaginably loud chorus of “Power to the People! Christ lives in the People’ s Church!” overwhelmed his efforts. The crowd was beyond his control Angered, John Paul shouted a taunt into his microphone, his fury-filled glance shooting over at the Junta in their reviewing stand: “Miskito Power!” Finally the thumping cascade of amplified shouts defeated John Paul. He did not finish his homily. But even that was not enough… The slogans continued … “Power of the People!” and “It is possible to be Marxist and Christian!” and “Speak to us about the injustice of capitalism!”.

Yet the humiliation was not complete. When John Paul and his entourage took their seats in the Alitalia DC-10 at Managua’s airport that night and the pilot notified the control tower that he was ready to take off, the Junta ordered the papal plane to be kept waiting an extra ten minutes on the ground. It was their gesture to underline who was really in control here. When at last the humiliation had been played to its last note, the government radio insisted to the Nicaraguan people that the Pope should apologize for his behavior. [xx][xx]

13.- TẠI NGA.- Nước Nga còn tiến mạnh hơn các quốc gia trên đây bằng  đạo luật cấm không cho đạo Kitô La Mã và đạo Tin Lành họat động ở trong lãnh thổ nước  Nga trong khi   thì lại công nhận  các tôn giáo khác như Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Phật Giáo. Sự kiện này được cụ Trần Văn Kha nói rõ trong cuốn Đức Tin Và Lý Trí – Thông Điệp Thứ 13 của Giáo Hoàng John Paul II và đã được sách  Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation ghi lại như sau:

” Tin của “The Register” số ra ngày Thứ Bảy 20/ 9/1997 cho biết: “Đạo luật đã chấp nhận “Chính Thống Giáo” là tôn giáo chính, kính trọng các tôn giáo khác, như Hồi Giáo, Phật Giáo và Do Thái Giáo. Đạo luật tạo ra một hàng rào ngăn cản đối với những giáo phái toàn trị (Gia-tô, Tin Lành) và hạn chế sự hoạt động của những nhà truyền giáo ngoại quốc. Các nhà phản đối cho rằng Chính Thống Giáo cũng ủng hộ đạo luật này như là một cách để ngăn cấm những người Kitô khác như Gia-tô và Tin Lành, không cho họ được tự do họat động ở Nga.” Vào ngày Thứ Sáu 19/9/1997, các nhà làm luật ở Hạ Viện đã bỏ phiếu chấp thuận (đạo luật trên đây) với 358 phiếu thuận và 6 phiếu chống.” (“The bill enshrines Russia’s Orthodox Church as the country’s preeminent religion, but also pledges repect for religions such as Islam, Buddhism and Judaism. It creates a barrier for totalitarian sects and limits the activity of foreign missionaries. But critics say the Orthodox Church also is backing the measure as a way to prevent other Christians, such as Catholics and Protestants, from operating freely in Russia. On Friday, September 19, 1997, lawmakers in the lower house, or Duma, voted 356-6 in favor of the bill.” [xxi][xxi]

14.- TẠI HOA KỲ  và hầu hết các nước theo chế dộ dân chủ tự do đều ghi điều khỏan tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền, tống cổ bọn giáo sĩ về  với bàn thờ  hành nghề thày cúng để sống trên lưng tín đồ

15.- Tất cả các nước theo Hồi Giáo, Do Thái Giáo, Chính Thống Giáo và Tin Lành bất cộng đái thiên với Giáo Hội La Mã.

16.- Tất cả các nước theo Phật Giáo, Ấn Độ Giáo, Khổng Giáo và Thần Đạo (Nhật Bản) đều khinh rẻ Giáo Hội La Mã như là một tổ chức chính trị giảo hoạt mượn danh nghĩa những tín lý bịp bợm để mê hoặc và lừa bp người đời trong mưu đồ bành trướng chủ nghĩa bá quyền.

Cho đến ngày nay, lòng uất hận và căm thù của nhân dân thế đối với Giáo Hội La Mã vẫn còn bừng bừng phừng phực lúc nào cũng muốn bùng lên như hỏa diệm sơn. Vì lòng căm phẫn của nhân dân thế giới đối với Giáo Hội La Mã sôi sục như vậy, cho nên từ năm 1994 cho đến nay, Giáo Hoàng  John Paul II đi đến đâu cũng xin lỗi các dân tộc nạn nhân của Giáo Hội, tính ra tất cả có đến trên dưới 100 lần  rồi. Cũng vì thế mà Ngài đã phải cho tổ chức buổi đại lễ vô cùng long trọng tại Quảng Trường Peter vào ngày 12/ 3/ 2000 để chính Ngài và các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican đứng ra cáo thú với Chúa  7 mối tội ác trùng trùng như 7 rặng  Hy Mã Lạp Sơn.

ẤY THẾ MÀ DÂN TA HÂU NHƯ KHÔNG BIẾT

VÀ TÍN ĐÔ GIA-TÔ NGƯỜI VIỆT THÌ…

Tất cả những sự kiện lịch sử đã trình bày trên đây về những chủ truơng, chính sách và việc làm tội ác của Giáo Hội La Mã là những sự thật rõ như ban ngày. Ấy thế mà rất nhiều người Việt chúng ta lại không biết một tí gì  hết. Tình trạng này đã khiến cho nhiều người Vỉệt không phải là tín đồ Gia-tô thường bảo rằng, “Tôn giáo nào cũng chủ trương dạy đời làm điều lành tránh điều ác. Nếu có điều gì xấu xa hay tội ác  thì là do cá nhân ở trong đạo đó, chứ không phải đạo của họ chủ trương như vậy“. Sự kiện này chứng tỏ họ hòan toàn không biết rằng những việc làm tội ác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua là do Giáo Hội đã chủ trương như vậy.

Đặc biệt là tín đồ Gia-tô người Việt thì lại  nhất định cho rằng Giáo Hội La Mã không có tội ác gì hết, và  Giáo Hội cũng không cần phải xin lỗi dân tộc nào hết. Tình trạng này được tờ (báo bỏ chợ) Sàigòn Nhỏ số 170, ra ngày 17/3/2000 ghi nhận với nguyên văn như sau:

Tại nhà thờ St Elizabeth ở Columbus, Ohio, anh Holum Lee, 30 tuổi, lại phát biểu rằng: “Tôi cho là không cần phải xin lỗi gì hết”. Cũng vậy, tại một nhà thờ khác ở Orange County, một tín hữu gốc Á Châu cho rằng “tại sao phải xin lỗi, chúng ta phải hiểu rằng khung cảnh lịch sử và hậu trường xã hội thời đó khác với bây giờ, cho nên những việc xẩy trước đây có lẽ cũng là việc đương nhiên và dân chúng thời đó coi là truyện dĩ nhiên bình thường trong bối cảnh của nó. Không thể lấy hiện tại mà áp đặt giá trị luân lý vào việc xẩy ra xưa kia được.”  [xxii][xxii]

Kinh tởm hơn nữa là họ vẫn  còn nhất quyết khăng khăng một lòng cho rằng Giáo Hôi La Mã là “Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền“, là “Hiền Thê của Thiên Chúa Làm Người”, và  đã có công đem “Tin Mừng” về :”Hồng Ân Thiên Chúa” và “ơn cứu rỗi” cho nhân loại  trong đó  có dân tộc Việt Nam ta. Nguy hiểm hơn nữa là họ:

1.- Vẫn còn tiếp tục tỏ lòng tuyệt đối trung thành với Giáo Hội La Mã, vẫn còn triệt để  vâng lời các “đấng bề trên” của họ và luôn luôn sẵn sàng  tuân hành những lệnh truyền của Tòa Thánh Vatican ra công quấy phá Việt Nam nhằm tạo cho tình hình  nước ta trở nên bất ổn để cho Giáo Hội rình chờ cơ hội thi hành sách lược “thừa nước đục để thả câu” như Giáo Hội đã  từng làm trong các thế kỷ 17, 18 và 19..

2.- Khủng bốvu khống, và  tố cáo láo  những tác giả có ấn phẩm nói lên những sự thật về những chủ trương, chính sách và việc làm tội ác của Giáo Hội La Mã. Sở trường của họ ngày xưa là gán cho nạn nhân là “chống Chúa”, “phỉ báng đạo Gia-tô”, nói xấu đạo Gia-tô”. Ngày nay, ai cũng biết rằng đạo Gia-tô hay Giáo Hội La Mã xấu xa đến cùng mức của xấu xa  khiến cho nhân dân thế giới phải kinh tởm đến nỗi văn hào Voltaire phải gọi  đạo Gia-tô là “cái tôn giáo ác ôn” và mọi người phải “lánh xa như lánh hủi” thì họ lại gán cho nạn nhân  là “Cộng Sản”, “Cộng Sản nằm vùng“, “chống Chúa”, và  loan truyền hay rỉ tai với mọi người rằng những tài liệu lịch sử nêu lên trong những ấn phẩm đó là “những tài liệu giả“, nhưng lại chỉ “tố cáo suông”, “nói suông” để lấp liếm tội ác cho Giáo Hội La Mã, chứ không dám đưa ra những luận cứ có khả năng thuyết phục để chứng minh những tài liệu đó là tài liệu giả, và cũng không dám viết lên một ấn phẩm với những luận cứ để phản bác những điều mà họ cho rằng “sai” hay “không đúng với sự thật lịch sử“.

VẤN ĐỀ LÀ..

TẠI SAO lại dân ta lại không biết gì về những chủ trương, chính sách và những việc làm tội ác trên đây của Giáo Hội La Mã?

TẠI SAO  tín đồ Gia-tô người Việt vẫn nhất quyết khăng khăng một lòng cho rằng Giáo Hôi La Mã là Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền, là Hiền Thê của Thiên Chúa Làm Người, và  đã có công đem Tin Mừng về : Hồng Ân Thiên Chúa và ơn cứu rỗi cho nhân loại  trong đó có dân tộc Việt Nam ta?

TẠI SAO tín đồ Gia-tô người Việt lại khủng bốvu khống và tố cáo láo,  tố cáo suông những tác giả có ấn phẩm nói lên những sự thật về những chủ trương, chính sách và  việc làm tội ác của Giáo Hội La Mã?

Sự kiện này khiến cho người viết đặt ra một vài vấn nạn dưới đây:

A.- Phải chăng họ đã bị chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ biến thành những hạng người bị điều kiện hóa giống như con chó trong phòng thí nghiệm của nhà bác học Pavlov cho nên học chỉ còn tin nghe những gì Giáo Hội dạy dỗ, rao truyền, và chỉ biệt triệt đẻ thi hành các lệnh truyền của Giáo Hội?

B.- Có phải dân ta đã bị Giáo Hội La Mã  lừa bịp và lường gạt qua chính sách tuyên truyền hết sức tinh vi cho nên mới có rất nhiều người không biết gì về những rặng núi tội ác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua?

C.- Ngọai trừ mấy cuốn gian thư, ngụy thư do bọn văn sử nô Gia-tô biên sọan theo lệnh truyền của Giáo Hội.của Giáo Hội phải chăng chúng ta không có một lịch sử Giáo Hội bằng tiếng Việt và được viết bởi các nhà viết sử chân chính?

Binh thư Tôn Tử nói rằng, “Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng“. Như đã nói ở trên, Giáo Hội là một thế lực thù địch dã man nhất và nguy hiểm nhất của dân tộc Việt Nam ta từ mấy thế kỷ nay. Ấy Thế mà chúng ta lại không biết một tí  gì về kẻ thù vô cùng nguy hiểm này của chúng ta. Chúng ta không biết là vì chúng ta không có  tài liệu bằng tiếng Việt được phổ biến rộng rãi  cho học sinh, sinh viên và đại chúng. Hy vọng rằng bộ sách Lịch Sử và Tội Ác Của Giáo Hội La Mã này có thể giúp cho dân ta có những tài liệu trung thực về Giáo Hội La Mã, được biên sọan theo phương cách viết sách giáo khoa để cho độc giả dễ dàng tìm hiểu những sự thật về những chủ chương, chính sách và và những rặng núi tội ác của Giáo Hội vốn đã bị bưng bít hay diễn dịch theo luận điệu tuyên truyền  “ăn không nói có, vo tròn bóp méo, quanh co, lươn lẹo, lộn sòng và mập mờ  đánh lận con đen” qua những sách lược “Tăng Sâm giết người” và “cả vú lấp miệng em” của Gíao Hội như chúng ta đã từng thấy:

1.- Thiên Chúa Jehovah đã được sách Leviticus (26: 1-18) mô tả rõ ràng như ban ngày là một ác thần “đầy lòng gánh ghét và vô cùng độc ác“. Ấy thế mà “tên ác thần” này lại được Giáo Hội La Mã biến  thành môt ông “Thiên Chúa tòan năng, tòan thiện...” và “Thiên Chúa lòng lành vô cùng“.

2.- Nữ anh hùng Jeanne d’ Arc (1412-1431) bị Giáo Hội biến thành một con mụ phù thủy độc ác nguy hiểm cho xã hội, đem trói bà vào một cái cọc, chụm củi khô, châm lửa thiêu sống bà cho đến chết, rồi gần 500 năm sau, Giáo Hội lại phong thánh cho bà và “nhận vơ” bà là một trong những vị nữ thánh của Giáo Hội.

3.- Tên phản thần tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm đã từng bị cụ Trần Văn Lý lên án là hạng người “mang mười chữ bất” (bất hiếu, bất trung, bất nhân, bất nghĩa, bất tài, bất trí, bất công, bất minh, bất tín và bất hòa[xxiii][xxiii], đã phải “đền tội” vào sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963 vì “tội phản chủ Hoa Kỳ” –là tội riêng của y đối với chủ tớ,  nhưng “tội bán nước và  phản dân” –là tội đối với đồng bào và tổ quốc . Ấy thế mà tên “bạo chúa súc sinh này” lại được Giáo Hội và tín đồ Gia-tô người Việt biến thành “nhà chĩ sĩ yêu nước” và anh hùng dân tộc đã hy sinh vì nước“.

Vân vân và vân vân

Hậu từ của tác giả: VIẾT THEO LƯƠNG TÂM VÀ KINH NGHIỆM

Trong Quyển Hai của bộ sách Thực Chất Của Giáo Hội La Mã, nơi sau Chưong 16, chúng tôi có đăng một phần bài thơ Nỗi Lòng của người viết ký tên là  Viiệt Án Anh  trong đó có mấy đoạn dưới đây:

Tôi viết đây không phải vì ghét đạo,
Mà ghét phường mượn đạo để lừa dân,
Mượn nhà thờ để làm chuyện bất nhân,
Nhân damh đạo làm những điều bất nghĩa.

Lũ chúng nó quân bất nhân bất nghĩa,
Chuyên môn dùng danh nghĩa thánh thần,
Bày đủ trò huyễn hoặc để lừa dân,
Người viết sử phải lột trần sự thật.

Tôi viết đây với tấm lòng chân thật,
Viết ra bằng kinh nghiệm của bản thân,
Bằng cuộc đời tìm hiểu sử nhiều năm,
Viết sự thật lẽ thường hay bị ghét.

Ghét hay yêu sá gì tôi cứ viết,
Viết cho đời mau sớm tỉnh cơn mê,
Cho quân gian không còn lối đi về,
Không còn chuyện nhập nhằng đời với đạo.

Không còn chuyện lũ buôn thần bán thánh,
Ẩn mình trong những lớp áo tu hành,
Hầu dễ dàng làm những chuyện lưu manh
Dưới danh nghĩa một danh xưng tôn giáo.

Không còn chuyên mượn danh xưng tôn giáo,
Chuyên lừa dân bằng danh nghĩa thánh thần,
Làm những điều bất nghĩa và bất nhân,
Gươm lịch sử không tha phường gian ác.

(Việt Án Anh 1999)

Bộ sách Lịch Sử Và Tội Ác Của Giáo Hội La Mã được biên soạn căn cứ theo những tài liệu lịch sử mà chúng tôi đã học hỏi, tìm hiểu và sưu tầm từ khi còn là học sinh bậc trung học. Bộ sách này được viết theo lương tâm chức nghiệp của một nhà giáo tốt nghiệp ngành sử học cùng với kinh nghiệm hơn 30 năm dạy môn sử ở các trường trung học ở Việt Nam và ở Hoa Kỳ, và được viết theo kinh  nghiệm bản thân của một chứng nhân chìm nổi với  quê hương trong suốt chiều dài cuộc Kháng Chiến 1945-1954 chống xâm lăng ở miền Bắc Việt Nam  và ở miền Nam Việt Nam từ 1955 cho đến chiều tối ngày 29/4/1975.


*Liên lạc để order sách trước: Phúc Nguyễn P.O. Box 7434 –Tacoma, WA. 98407 USA


CHÚ THÍCH

[i][i]  Malachi Martin, The Decline And Fall Of The Roman Church  (New York: G.P.Putnam’s Sons, 1981),  tr 140

[ii][ii]  Trần Tam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978), tr 53

[iii][iii]  J.T.C.Smokescreens (Chino, VA: Jack T. Chick, 1983), tr  35.

[iv][iv]   Phan Đình Diệm, “Hộc Hội Giê-su Kitô Phục Sinh, Tuyên Cáo 6 Ngày 15/6/1999. tanvien@kitohoc.com

[v][v]  Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam 1858-1897 (Saint Raphael , Pháp: TXB 1994), tr. 17.

[vi][vi]  Cao Huy Thuần, Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam (L.A., CA: Hương Quê, 1988), tr  395-414

[vii][vii]  Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 2001), tr  286

[viii][viii]  Lloyd Graham,  Deceptions and Myths of the Bible (Secaucus, N.J: Carol Publishing Group, 1999), p. 463

[ix][ix] Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA., Giao Diểm, 2000), tr  245.. Đây là  lời ghi nhận của học giả Gia-tô Phan Đình Diệm , Hội Trưởng Học Hội Đức Giê-su Phục Sinh, ghi nhận trong bản Tuyên Ngôn 1 được công bố ngày 15/9/1999 và được tác giả Hòang Nguyên Nhuận ghi lại với nguyên văn như sau:

Giáo Hội công giáo Roma La-tinh trong thời cực thịnh kinh bang tế thế, đội vương miện cho các hoàng đế, tung hoành dọc ngang, làm mưa làm gió, thâu tóm cả thiên hạ trong tay, tiền rừng bạc biển, đã không biết tự chế, không học bài học khiêm hạ rửa chân, tự cao tự đại, coi bàn dân thiên hạ như cỏ rác… hôm nay hối bất cập, lịch sử còn nằm trơ ra đó, Người Âu Châu khiếp sợ Giáo Hội và tránh xa như tránh hủi! Người Á Châu có thành kiến ghép Giáo hội vào ông Tây thực dân và chống thực dân! Người Mỹ Châu La-tinh đồng hóa Giáo Hội vào đại họa diệt chủng!…”

[x][x]  Bùi Đức Sinh, Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo – Phần Nhì (Sàigòn: Chân Lý, 1972), tr 165. Nguyên văn câu nói này như sau: “Năm 1701, Voltaire nói: “Phá được Dòng Tên, tức là phá được cái tôn giáo ác ôn nay“.

[xi][xi]  Nhiều tác giả, Sđd., tr 92.

[xii][xii] Chatlie  Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Garden Grove, CA: Giáo Điêm, 2000), tr  226,  228 và 272

[xiii][xiii]  Bùi Đức Sinh,  (Phần I) Sđd., tr 310-311

[xiv][xiv]  Charlie Nguyễn. “Truyền Thống Phản Quốc Của Công Giáo Việt Nam.” Đông Dương Thời Báo số 88. Tháng 5 & 6 năm 2004, tr 1, 8,9 &10.

[xv][xv]  Malachi Martin, Ibid.,  pp. 232-233.

[xvi][xvi]  Malachi Martin, Rich Church Poor Church (New York: G.P.Putnam’s Sons, 1984)  tr 170

[xvii][xvii]   “Pope, Cardinals sued by Muslim Activist;” The News Tribune (Tacoma, WA), Feb. 29, 2004: A3

[xviii][xviii]  Constant Brand (Associated Press). “”Seattle-Post Intelligencer” [Seattle] February 6, 2003″ Page A3

[xix][xix]  Charlie Nguyễn, Thực Chất Đạo Công Giáo Và Các Đạo Chúa (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2003), tr 159

[xx][xx]  Malachi Martin, The Jesuits (New York: The Linden Press, 1987), tr 119-120.

[xxi][xxi]  Nguyễn Mạnh Quang, Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004), tr 50-51

[xxii][xxii]  Sàigòn Nhỏ số 170 ngày 17/3/2000

[xxiii][xxiii]  Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Wesminster, California: Văn Nghệ, 1993), tr 591

Nguyễn Mạnh Quang

giaodiemonline.com

Advertisements
Categories: Chúa Dê-su | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điều hướng bài viết

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: