Khuyển sinh Việt gian RômaGiáo – TinLànhGiáo rất nguy hại cho dân tộc Việt Nam (Phần II)

2. Về Cốt Tủy Những Niềm Tin Trong Ki Tô Giáo.

~ O ~

Một câu hỏi được đặt ra là, với những điều mê tín hoang đường đã không còn mấy giá trị trong thế giới tân tiến Tây phương, bằng chứng là Ki Tô Giáo nói chung đang suy thoái thê thảm ở phương trời Âu Mỹ mà tại sao Ca-tô cũng như Tin Lành lại vẫn muốn mang những đồ đang dần dần bị phế thải ở Âu Mỹ truyền bá trong một số địa phương ở Á Châu và Nam Mỹ.  Chúng ta đã có câu trả lời từ lâu, vì đó chỉ là những tổ chức thế tục, buôn thần bán thánh, khai thác đầu óc yếu kém của một số người trong những xã hội tương đối kém phát triển, dân trí tương đối còn thấp.

Cuối thế kỷ 19, Robert G. Ingersoll đã đưa ra một nhận định về đạo Tin Lành:

Tại sao đạo Tin Lành vẫn tồn tại?  Điều này chứng tỏ cái gì?  Nó chứng tỏ là quần chúng thì mê tín[superstitious] và các mục sư thì ngu muội (stupid).

[Protestantism dies hard.  What does that prove?  It proves that the people are superstitious and the preachers stupid.]

Và năm 2003, S.T. Joshi viết trong cuốn “Những Người Bảo Vệ Gót: Họ Tin Những Gì Và Tại Sao Họ Sai Lầm” [God’s Defenders: What They Believe and Why They Are Wrong”, Prometheus Books, New York, 2003, p.14]:

Câu hỏi chính đã trở thành không phải tại sao tôn giáo [Joshi viết về Ki Tô Giáo] không chết đi mà tại sao nó tiếp tục tồn tại trước hàng núi bằng chứng trái ngược (với những gì Ki Tô Giáo rao giảng).  Đối với tôi, câu trả lời có thể tóm gọn trong một câu: Quần chúng thì ngu muội.

[The dominant question thus becomes not why religion [i.e. Christianity] has not died away but why it continues to persist in the face of monumental evidence to the contrary.  To my mind, the answer can be summed up in one straightforward sentence: People are stupid.]

Mục sư Ernie Bringas, Master of Divinity degree at United Theological Seminary in Dayton, Ohio, viết trong cuốn “Going By The Book, Past and Present Tragedies of Biblical Authority”, trang 142:

Nhiều nhà truyền giáo [Tin Lành] trên TV chỉ có một chút học vấn hay không có học vấn nào về tôn giáo của mình và, thảm thay, ảnh hưởng của họ rất rộng – rộng chỉ vì sự rao giảng cũ kỹ [thuộc thế kỷ 17] về tôn giáo của họ phục vụ cho trạng thái tâm lý cũng cũ kỹ (không có kiến thức mới) của quần chúng.  Thực tế là, người mù dẫn giắt người mù.

[Many TV evangelists have little or no formal education and, tragically, their influence is extensive – extensive only because their astrolabe preaching caters to the astrolabe mentality of the masses.   In effect, the blind is leading the blind.]

Thống Đốc Jesse Ventura của Bang Minnesota nhận định:

“KiTô giáo là một sự giả dối trống rỗng và là một cặp nạng cho những người có đầu óc yếu kém cần đến sức mạnh trong số đông”

(Christianity is a sham and a crutch for weak-minded people who need strength in numbers).

Nữ học giả Ca-Tô Joane H. Meehl, sau khi đã nhìn thấy rõ chủ đích và những việc làm của Giáo hội Ca-Tô từ thế kỷ 4 cho tới ngày nay, đã viết trong cuốn “Người Tín Đồ Ca-Tô Tỉnh Ngộ” (The Recovering Catholic, Prometheus Book, 1995, trang 288):

“Đạo Ca-Tô chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt.  Nó chỉ bị khắc phục bằng giáo dục (mở mang dân trí. TCN) và đời sống kinh tế thoải mái.”

(Catholicism thrives and grows among the poor and ignorant.  It  is  overcome  by education  and economic well-being).

Ở đây chúng ta cần phải giải thích từ “ngu muội” (stupid) mà các tác giả trên dùng.  S. T. Joshi giải thích, Ibid., trg. 13,14:

Khi tôi nói rằng tôn giáo (Ki Tô Giáo) lan rộng như vậy vì quần chúng ngu muội,   tôi quả quyết là họ thiếu những thông tin cần thiết để có thể đánh giá đúng những điều mà tôn giáo tự cho là sự thật.  Một sự đánh giá như vậy đòi hỏi là phải có một kiến thức ít nhất là bề ngoài của vật lý học, sinh học, hóa học, địa chất học, sử học (đặc biệt là lịch sử tôn giáo), tâm lý học, nhân chủng học, và triết học (hoặc, nói một cách tổng quát hơn, có khả năng lý luận hợp lý hay nhận ra được những lý luận dối trá)

Tôi cũng nói thêm là, ngay cả khi quần chúng có được những thông tin cụ thể (trong khoa học và triết học) cần thiết để đánh giá đúng những điều tự nhận của tôn giáo về sự thật, họ cũng không thể sử dụng chúng được; đơn giản là đầu óc họ không thể tiêu hóa nổi những thông tin như vậy.

Điều rõ ràng trong trường hợp của nhiều người được cho là thông minh, là đầu óc và cảm xúc của họ đã bị tê liệt từ nhỏ bởi một số tín lý trong tôn giáo cho nên trên thực tế đã làm cho sự phân tích hợp lý không có ảnh hưởng vào những quan niệm về thần thánh của họ được. 

Quan điểm của tôi là chính sách nhồi sọ trẻ thơ này là một trong những tội ác lớn nhất đối với nhân loại – và nó đã được áp dụng qua nhiều thiên niên kỷ và ngày nay vẫn còn tiếp tục được áp dụng.

[When I declare that religion is so widespread because people in the mass are stupid, I assert that they lack the information needed to make a well-informed evaluation of the truth-claims of religion.  Such an evaluation requires at least a surface knowledge of physics, biology, chemistry, geology, history (particularly the history of religion), psychology, anthropology, and philosophy (or, more generally, the ability to fashion reasoned arguments or to detect fallacious arguments)…

I will go further and state that even if the mass of people had the concrete information (in science and philosophy) required for an assessment of the truth-claims of religion, they would be unable to process it; their brains simply cannot digest this kind of information.

What has clearly happened in the case of  many otherwise intelligent people, is that childhood crippling of their brains and emotions in favor of some dogmatic religion has for all practical purposes made their theistic views impervious to logical analysis.

My own view is that  this infantile brainwashing is one of the great crimes against humanity – and it has been practiced for countess millenia (well before the advent of organized religion) and continues to be practiced to this day.]

S. T. Joshi nhận định quả là vô cùng chính xác.  Người Ki Tô Giáo nhồi sọ con cái của mình từ khi còn nhỏ vì cho rằng những niềm tin tôn giáo của mình là đúng, là tốt đẹp, nên muốn truyền lại cho con cháu.  Nhưng họ không biết rằng như thế là họ làm hại đầu óc trong trắng của những trẻ thơ, bởi vì những điều họ tin không phải là tin vào sự thật mà tin vào những lời giả dối lừa bịp của người khác..  Đó là một tội ác đối với nhân loại. Những người “ngu muội” không phải là những người không đủ khả năng trí óc mà là những người ngu si theo nghĩa không biết rõ sự thật về chính tôn giáo của mình và mê muội vì vẫn còn tin vào những điều hoang đường của thời bán khai, đã lỗi thời và không còn giá trị trong bộ kiến thức của nhân loại ngày nay.  Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi thấy một số trí thức Ki Tô Giáo Việt Nam vẫn còn mê sảng viết lên những điều mê muội của thế kỷ 17 và luôn luôn viện dẫn cuốn Bible như là một nguồn tài liệu không thể sai lầm dù rằng ngày nay thế giới có đầy đủ thông tin và bằng chứng chứng tỏ những điều Ki Tô Giáo rao giảng là hoàn toàn sai lầm.  Chúng ta hãy đi vào từng điểm một về những niềm tin trong Ki Tô Giáo trước kiến thức thời đại về những điểm đó để chứng minh nhận định của S. T. Joshi ở trên.

a. Về Cuốn Bible.

Người Ki Tô Giáo nói chung, nhất là Tin Lành, đều tin vào sự không thể sai lầm của cuốn Bible vì họ được nhồi sọ đó là lời mạc khải của Gót.  Nhưng cuốn Bible là cuốn sách như thế nào?  Thực tế là, cuốn Bible có phải là do Gót mạc khải hay không thì trong cuốn Bible, những chuyện  loạn luân vẫn là loạn luân, độc ác vẫn là độc ác, giết người vẫn là giết người, phi lý phản khoa học vẫn là phi lý và phản khoa học v..v…

Thật vậy, tất cả những chuyện thuộc các loại sau đây chiếm phần lớn cuốn Cựu Ước: bạo hành giết người(Violence & Murder), giết người hàng loạt (Mass Killing), loạn luân (Incest), ăn thịt người (Human Cannibalism),độc ác đối với trẻ con (Child cruelty), tục tĩu quá mức (Scatology), trần truồng (Nakedness), đĩ điếm (Harlotry),hiếp dâm (Rape), thù hận tôn giáo và chủng tộc (Religious & Ethnic Hatred), nô lệ (Slavery), say rượu(Drunkeness) v..v.. [Xin đọc cuốn Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu Trong cuốn Bible (All The Obscenities In The Bible) của Gene Kamar], chưa kể là những lời “mạc khải” của Gót về vũ trụ, nhân sinh, đã chứng tỏ là hoàn toàn sai lầm trước những sự kiện khoa học bất khả phủ bác ngày nay.  Cuốn Tân ước còn tệ hơn nữa, bịa ra chuyện cứu rỗi với luận phạt tuy rằng trong Cựu Ước không có chỗ nào đến một cuộc sống đời đời ở trên thiên đường sau khi chết, hay tới một hỏa ngục để đầy đọa những người không tin.  Trong Cựu Ước chỉ nói đến một “sheol”, nơi mà mọi người, tốt hay xấu, đều phải tới đó sau khi chết (There was Sheol, where everybody, good or bad went after they died.)  Khi huyền thoại về sự sống lại của Giê-su được phát triển trong Tân Ước, thì “sheol” trở thành hỏa ngục để đầy đọa những người không được cứu, nghĩa là những người không tin.  Ki Tô Giáo xây dựng trên đầu óc yếu kém của con người, sự sợ hãi: sợ hãi về cái chết, và sợ hãi phải đầy đọa dưới hỏa ngục.

Người Ki Tô Giáo tiếp tục tin vào giá trị của cuốn Bible bất kể là ngày nay đã có những tác phẩm nghiên cứu về mọi khía cạnh trong cuốn Bible.  Điển hình là những cuốn sau đây mà nếu có đọc thì đầu óc của những tín đồ Ki Tô Giáo cũng không thể tiêu hóa nổi, như S.T. Joshi đã nhận định ở trên.  Lẽ dĩ nhiên những điều trích dẫn từ cuốn Bibletrong những tác phẩm nghiên cứu này, các tín đồ Ki Tô Giáo không bao giờ được nghe giảng trong nhà thờ:

– “Cuốn Thánh Kinh Thuộc Loại Dâm Ô: Một Nghiên Cứu Bất Kính Về Tình Dục Trong cuốn Bible” [The X-Rated Bible: An Irreverent Survey of Sex in the Scripture, AA Press, Austin, Texas, 1989] của Ben Edward Akerley: cuốn sách dày hơn 400 trang, liệt kê những chuyện tình dục dâm ô, loạn luân trong Thánh Kinh.

– “Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu Trong cuốn Bible” [All The Obscenities in the Bible, Kas-mark Pub., MN, 1995] của Kasmar Gene: cuốn sách dày hơn 500 trang, liệt kê tất cả những chuyện tục tĩu, tàn bạo, giết người, loạn luân v..v.. (Human sacrifice, murder and violence, hatred, sex, incest, child cruelty etc..) trong cuốn Bible.

– “Sách Chỉ Nam Về cuốn Bible” [The Bible Handbook, AA Press, Ausrin, Texas, 1986]  của W. P. Ball, G.W.Foote, John Bowden, Richard M. Smith …: Liệt kê những mâu thuẫn (contradictions), vô nghĩa (absurdities), bạo tàn (atrocities) v..v.. trong cuốn Bible.

– “Sách Hướng Dẫn Đọc Thánh Kinh Của Người Thấy Lại Chúa Nhưng Hoài Nghi” [The Born Again Skeptic’s Guide To The Bible, Freedom From Religion Foundation, Wisconsin, 1979]  của Bà Ruth Hurmence Green: Bình luận những chuyện tàn bạo, dâm ô, kỳ thị phái nữ trong cuốn Bible.

– “Một Trăm Điều Mâu Thuẫn Trong Thánh Kinh” [One Hundred Contradictions in the Bible, The Truth Seeker Company, New York, 1922]  của Marshall J. Gauvin: Liệt kê 100 điều mâu thuẫn trong cuốn Bible.

– “Lột mặt nạ cuốn Bible” [The Bible Unmasked, The Frethought Press Association, New York, 1941] của Joseph Lewis:  đưa ra những sai lầm trong cuốn Bible.

–    “Thẩm Vấn Ki Tô Giáo” [Christianity Cross-Examined, Arbitrator Press, New York, 1941] của William Floyd:  Phân tích từng quyển một trong cuốn Bible.

– “Ki Tô Giáo Và Loạn Luân” [Christianity and Incest, Fortress Press, MN, 1992] của Annie Imbens & Ineke Jonker:  Viết về Ki Tô Giáo và vấn đề loạn luân, những sự kiện về loạn luân và kỳ thị phái nữ bắt nguồn từ cuốn Bible.

Với nội dung của cuốn Bible như trên, không lạ gì ở Hồng Kông đã có phong trào đòi Ủy Ban Đạo Đức Hồng Kông phải xếp lại cuốn Bible của Ki Tô Giáo vào loại sách tục tĩu, khiêu dâm, tàn bạo, loạn luân, và cuốn Bible phải bọc kỹ và bên ngoài phải khuyến cáo độc giả về nội dung, và không được bán cho trẻ em dưới 18 tuổi.  [http://news.yahoo.com:  More than 800 Hong Kong residents have called on authorities to reclassify the Bible as “indecent” due to its sexual and violent content.. The complaints said the holy book “made one tremble” given its sexual and violent content, including rape and incest.  If the Bible is similarly classified as “indecent” by authorities, only those over 18 could buy the holy book and it would need to be sealed in a wrapper with a statutory warning notice.]

Xin nhớ rằng, những cuốn sách khảo cứu về cuốn Bible như trên đã được phổ biến rộng rãi trên đất Mỹ, và Tin Lành ở Mỹ, qua vài thập niên, tụt xuống từ hơn 70% dân số còn dưới 50% dân số, dù có nhiều quyền thế trong chính trị và tôn giáo, cũng không có cách nào dẹp bỏ những cuốn sách trên, hay đối thoại để phản bác, vì tất cả đều là sự thật.

b. Sáng Tạo Hay Big Bang?

Tín đồ Ki Tô Giáo được dạy để tin rằng một vị Thần của Do Thái mà thế giới Âu Mỹ gọi là Gót (God) đã “sáng tạo” (sic) ra vũ trụ và muôn loài trong đó chỉ bằng vài lời phán trong vòng sáu ngày và cách đây khoảng 6000 năm.  Đó là những gì sách Sáng Thế Ký viết.  Nhưng khoa học ngày nay đã chứng minh rằng vũ trụ này hình thành từ một vụ nổ lớn của một dị điểm. Danh từ quen thuộc gọi vụ nổ này là Big Bang.  Big Bang là hiện tượng nổ bùng của một dị điểm (singularity) vô cùng đặc, vô cùng nóng, nguồn gốc của vũ trụ ngày nay, và đã xảy ra cách đây khoảng 13.7 tỷ năm chứ không phải là chỉ có từ 6000-10000 năm do sự “sáng tạo” (sic) của Gót như được viết trong Kinh Thánh, được coi như những lời không thể sai lầm của Gót.   Sau Big Bang khoảng 8 tỷ năm mới có mặt trời và sau đó, cách đây khoảng 4.5 tỷ năm mới có trái đất là một hành tinh quay xung quanh mặt trời, rồi sau đó mới có mặt trăng là một vệ tinh của trái đất.  Nhưng Thánh Kinh lại viết Gót tạo ra trái đất trước rồi sau mới đến trăng, sao.  Mặt khác, khởi đầu trái đất chỉ là một khối nhão rất nóng (hot molten blog) trong khi Gót của Ki Tô Giáo lại tạo ra trái đất bao phủ bởi nước.

Trước những kết quả khoa học bất khả phủ bác, Giáo hoàng tiền nhiệm, John Paul II, cũng như Giáo hoàng đương nhiệm, Benedict XVI đều phải công nhận thuyết Big Bang nhưng vớt vát lại uy tín của Gót bằng những điều mê sảng đối với thế giới.  Từ năm 1981, tòa thánh Vatican đã mời một số chuyên gia đến để cố vấn cho tòa thánh về vũ trụ học.  Cuối cuộc hội thảo, các chuyên gia được giáo hoàng John Paul II tiếp kiến.  Ông ta nói với các khoa học gia là “cứ tự nhiên nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ sau sự nổ lớn (big bang), nhưng không nên tìm hiểu về chính lúc nổ vì đó là lúc sáng tạo, do đó là tác phẩm của Thượng đế.” (Stephen Hawking, A Brief History of Time, p. 116: He told us that it was all right to study the evolution of the universe after the big bang, but we should not inquire into the big bang itself because that was the moment of Creation and therefore the work of God).  Còn Giáo hoàng Benedict XVI thì nói rằng đàng sau Big Bang là bộ óc của Gót, hàm ý chính Gót đã tạo ra Big Bang chứ không phải là khoa học [God was responsible for the Big Bang, not science, says Pope Benedict.] Cả hai đều mê sảng vì cả hai đều chẳng biết Gót là cái gì, và cả hai đều chẳng hiểu Big Bang là cái gì.  Vốn liếng thần học của họ, dù cao và hoang đường đến đâu, cũng không cho phép họ hiểu được những lý thuyết về Big Bang với những phương trình toán học phức tạp nhất.

c. Sáng Tạo Hay Tiến Hóa?

Tín đồ Ki Tô Giáo được dạy để tin rằng một vị Thần của Do Thái mà thế giới Âu Mỹ gọi là Gót (God) đã “sáng tạo” (sic) ra con người theo hình ảnh của Gót, như Giáo hoàng Benedict XVI mới dạy lại tín đồ trong “Sứ Điệp Hòa Bình” gần đây.  Nhưng khoa học lại chứng minh được rằng chính thuyết Tiến Hóa của Darwin đã tạo ra loài người chứ không phải là Gót.  Và nay thuyết Tiến Hóa đã trở thành một sự kiện mà các nhà thần học Ki Tô Giáo đã phải cúi đầu trước sự kiện này.  Ở đây tôi sẽ không đưa ra những nhận định về thuyết Tiến Hóa của các khoa học gia mà sẽ chỉ trình bày những thú nhận của một số giới chức cao cấp trong Ki Tô Giáo.

i)   Năm 1996, giáo hoàng John Paul II đã đặt thẩm quyền giảng dạy của Giáo hội Ca-tô Rô-ma đàng sau quan điểm đoan chắc là “thân xác con người có thể không phải là một sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần”.  Ngài nói: “những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận thuyết tiến hóa hơn là một giả thuyết”. (Pope John Paul II has put the teaching authority of the Roman Catholic Church firmly behind the view that “the human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution.. The pope said that “fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis”).

ii)  Linh mục dòng Tên Teillard de Chardin trong The Phenomenon of Man:

Tiến Hóa là một thuyết, một hệ thống, hay một giả thuyết?  Nó còn nhiều hơn nữa: nó là một điều kiện tổng quát mà mọi thuyết, mọi giả thuyết, mọi hệ thống phải cúi đầu trước nó và phải phù hợp với nó nếu chúng muốn được nghĩ tới và coi là đúng.. Tiến Hóa là một ánh sáng soi sáng mọi sự kiện, một đường cong mà mọi đường thẳng phải theo nó.

(Is evolution a theory, a system or a hypothesis?  It is much more: it is a general condition to which all theories, all hypotheses, all systems must bow and which they must satisfy henceforth if they are to be thinkable and true.  Evolution is a light illuminating all facts, a curve that all lines must follow…)

iii) Mục sư Ernie Bringas trong cuốn: Going By The Book: Past and Present Tragedies of  Biblical Authority:

Thuyết Tiến Hóa là một trong những cấu trúc tuyệt vời và thành công nhất của tư tưởng con người.  Mọi ngành khoa học đều tiếp tục ủng hộ và kiểm chứng quan niệm về sự tiến hóa.  Thuyết Tiến Hóa , giống như Thuyết Tương Đối, không còn là một “thuyết” theo nghĩa thông thường nữa, mà là một nguyên lý khoa học đặt căn bản trên rất nhiều bằng chứng không còn phải bàn cãi nữa.

(The theory of evolution is among the most elegant and fruitful structures of human thought… All scientific disciplines continue to support and verify the concept of evolution.  The theory of evolution, like the theory of relativity, is no longer a “theory” in the popular sense, but a scientific principle based on considerable, indisputable evidence.)

iv) Giám mục John Shelby Spong trong cuốn Why Christianity Must Change or Die:

Thuyết Tiến Hóa làm cho Adam và Eve trở nên may nhất là những nhân vật  theo truyền thuyết.  Thuyết Tiến Hóa không dễ gì cho tổ chức  tôn giáo chấp nhận, và ngày nay vẫn còn những tiếng nói cất lên từ những miền hẻo lánh của thế giới để chống đối thuyết này.  Những tiếng nói này sẽ không bao giờ thành công.  Nhân loại rõ ràng là tiến hóa theo một quá trình trải dài từ 4 tỷ rưỡi đến 5 tỷ năm.  Không làm gì có hai cha mẹ đầu tiên (nghĩa là Adam và Eve. TCN), và do đó cái hành động bất tuân lúc đầu của hai bậc cha mẹ đầu tiên không thể nào có ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại.  Do đó cái huyền thoại về tội tổ tông đã bị một đòn khai tử, và  câu chuyện vững chắc về sự cứu rỗi do những người bảo vệ Ki-tô giáo dựng lên qua nhiều thời đại đã bắt đầu chao đảo.

(The theory of evolution made Adam and Eve legendary at best.  Evolution was not easy for the religious establishment to accept, and still voices are raised today in remote areas of the world to resit it.  Those voices will never succeed.  Human life clearly evolved over a four-and-a-half-to-five-billion-year process.  There were no first parents, and so the primeval act of disobedience on the part of first parents could not possibly have affected the whole human race.  The myth was thus dealt a blow, and the monolithic story of salvation built by Christian apologists over the age began to totter.)

Chúng ta thấy, ngày nay, hầu hết các khoa học gia và giới trí thức có hiểu biết, ngay cả các bậc lãnh đạo cao cấp trong các giáo hội Ki-tô, đều đồng thuận ở điểm: Thuyết Tiến Hóa đã trở thành một sự kiện (fact).  Những tiếng chống đối thuyết Tiến Hóa cất lên từ những ốc đảo si ngây, ngu muội, điển hình là của một số Tin Lành tân tòng, đã trở thành lạc lõng trong thế giới loài người.

d.Thiên Đường ??

Người Tin Lành được dạy là cứ hoàn toàn đầu phục Chúa, tin Chúa thì sẽ được cứu rỗi trong khi họ chẳng hiểu cứu rỗi là cái quái gì, tại sao con người lại cần phải được cứu rỗi..  Họ bị mê hoặc bởi một cái bánh vẽ trên trời: cuộc sống đời đời với Chúa của họ ở trên thiên đường, một cái nhà ở trên trời.  Họ được dạy là Chúa của họ sau khi bị đóng đinh chết trên cây thập giá đã sống lại và bay lên trời, ngồi bên tay phải của cha ông ta ở trong một ngôi nhà trên trời (thiên đường).  Nhưng chẳng có ai biết ngôi nhà đó ở đâu.  Kính thiên văn hiện đại tân kỳ nhất ngày nay cũng không thể kiếm đâu ra cái nhà hoang đó (hoang đường). Và cũng chẳng có ai từ cái nhà đó trở về để nói cho con người biết là cái nhà đó nó như thế nào và mặt mũi của hai cha con Giê-su ra sao.

Do đó, tháng 7 năm 1999, trước những khám phá xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và trước những hiểu biết của con người ngày nay về cấu trúc của trái đất, Giáo Hoàng John Paul II đã bắt buộc phải tuyên bố: “thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây” (Heaven is neither an abstraction nor a physical place in the clouds).  Vậy rõ ràng thiên đường chỉ có trong những đầu óc thiếu oxy như đầu óc của mục sư Trần Long mà thôi.

e. Hỏa Ngục ??.

Những tín đồ Tin Lành, vốn thuộc loại đầu óc yếu kém, nên rất dễ rơi vào tròng của Tin Lành.  Tin Lành một mặt dụ họ một cái bánh vẽ trên thiên đường, một mặt đe dọa họ là nếu không tin Chúa của họ thì sẽ bị đầy đọa xuống hỏa ngục để cho ngọn lửa vĩnh hằng thiêu đốt. Chúng ta đã biết, Ki Tô Giáo xây dựng trên sự sợ hãi của những đầu óc yếu kém.  Ngày nay mà họ vẫn đưa ra những hình ảnh khủng khiếp dưới hỏa ngục để reo rắc sự sợ hãi trong những bộ óc non nớt trong những lớp học ở nhà thờ.  Những người lớn theo Tin Lành là vì có đầu óc của họ không khác gì của trẻ con.  Họ rất dễ tin những điều người khác khuyến dụ vì không đủ khả năng để nhận ra sự thật.  Hỏa ngục chẳng qua chỉ là một thủ đoạn hù dọa những người đầu óc yếu kém và chưa trưởng thành như trên.  Nhưng trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại ngày nay, Giáo hoàng John Paul II của Ca-tô Rô-ma Giáo không có cách nào khác là tỏ ra Ca-tô Giáo cũng cập nhật hóa sự tiến bộ trí thức của nhân loại.  Ngài phán: “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Gót, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và hành động mà con người đã làm trong đời này” (Hell is not a punishment imposed externally by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life). Ngài lấy tư tưởng này từ thuyết Nghiệp Báo của Phật Giáo nhưng làm như đó là sự sáng tạo trí thức của Ngài. Nhưng như vậy là Giáo Hoàng đã bác bỏ phần giáo lý quan trọng nhất của các giáo hội Ki-Tô: “người nào tin Chúa thì sẽ được Chúa cho lên thiên đường sống cuộc sống đời đời bên ngài, kẻ nào không tin sẽ bị Chúa phán xét đày vĩnh viễn xuống hỏa ngục ở trong lòng đất”, điều mê hoặc tín đồ mà Giáo hoàng viết trong cuốn “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng” để trả lời câu hỏi: “Tại sao nhân loại cần được cứu rỗi?”.  Cho nên người Tin Lành nên biết đến câu bác bỏ sự hiện hữu của hỏa ngục của Giáo hoàng và bỏ đi sự sợ hãi về một hỏa ngục hoang đường do Tin Lành dựng ra để thuần hóa họ.

Chúng ta cần nhận ra ý nghĩa của vài sự kiện ở trên.  Chấp nhận thuyết Big Bang là nguồn gốc vũ trụ, chấp nhận thuyết tiến hóa là nguồn gốc loài người, chấp nhận con người không phải là do Gót tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần và lâu dài, chấp nhận không làm gì có thiên đường trên các tầng mây, chấp nhận không là gì có hỏa ngục dưới lòng đất, Giáo hoàng đã phá tan huyền thoại về Adam và Eve là tổ tông loài người do Gót tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không làm gì có chuyện Adam và Eve sa ngã tạo thành tội tổ tông.  Do đó, vai trò “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su chỉ là những luận điệu thần học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục đưa ra không ngoài mục đích khai thác lòng mê tín của một số người đầu óc yếu kém, huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực.

Tuy nhiên, chúng ta không thể hi vọng là mọi tín đồ Ki-Tô nói chung, Ca-Tô nói riêng, đều biết đến một sự thực không thể chối cãi, đó là, toàn bộ nền thần học Ki-Tô Giáo với những quan niệm về Thiên Chúa, thuyết Sáng Tạo, huyền thoại Adam và Eve, thiên đường và hỏa ngục, vai trò “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su v..v.., cũng như nhãn hiệu “hội thánh” mà các giáo hội Ki-Tô tự nhận, hay những vai trò thần thánh tự tạo cho giáo hoàng, linh mục v..v.. nay đã không còn chỗ đứng trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại.  Đầu óc của họ đã bị tê liệt và những cảm xúc của họ đã bị đóng khuôn trong đức tin, một đức tin không cần biết không cần hiểu, cho nên họ không thể tiêu hóa được một sự thật như trên.

Trần Chung Ngọc (Phần I), trích giaodiemonline
Ngày Rằm Tháng Giêng
Năm Tân Mão, NDVN, ngày 18/2/2011

nhandanvietnam.org

Advertisements
Categories: Chúa Dê-su | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điều hướng bài viết

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: