Ngày tàn của những kẻ truyền Đạo cuồng tín

Phần trích đoạn dưới đây nằm trong Chương 92 (Vấn nạn Giáo hội La Mã), thuộc Phần V của tác phẩm “Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội Cộng giáo La Mã” của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang

Bộ sách này mới lược thảo xong (9/2006), và đang ở vào giai đoạn biên tập chót để hoàn tất. Bộ sách được chia làm 6 phần :

  • Phần I đề cập đến tổng lược lịch sử và những tội ác chống nhân loại của Giáo Hội La Mã. Phần này chia làm 6 mục (I đến VI), tổng cọng 15 chương, dài khoảng trên 900 trang.
  • Phần II nói về Giáo Hội La Mã chủ động rồi vận động đế quốc Pháp cùng liên kết đánh chiếm Việt Nam để cùng thống trị và chia nhau lợi nhuận. Phần này gồm 3 mục (VII den IX), tổng cọng 14 chuong, dài khoảng 500 trang.
  • Phần III nói về xã hội và chính tình Việt Nam trong những năm 1940-1945. Phần này gồm 3 mục (X đến XII) tổng cọng 14 chương, dài khoảng 550 trang.
  • Phần IVnói về Mặt Trận Việt Minh lãnh đạo cuộc Kháng Chiến 1945-1954. Phần này gồm 3 muc (XIII đến XV), tổng cọng 13 chương, dài khoảng tu 550 trang.
  • Phần V nói về miền Nam Việt Nam dưới ách thống trị của Liên minh Mỹ – Vatican, gồm 6 muc (XVI đến XXI), tổng cọng 32 chuong, dài khoảng 900 trang.
  • Phần VI nói về Phong Trào Nhân Dân Thế Giới Phản Kháng Giáo Hội Công Giáo La Mã. Phần này gồm 3 mục (XXII đến XXIV), tổng cọng 26 chương, dài khoảng 500 trang

Tác phẩm nghiên cứu công phu này đã được Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang chuẩn bị từ năm 1997, đến nay đã hoàn thành được trên 90%.

Tựa đề trích đoạn nầy do GĐOL đặt. Để đọc toàn bộ Chương 92 hoặc các Chương khác (83 đến 94) của tác phẩm nầy, xin link vào http://www.giaodiemonline.com/sachgd.php

Chế độ Đạo phiệt của Kitô La Mã

Những người thấu hiểu lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã đều khẳng định rằng, đạo Ki-tô, đặc biệt là hệ phái Ki-tô La Mã luôn luôn có chủ trương tôn giáo chỉ đạo chính quyền. Chủ trương này được thể hiện ra bằng việc thiết lập chế độ đạo phiệt (với bộ máy cai trị bằng các tổ chức cảnh sát, công an và mật vụ như thiên la địa võng) trong đó giới tu sĩ của hệ phái đó được coi như là giới người siêu quyền lực ngồi ở hậu trường gọi là chính quyền chìm (informal government) làm chính sách, điều khiển và ra chỉ thị cho chính quyền thế tục gọi là chính quyền nổi (formal government) phải thi hành. Chính quyền thế tục này sẽ thi hành tất cả những kế hoạch, biện pháp và các quyết định do chính quyền chìm đưa ra, trong đó đáng kể nhất là những biện pháp dưới đây:.

Biện Pháp 1: Phải đưa hệ phái tôn giáo này lên hàng quốc giáo bất kể là dưới dạng thức nào (vấn đề quan trọng là bản chất), ban hành những luật lệ, bất kể là hình thức nào, nhằm cưỡng bách nhân dân phải tuân hành những giáo luật. Tất cả những giáo luật đều có mục đích duy nhất là phục vụ cho quyền lợi của hệ phái tôn giáo này mà quan trọng nhất là việc nắm độc quyền tất cả các phương tiện sản xuất trong nước và kiểm soát hay khống chế tất cả mọi sinh hoạt trong xã hội. Đây là truyền thống trong đạo Ki-tô La Mã (xin gọi vắn tắt là đạo Da-tô). Chủ trương này đã được Giáo Hội La Mã đưa ra và triệt để thi hành từ thế kỷ 4 cho đến ngày nay. Sự kiện này được cựu giáo-sĩ Malachi Martin ghi nhận ở trong cuốn Rich Church, Poor Church với nguyên văn như sau.

Trong các vấn đề tôn giáo, trước khi Kitô giáo ra đời, các tôn giáo trên thế giới đều có đặc tính khoan dung. Một trong những thông điệp của Delphic Oracle là “Mọi người đều đúng cả. Chẳng có ai sai quấy.” Nguyên tắc của người La Mã thời bấy giờ là “Tôn giáo ở trong vùng (nơi bạn cư ngụ) là tôn giáo của bạn.” Trong tâm trí và trong cách ứng xử của người đời thời bấy giờ là không có sự liên hệ gì giữa tôn giáo và chân lý. Tôn giáo không được coi như là một sự kiện có thật. Cho nên, thời kỳ trước khi đạo Kitô ra đời, không có chiến tranh tôn giáo, không có chuyện bách hại tôn giáo, và cũng không có người nào gọi là tử đạo cho niềm tin tôn giáo của họ. Lúc bấy giờ, không có ai cố gắng áp đặt tôn giáo hay cưỡng bách người khác phải theo tôn giáo của mình. Chỉ có những người Ki-tô giáo mới sản xuất ra chiến tranh tôn giáo, gây nên những vụ bách hại tôn giáo và tạo nên những người tử đạo.

Ngay từ lúc đầu, người Ki-tô giáo đã khăng khăng cho rằng tôn giáo của họ là chân lý, rằng tôn giáo của họ nói về thực tế. Họ đưa ra lập luận rằng tôn giáo của họ là một chân lý toàn cầu, rằng chỉ có Ki-tô giáo mới là tôn giáo đích thực. Vì thế, mọi hệ thống triết lý khác và mọi hệ thống kiến thức khác – bất kỳ ngành họat động nào của con người có liên hệ với chân lý – đều phải hài hòa với tôn giáo đích thực là Ki-tô giáo. Trái lại, đó chỉ là một hệ thống triết lý giả, một kiến thức giả. Tất nhiên là mọi tính cách đạo đức đều từ Ki-tô giáo mà ra. Ki-tô giáo thấm nhập vào tất cả mọi lãnh vực trong đời sống thế tục từ kinh tế, chính trị, tài chánh, nghệ thuật, giáo dục cho đến các cơ cấu khác trong xã hội. Tôn giáo và chính trị, tôn giáo và tài sản, tôn giáo và chính quyền, tôn giáo và nghệ thuật, tôn giáo và sự học hỏi – giữa những liên hệ cơ cấu này, không có sự chống đối nào mà không hòa giải được. Những cơ cấu này không thể tách rời được và cũng không thể giữ nó ở trong tình trạng tách rời nhau. Các vấn đề như quân sự, chính trị, tài sản, nghệ thuật và chính quyền, tất cả đều phải bị tôn giáo thống trị tuốt luốt.”

Nguyên văn: “In religious matters, the pre-Christian world was ecumenical tolerant. “Everybody is right. Nobody is wrong,” was one message of the Delphic Oracle, “Whatever be the region of the earth where you find yourself,” went the Roman principle, “that region’s religion is your religion.” In men‘s minds and in the way they conducted their affairs, there was no connection between religion and truth. Religion was not considered a true thing. Hence, prior Christianity, there was no religious wars and no religious persecutions. There was no religious martyrs for their faith. No one tried to impose religion as such on anyone else. Only Christians produced such wars, persecutions and martyrs.

From their beginnings, Christians insisted that their religion was true, that it did speak about reality. They drew the logical conclusion from that: that it was universally true. That there could be only one true religion. Theirs. Hence all philosophy and all knowledge – any branch of human activity that dealt with the truth – had to be, would be reconcilable with the true religion, Christianity. Otherwise, it was a false philosophy, a false knowledge. Automatically, an all embracing morality from this Christianity. It permeated all aspects of temporal life: economics, politics, finance, the arts, education, social structures. Religion and politics, religion and wealth, religion and government, religion and art, religion and learning – between these there was no irreconcilable opposition. They were not separate or to be kept separate. Military matters, matters of politics, wealth, art, government – all became dominated by religion.”) 1

Bản văn trên đây cho chúng ta thấy rõ dã tâm của Giáo Hội La Mã là muốn nắm trọn quyền kiểm soát tất cả một phương tiện sản xuất và tất cả mọi phạm vi sinh hoạt trong xã hội. Cũng vì thế mà ở đâu có quyền lực của Giáo Hội vươn tới thì ở đó chế đô cha cố (đạo phiệt Da-tô) sẽ được thiết lập và nhân dân sẽ trở nên nghèo đói, ngu dốt, lạc hậu và chậm tiến. Bằng chứng là nhân dân các nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý Đại Lợi ở Nam Âu từ năm 1945 trở về trước ở trong tình trạng nghèo đói, lạc hậu, chậm tiến, nặng đầu óc mê tín và có nhiều tệ đoan xã hội hơn rất nhiều nếu so với các nước Âu Châu khác ở Bắc và Tây Âu. Sách Rich Church Poor Church viết:

Sự trái ngược giữa các nước nghèo khó ở Nam Âu và sự phồn thịnh của các nước ở Bắc Âu thật là quá rõ ràng. Nước Anh Tin Lành đã trở thành một cường quốc trên thế giới và đang trên đường trở thành một trong các đại đế quốc thương mại; nước Phổ Tin Lành giầu có và hùng mạnh; nước Hòa Lan Tin Lành đã khởi tiến việc ngoại thương và xứng đáng được mang danh xưng đế quốc. Một du khách đi từ Bắc và Trung Âu tới nước Pháp và bán đảo Tây Ban Nha rồi qua Ý Đại Lợi sẽ thấy sự tương phản về kinh tế, mức sống và trình đồ học vấn tổng quát của người dân trong các quốc gia này. Ở Bắc và Trung Âu, phần lớn là Tin Lành, không có quốc gia nào rơi vào tình trạng chết đói và nghèo khổ triền miên như các nước ở miền Nam Âu. Chủ nghĩa tư bản cổ điển đã lỗi thời và các quốc gia theo đạo Tin Lành, nhân dân các quốc gia này cũng đã thức thời và sẵn sàng từ bỏ nó để làm lợi cho đất nước.

Các chính khách và vua chúa ở các quốc gia Nam Âu cho rằng Tòa Thánh La Mã và chế độ giáo hoàng phải chịu trách nhiệm về sự suy thoái và thua kém của nước họ so với các nước theo đạo Tin Lành.”

Nguyên văn: “The contrast between the impoverished southern European countries and the flourishing northern European states at this time was a glaring one. Already Protestant England had become a world power and was on its way to founding one of the great commercial empires; Protestant Prussia was prosperous and powerful; Protestant Holland was already starting the overseas trade that in time would offer it the title of empire. A traveller from northern and central Europe down into France, the Iberian peninsula, and Italy would be struck by the contrast in economic well-being, standard of living, and general education of the people. The northern and the central nations, predominantly Protestant, had none of the starvation and endemic poverty exhibited down south. Classical capitalism was off on its first flight and the Protestant nations were ready to take advantage of it.

The statesmen and kings in southern Europe held Rome and the papacy primarily responsible for that degrading difference between them and their Protestant counterparts.”2

Tương tự như vậy, người dân ở các nước Châu Mỹ La-tinh nghèo đói lạc hậu, chậm tiến, nặng đầu óc mê tín dị đoan nếu so với nguời ở Bắc Mỹ như Hoa Kỳ và Canada, và người dân Phi Luật Tân nghèo đói, lạc hậu, chậm tiến, nặng đàu óc mê tín dị đoan nếu so vớ những người dân ở lục địa Á Châu như Cao Miên, Miến Điện Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Việt Nam, Trung Hoa, Triều Tiền và quốc đảo Nhật Bản.

Biện pháp 2.- Thiết lập các tổ chức cảnh sát, công an, mật vụ như thiên la địa vọng và trao cho những tín đồ Da-tô “ngoan đạo” tuyệt trung thành với Giáo Hội La Mã nắm giữ nhưng chức vụ chỉ huy. Đồng thời, tất cả những chức vụ chỉ huy các cơ quan quan trọng khác trong chính quyền và trong quân đội cũng đều được trao cho những tín đồ Da-tô đảm trách. Tất cả những việc làm này đều có mục đích duy nhất là chuẩn bị cho việc thi hành biện pháp 3: Tiến hành kế hoạch Ki-tô hóa nhân dân.

Biện pháp 3.- Thi hành kế hoạch Ki-tô hoá nhân dân bằng phương tiện của chính quyền bằng bất cứ thủ đoạn hay manh mung nào cũng được, miễn là đạt được mục đích: Hoặc là dùng một số quyền lợi vật chất hay chức vụ trong chính quyền làm miếng mồi câu nhử những phường tham lợi và háo danh chạy theo bắt mồi mà theo đạo, hoặc là bằng những thủ đoạn gian manh được ngụy trang bằng hình thức luật pháp để cưỡng bách nhân dân phải theo đạo như Đế Quốc La Mã trong thời Hoàng Đế Theodosius I (346-395), ở Tây Ban Nha trong thời Nữ Hoàng Isabella I (1451-1504) và chồng là Hoàng Đế Ferdinand V (1452-1516), ở Anh trong thời Nữ Hoàng Mary I (Bloody Mary) trong những năm 1553-1558, ở Pháp trong thời Pháp Hoàng Louis XIV (1638-1715) [rõ ràng nhất khởi đầu từ năm hủy bỏ Sắc Lệnh Nantes vào năm 1685], ở Croatia trong thời bạo chúa Ante Pavelich trong những năm 1941-1945, hoặc là dùng những thủ đoạn bất chính để dồn người dân vào thế kẹt phải theo đạo để cho thoát nợ như ở miền Nam Việt Nam trong thời bạo chúa Da-tô Ngô Đình Diệm:

Có những người cũng cho rằng họ vào đạo họ vào đạo để khỏi bị sách nhiễu về chính trị. Quần chúng ở đây, vì đã từng sống lâu năm dưới chế độ Việt Minh, nên bị tình nghi có liên hệ với “kẻ địch”, bây giờ vào đạo là gặp được con đường để tỏ lòng trung thành với chế độ, hoặc ít ra cũng tránh được những quấy nhiễu của cảnh sát.” 3

Biện Pháp 4: Phải thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để biến người dân trở thành hạng người vừa ngu xuẩn không biết sử dụng lý trị để tìm hiểu sự vật bằng phương pháp sư phạm bắt học thuộc lòng như con vẹt những bài học đã soạn sẵn và không được được hoài nghi và thắc mắc, điển hình là những lời dạy của Giáo Hội như “Niềm tin tôn giáo không cần đến sự can thiệp của lý trí hay ánh sáng của khoa học” và “phúc cho ai không thấy mà tin”, vừa dốt đặc về lịch sử loài người, giống như những đứa con hoang trong cộng đồng nhân loại, vừa dốt đặc về quốc sử và trở thành những đứa con hoang trong cộng đồng quốc gia. Lý do là vì Giáo Hội La Mà chủ trương kiểm soát chương trình học, không cho học toàn bộ những bài học lịch sử thế giới và cũng không cho học đầy đủ những bài học trong môn quốc sử vào trong chương trình học. Giáo Hội chỉ cho học sinh học một số bài học mà Giáo Hội đã kiểm soát và diễn dịch lươn lẹo theo ý muốn của Giáo Hội rồi mới đưa vào trong chương trình học. Giáo Hội cũng đã làm như vậy trong việc biên soạn các bài giảng trong các nhà thờ. Cũng vì thế mà giáo dân thường hay nói đến thánh kinh, nhưng họ lại không biết rằng ở trong đó, ngoài những chuyện hoang đường có mục đích lòe bịp và lừa gạt người đời, còn có cả hàng rừng chuyện loạn luân, dâm loàn và hàng rừng chuyện tội ác khác.

Giáo Hội có làm như vậy, thì tín đồ (nạn nhân) mới không còn khả năng thông minh để nhìn ra tính cách cực kỳ phi lý, phi nhân bản, phản khoa học và bịp bợm trong những tín lý Ki-tô. Có như vậy, tín đồ mới dễ dàng bị mê hoặc, không còn tỉnh táo để nhìn ra tính cách chuyên chế, độc đoán, phỉnh nịnh, lừa gạt và bóc lột ở trong những giáo luật, trong lời dạy, trong tập tục hay truyền thống trong Giáo Hội La Mã. Có như vậy, tín đồ mới không còn đủ thông minh để nhìn ra sự thật là Giáo Hội La Mã chỉ là một tập đoàn của những phương lưu manh buôn thần bán thánh mượn danh Thiên Chúa hay Chúa Jesus khoác áo tôn giáo để vừa phỉnh nịnh, lừa gạt vừa hù dọa người đời để lùa họ vào cái tròng Da-tô (Catholic loop) làm thế lực củng cố quyền lực cho mưu đồ bá quyền thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại.

Vì bị điều kiện hóa như vậy cho nên tín đồ Da-tô mới cho rằng NẾU KHÔNG tuyệt đối tin tưởng vào tín lý Ki-tô hay không triệt để tuân hành những giáo luật và truyền thống của Giáo Hội, THÌ SẼ BỊ Chúa trừng phạt đày xuống hoả ngục đời đời. Trái lại, NẾU cứ nhắm mắt tin tưởng tuyệt đối vào bất kỳ những gì Giáo Hội rao truyền và dạy bảo theo cái kiểu “phúc cho ai không thấy mà tin” (lời Giáo Hội dạy), THÌ SẼ ĐƯỢC Chúa (mà thực ra là Giáo Hội) cho “lên thiên đưởng hưởng nhan Chúa đời đời”.

Các nhà khoa học gọi những người bị mê hoặc và bị hù doạ như vậy là những người “bị điều kiện hóa” giống như con chó ở trong phòng thí nghiệm của nhà bác học Pavlov, vì rằng ở trong tình trạng như vậy, họ chỉ biết phát ngôn và hành động theo lệnh truyền của những người hướng dẫn mà trong đạo Da-tô gọi là những người chủ chiên hay các linh mục.

Tại sao Giáo Hội La Mã lại gọi tín đồ của Giáo Hội là con Chiên và những người hướng dẫn tín đồ là linh mục?

Chiên là một loài thú thuộc loài ăn cỏ có bốn chân mà người Việt Nam còn gọi là con cừu. Dân Việt Nam ta có thành ngữ “ngu như con cừu”. Con cừu là con vật ngu nhất trong các loài thú ăn cỏ. Người ta nuôi nó chỉ để lấy lông làm len may chăn (mền) hay quần áo, và để ăn thịt. Loài cừu không thể dùng làm những công việc chuyển vận như kéo xe, kéo cày, kéo bừa như loài ngựa và trâu bò.

Qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ, Giáo Hội đã biến tín đồ của Giáo Hội thành những người “ngu như con cừu” để cho Giáo Hội dễ bề mê hoặc và lừa bịp bằng những tín lý cực kỳ hoang đường, dễ bề bóc lột bằng những hình thức dâng lễ vật, và dễ bề sai khiến làm những việc thất nhân ác đức như kêu gọi họ tình nguyện gia nhập vào các đạo quân thập tự khi Giáo Hội phát động chiến tranh tiêu diệt các dân tộc theo các tôn giáo khác như trong thời Trung Cổ, hoặc là hô hào họ gia nhập vào đạo quân thứ 5 nằm tiềm phục tại các xóm đạo chờ khi có lệnh của Giao Hội thỉ nổi lên làm nội ứng chống lại đất nước và dân tộc gốc của họ, hoặc là thúc giục họ phải tìm đủ mọi mánh mung chèn ép hay cưỡng bách người khác tôn giáo phải theo đạo Da-tô khi họ ở vào thế thượng phong hay có quyền trong tay, v.v… . Những lời kêu gọi hay hô hào thiếu văn hóa và dã man này của Giáo Hội được thể hiện ra qua Sắc Chỉ Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas IV (1447-1455) mà chúng tôi đã nêu lên nhiều lần trước đây. Xin ghi lại đây một lần nữa để cho độc có ý niệm liên tục về vấn đề này, khỏi mất công tìm kiếm:

Sắc chỉ “Romanus Pontifex” do Đức (Giáo Hoàng) Nicholas V (1447-1455) ra ngày 8 tháng Giêng năm 1454. Theo quyền lực Chúa ban và quyền lực của Tòa Thánh, Đức Giáo Hoàng ban cho triều đình Lisbon (Bồ Đào Nha) “toàn quyền tự do xâm lăng, chinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân Sarrasins (tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của Giáo Hội, gặp bất cứ nơi nào: được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, lãnh địa, vương hầu, đất đô hộ và tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của chìm của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh viễn4.

Để duy trì tín đồ luôn luôn ở trong tình trạng ngu dốt, chỉ biết cúi đầu tuân phục, triệt để tuân hành những lời dạy và lệnh truyền của Giáo Hội, một hệ thống quyền lực được thiết lập, trong đó, linh mục được trao cho nhiệm vụ hướng dẫn họ, kiểm soát và kiềm chế họ để họ không được có tình ý riêng tư, nghĩa là không để cho tín đồ có thì giờ nhàn rỗi để suy nghĩ hay đọc những tư tưởng gì khác với tín lý Ki-tô hay lời rao truyền và dạy dỗ của Giáo Hội. Đối với Giáo Hội, các linh mục phải luôn luôn tỏ ra mẫn cán và hết sức đắc lực trong nhiệm vụ này.

Chúng ta biết rằng, trong một quốc gia mà chính quyền và tất cả mọi phạm vi sinh hoạt trong nhân dân đều do tôn giáo nắm giữ, kiểm soát, và người dân thì ngu dốt, không biết sử dụng lý trí để hành xử hay bương chải để mưu sinh, thì quốc gia đó sớm hay muộn cũng trở thành lạc hậu, chậm tiến và nhân dân tất nhiên là nghèo khổ, khốn khó điêu đứng trăm bề. Cũng vì thế, như trên đã nói, ở cùng một một lục địa (cùng một hoàn cảnh địa lý) với nhau mà người dân ở các nước Châu Mỹ La-tinh đều ở vào tình trạng nghèo khổ, lạc hậu, chậm tiến nếu so với người dân ở Bắc Mỹ như Canada và Hoa Kỳ, người dân ở Phi Luật Tân cũng ở trong tình trạng nghèo khổ, lạc hậu, chậm tiến nếu so với người dân của các nước Thai Lan, Miến Điện, Việt Nam, Đài Loan, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Nhật Bản. Tương tự như vậy, , người dân ở các nước Nam Âu như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Ý Đại Lợi (triền miên nằm dưới ách thống trị của chế độ cha cố) đều ở vào tình trạng lạc hậu, chậm tiến, mức sống thấp kém nếu so với người dân ở các nước Âu Châu khác nằm ở ngoài vòng kiềm tỏa của Giáo Hội La Mã.

Chính vì tình trạng này mà nhân dân Âu Châu, nạn nhân trực tiếp và sớm nhất của Giáo Hội La Mã, nổi lên chống Giáo Hội liên tục từ thời Trung Cổ với những phong trào như:

1, Martin, Malachi, Rich Church, Poor Church (New York: G.P. Putnam’s Sons, 1984), p. 90.
2, Malachi Martin, Ibid.,), pp 155-156.
3) Trần Tam Tình, Thập Giá và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978), tr.130..
4) Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr. 14- 15Link: http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=1296

giaodiem.com

Advertisements
Categories: Chúa Dê-su | 3 phản hồi

Điều hướng bài viết

3 thoughts on “Ngày tàn của những kẻ truyền Đạo cuồng tín

  1. mac khach nhan

    Dung la lu an học khong den noi den chon.tac gia phai học thêm 10 nam triet-than hoc cong them hoc van cao nhu cac nha bac hoc vi dai van chua du luan diem de giai thich.toi xin nhan mạn nhu sau:ly le cua cong giao la mau nhiem ,ma mau nhiem khong the suy doan bang dau oc con nguoi khong thay duoc,giong nhu song dien thoai hay tu truong vay thu hoi tac giá co thay khong ma mau nhiem con kho gap ngan lan nua.neu tac gia suy luan duoc giao trinh cua cong giao toi nghi tac gia con tai gioi hon ca nha bac hoc newton nua chac tac gia da che tao ra phi thuyen bay toi cac vi sao roi.
    toi thay tac gia that ngu ngoc khong nhan thay mot trat tu vu tru sao:vi du nhu trai dat quay quanh mat troi .no khong the tu co ma chuyen dong theo mot trat tu duoc.phai co ban tay cua sieu nhien la dang toi cao thi moi kien toan.
    xin noi them rang hon 200 nha bac hoc co hon 167 vi tin co thien chua con tac gia chua co mot sang kien nao chua the noi den phat minh co loi ich cho quoc gia ma lai phat bieu mot cach lo bịc nhu the.

  2. mac khach nhan

    neu tac gia co tai that thi che tao mot loai vu khi gi do dem ra thu nghiem .trung quoc so rut gian khoan ve nuoc.hoc van chang den dau ma suy luan lung tung.

  3. mac khach nhan

    su phat trien cua mot dat nuoc,dang cam quyen hay mot ton giao du dua con nguoi toi diem cao nhat ben canh cung co diem tieu cuc cua no.toi thay tac gia chi nhin theo mot phuong huong.nhung kien thuc tac gia vua neu it nhieu toi cung da hoc o chuong trinh pho thong roi.
    toi thay thuong cho tac gia nhung ke chong lai ki-to giao ket qua cho thay :gia dinh bai san,noi giong bi diet vong .
    muc dich chinh cua ki-to giao huong con nguoi den cai thien,khong phan biet giao,luong neu tam hien lanh thi duoc cuu roi con nguoc lai thi bi sa day hoa nguc cung khong ke giao luong.

    Duc gie-su kito la ngoi hai trong ba ngoi thien chua.la dang toi cao :xay dung vu tru bao la,kien tao tran tu vu tru.moi loai trong vu tru .ngai co quyen xet xu moi loai thu tao,tat ca cac giao chu cac giao phai deu duoi quyen xet xu cua ngai.chua la dang toi cao la vua vu tru,con chung ta co tai phuc nhu thich ca di chang nua thi cung la con nguoi,la loai thu tao la phai chet khong truong ton mai duoc .

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: