Vatican có “hợp tác lành mạnh” ngoại giao với Việt Nam không?

VIÊN THUỐC ĐỘC BỌC ĐƯỜNG
“HỢP TÁC LÀNH MẠNH”
Trần Chung Ngọc

…Với một con người mà nhân cách thấp hèn và vô đạo đức như vậy, Việt Nam hi vọng gì ở một sự “hợp tác lành mạnh” với Vatican, và hợp tác để làm gì? Hợp tác để cho Vatican có cơ hội bành trướng trên mảnh đất của chúng ta hay sao? Bài học lịch sử cho thấy, bất cứ ở nơi nào mà Ca-tô Rô-ma Giáo nắm được quyền thế gian thì nơi đó không có tự do, dân chủ. Kinh nghiệm lịch sử của những chế độ Ca-tô trên thế giới: Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam, Franco ở Tây Ban Nha, Pavelic ở Croatia, Hitler ở Đức đã cho chúng ta thấy sự nguy hại của cuồng tín tôn giáo là như thế nào (TCN)

________________________________________

Theo một bản tin trên VietCatholic ngày 28 tháng 6, 2009, thì một lần nữa, Tòa Thánh (sic) Vatican lại ve vãn Việt Nam trong sách lược tầm ăn dâu: xin được tái lập mối liên hệ ngoại giao với Việt Nam với hứa hẹn “hợp tác lành mạnh”. Bản tin viết:

Ngày thứ Bảy 27 tháng 6 năm 2009 Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI tuyên bố với các vị Giám Mục Việt Nam rằng giữa Giáo Hội Công Giáo Roma và chính quyền Việt Nam có thể hợp tác cách lành mạnh (healthy collaboration) và Tòa Thánh đang tiến hành công tác tái lập mối liên lạc ngoại giao.

Điều này không lạ, vì Ca-tô Rô-maGiáo đang suy thoái trên khắp thế giới, nhất là ở ngay cái nôi của Ca-tô Rô-maGiáo là Âu Châu, kể cả nước Ý là thủ phủ của Ca-tô Rô-maGiáo, cho nên Tòa Thánh (sic) muốn kiếm miền đất mới để mang cỏ dại của Âu Châu sang trồng ở Á Châu. Cỏ dại ở Âu Châu đang suy tàn khó có thể lan tràn được nữa vì Tây phương có hai phương thuốc để trừ cỏ dại: đó là sự tiến bộ của dân trí và đời sống kinh tế thoải mái của quần chúng. Nhưng ở những nơi dân trí còn thấp và đời sống vật chất còn khó khăn thì cỏ dại rất có cơ hội lan tràn.

Những nước Vatican quan tâm nhất là Trung Quốc với hơn một tỷ ba dân, Thái Lan, và Việt Nam, nơi đây Vatican đã có khoảng 5 triệu thuộc hạ sẵn sàng nghe lệnh của Vatican như Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt trước đây trong vụ Tòa Khâm Sứ. Sách lược gieo trồng và gặt hái mùa cỏ dại ở Á Châu đã được hoạch định từ thời Giáo hoàng John Paul II. [Xin đọc: “Ki Tô Giáo: Kế Hoạch Cải Đạo Á Châu” của ba tác giả Thích Nhật Từ, Ngô Triệu Lịch và Trần Chung Ngọc, NXB Á Châu, Hè 2005]. Lẽ dĩ nhiên, Giáo hoàng tuyên bố gì với các Giám mục Việt Nam thì các Giám mục chỉ có quyền dạ, vâng. Tin hay không tin cũng phải tuyệt đối tuân phục Giáo hoàng. Đó là “đức vâng lời” trong Ca-tô Rô-maGiáo.

Nhưng, có thể có sự hợp tác lành mạnh giữa một con lang đã 2000 năm tu luyện và một cô bé quàng khăn đỏ mới có mấy chục năm kinh nghiệm việc đời hay không? Lịch sử Công giáo và bản chất Công giáo đã cho chúng ta một câu trả lời quyết định (an emphatic answer): KHÔNG !! Chắc hẳn cô bé quàng khăn đỏ ngày nay đã biết rõ như vậy, và không ngây ngô cả tin như cô bé quàng khăn đỏ trong truyện có tính cách dạy con người đừng có vội tin vào những lời quyến rũ đường mật của một kẻ lạ, nhất là khi đã biết rõ là kẻ lạ và tổ chức của kẻ đó đã nổi tiếng khắp hoàn cầu về “nói một đàng làm một nẻo”, và bất chấp thủ đoạn để đạt được mục đích.

Tại sao lại không thể tin? Vì Nhà Nước Việt Nam vốn vẫn bị chụp lên đầu cái mũ “công sản vô thần”. Cộng sản hay không, nhưng “vô thần” theo nghĩa là không tin vào Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, thì thường là sáng suốt và thông minh hơn “hữu thần” nhiều, và cũng vì vậy nên không thể nào tin vào thiện chí “lành mạnh” [sic] của một con người như Benedict XVI. Giáo dân Ca-tô Rô-maGiáo Việt Nam gọi ông ta là “Đức Thánh Cha” và có truyền thống tin tất cả những gì bề trên của họ dạy về giáo hoàng của họ. Nhưng đối với giới hiểu biết, thì Benedict XVI chẳng có một cái đức nào cả mà còn vô đạo đức. Có rất nhiều bằng chứng chứng tỏ như vậy.

Trước hết, chúng ta hãy coi vài hình ảnh của Ratzinger, từ “Hitler Youth” tới Giáo hoàng của Ca-tô Rô-maGiáo.

Bây giờ chúng ta hãy xem, về vấn đề đạo đức, Benedict XVI là người như thế nào? Ông ta muốn “hợp tác lành mạnh” với Việt Nam. Hợp tác lành mạnh có nghĩa là phải tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng mọi sự khác biệt của nhau. Nhưng có bao giờ Vatican tôn trọng các nền văn hóa khác, các tín ngưỡng khác. Chúng ta hãy lấy vài thí dụ:

Khi còn là Hồng Y, Ratzinger phải biết rằng Việt Nam là một nước Phật Giáo, và ông đã tôn trọng Việt Nam như thế nào? Nhân cách và giáo dục của ông ta đã để lộ ra trong câu nhận xét về Phật Giáo rất là hạ cấp, thiếu giáo dục: “Buddhism is a sort of spiritual eroticism”. Đó là ngôn từ “lành mạnh” của Ratzinger mà nay đang quyến rũ Việt Nam bằng viên thuốc độc bọc đường “hợp tác lành mạnh”, một nước Phật Giáo trong đó chỉ có 7% người Ca-tô Rô-maGiáo.

Phê bình Phật Giáo bằng loại ngôn từ như trên có phải là tôn trọng tín ngưỡng khác không? Và chúng ta không nên quên là ngày 5 tháng 9, 2000, Joseph Ratzinger, với sự chấp thuận của John Paul II, đã tung ra bản tuyên ngôn “Dominus Jesus” trong đó có hai điểm trịch thượng thực ra là chỉ đối với các hệ phái Ki tô Giáo khác hay Do Thái Giáo, Hồi Giáo, những tôn giáo cùng thờ một Chúa, chứ đối với những tôn giáo phi-Ki-Tô, thí dụ như Phật Giáo hay Ấn Giáo, thì vô nghĩa, vì Phật Giáo có bao giờ cần đến sự cứu rỗi trong Ki Tô Giáo đâu, cho đó chẳng qua chỉ là cái bánh vẽ trên trời của nền thần học Ki Tô Giáo dùng để làm mồi nhử các đầu óc yếu kém, chứ ngày nay có còn người nào có đầu óc còn tin vào những điều hoang đường của thời bán khai..

1. “.. như là một phương tiện đưa đến sự cứu rỗi, những tôn giáo phi-KiTô thiếu sót một cách trầm trọng” (..non-Christian religions are gravely deficient as a means of salvation)

2. “Giáo hội Công Giáo La Mã là phương tiện duy nhất đem đến sự cứu rỗi cho toàn thể nhân loại” (The Roman Catholic Church is the only instrument for the salvation of all humanity)

Cũng vì vậy mà Giáo sư Thần học Ca-tô nổi tiếng trên hoàn cầu, Hans Kung, đã đưa ra một nhận định về bản tuyên ngôn “Dominus Jesus” là “một sự pha trộn của tính chất lạc hậu thời Trung Cổ và Tâm Lý Bệnh Hoạn về Những Ảo Tưởng Hão Huyền về Quyền Lực hay Toàn Năng của Vatican” (A mixture of medieval backwardness and Vatican megalomania). [Megalomania = A psycho-pathological condition in which fantasies of wealth, power or omnipotence predominate]

Không chỉ nói nhảm về Phật Giáo mà Benedict XVI, trong một chuyến viếng thăm nước Đức của ông ta, còn mạ lỵ Giáo Chủ Hồi Giáo là “Mohammed đã chỉ mang tới những thứ ác ôn và vô nhân” [The prophet Mohammed had brought “things only evil and inhuman”] trong khi so với Hồi Giáo thì lịch sử Ca-tô Rô-maGiáo còn ác ôn và vô nhân hơn nhiều qua những cuộc Thánh Chiến, Tòa Án xử Dị Giáo, Săn Lùng và Thiêu Sống Phù Thủy, làm tiền phong hay toa rập với thực dân để truyền đạo và cướp đất v…v….. Do đó, Hồi giáo khắp nơi trên thế giới đã lên tiếng phản đối đòi ông ta phải chính thức xin lỗi trước công chúng.

Sau đây là vài mẩu tin trên báo chí về phản ứng của Hồi giáo trước lời nói bậy của Benedict XVI:

ISLAMABAD, Pakistan (AP) – Pakistan’s parliament on Friday unanimously adopted a resolution condemning Pope Benedict for making what it called “derogatory” comments about Islam, and seeking an apology from him for hurting Muslims’ feelings.

NEW DELHI: The Pope must apologise, demand Indian Muslims. Officials of the Khwaja Moinuddin Chisti’s dargah in Friday on Friday demanded that Pope Benedict XVI retract his comments on jihad and apologise to Muslisms.

UK Muslims condemn Pope’s speech:

British Muslims have joined in fierce criticism of remarks made by Pope Benedict about Islam.
The pontiff was accused of falling into “the trap of bigots and racists” with the comments he made on a visit to Germany.

The Pope Tackles Faith & Terrorism:

In a provocative speech citing the concept of jihad and referencing the Muslim prophet by name, Benedict sends the world a signal that it’s time for hard questions—not hugs and handshakes.

Turkish Cleric Demands Apology From Pope:

Muslim clerics demanded an apology after Benedict XVI quoted a 14th century Byzantine emperor who said Islam brought “evil and inhuman” things.

Dissident Kueng criticises pope during German visit:

Tuebingen, Germany- Hans Kueng, the Swiss-born Catholic theologian who has been a long-time critic of the Vatican, slammed Pope Benedict XVI on Wednesday for not offering dialogue during a six-day visit to Germany. There had not been “a single future-oriented signal” from the pope, nor were there any suggestions of reforms on the way, Kueng told Deutsche Presse-Agentur dpa in an interview.

Sự vô đạo đức của Benedict XVI không chỉ thu hẹp trong vấn đề cố ý nói bậy về các tôn giáo khác mà còn thể hiện trong vấn đề liên hệ tới bản chất và uy tín của Ca-tô Rô-maGiáo. Đó là chủ trương bao che các linh mục can tội loạn dâm với các trẻ phụ tế và nữ tín đồ. Ngày nay chúng ta đã biết là có tới hơn 5000 linh mục bị truy tố về những tội danh trên, và Giáo hội Ca-tô đã phải bỏ ra trên 2 tỷ đô la để bồi thường cho các nạn nhân tình dục của các “Cha cũng như Chúa”. Đó là chưa kể đến vụ các linh mục cưỡng hiếp chị em tâm linh của họ, các nữ tu, trên 27 quốc gia trên thế giới. Bộ mặt đạo đức giả của Benedict XVI không gì rõ hơn là những lời phát biểu của ông ta trên chuyến máy bay tới Mỹ vào tháng 4, năm 2008.

Theo tin của hãng thông tấn Ca-Tô (Catholic News Service), Benedict XVI đã nói với các ký giả là “Vụ các linh mục loạn dâm đã làm cho Giáo hội và chính ông ta cực kỳ đau khổ” [The pope began his visit by addressing an issue that has wounded the Catholic Church in the United States, telling reporters on his aircraft that the sexual abuse of children has caused “great suffering” for the church and “me personally.”] Cũng theo hãng thông tin này thì: vụ các linh mục loạn dâm đã gây ra cho nhiều ngàn nạn nhân tình dục của các linh mục và vào khoảng 5000 linh mục đã bị truy tố từ khi vụ này nổ ra năm 2002 và đã làm cho giáo hội tốn trên 2 tỷ đô-la trong những cuộc dàn xếp [The scandal has produced thousands of sexual abuse victims and about 5,000 accused priests since it erupted in 2002 and has cost the church more than $2 billion in settlements.] Ông ta cũng còn nói: “Khi tôi đọc những hồ sơ về các nạn nhân đó, thật là khó cho tôi hiểu được là các linh mục lại có thể phản bội như vậy. Nhiệm vụ của họ là chữa trị, mang tình thương của Thiên Chúa đến những đứa trẻ này. Chúng tôi thật là quá nhục nhã và chúng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để cho vấn đề này không thể xảy ra nữa trong tương lai.” [As I read the histories of those victims, it is difficult for me to understand how it was possible that priests betrayed in this way. Their mission was to give healing, to give the love of God to these children. We are deeply ashamed and we will do what is possible that this cannot happen in the future.]

Rất ít người để ý là những lời Benedict XVI nói với các ký giả trên máy bay như trên chỉ là những lời nói đãi bôi, đạo đức giả. Vì ông ta thừa biết rằng, không phải bây giờ trong giáo hội Ca-Tô Rô-ma mới có các vụ loạn dâm, mà trong suốt giòng lịch sử của giáo hội, cũng có không thiếu gì những giáo hoàng, hồng y v..v.., không những loạn dâm mà còn loạn luân và phạm đủ mọi tội ác khác nữa. Nhưng sự đạo đức giả của ông ta quả thật là thuộc loại mặt trơ chán bóng, không biết ngượng, vì chính ông ta đã ra lệnh bao che các linh mục loạn dâm trước đây.

Thật vậy, khi còn là Hồng Y, trong một bức thư mật ký tên Ratzinger, Crimen Sollicitationis, gửi cho các giám mục trên khắp thế giới, Ratzinger đã đưa ra sách lược bảo mật, bao che các vụ loạn dâm của các linh mục. Theo sự phân tích của Linh mục Doyle, Luật sư về Giáo luật [Canon Lawyer] của Ca-tô Rô-maGiáo, thì:

Văn kiện Crimen Sollicitationis chứng tỏ là có một chính sách toàn cầu bảo mật tuyệt đối và kiểm soát mọi trường hợp lạm dụng tình dục của giới giáo sĩ.

Ở đây chúng ta có một chính sách viết ra rõ ràng để che đậy những trường hợp can tội ấu dâm của các linh mục và trừng phạt những người trong giáo hội dám để lộ ra những tội ác này.

Chúng ta có một chính sách viết ra rõ ràng là Vatican sẽ kiểm soát những trường hợp này và thấy rõ là những gì mà Vatican quan tâm là ngăn chận phổ biến và kiểm soát vấn nạn này.

Không có chỗ nào trong văn kiện nói về giúp đỡ các nạn nhân.

Chỉ có một điều về các nạn nhân là giáo hội có thể áp đặt sự sợ hãi lên các nạn nhân và trừng phạt những nạn nhân nào dám thảo luận hay phanh phui những gì xẩy ra cho họ.

Bức thư được thi hành trong suốt thời gian Joseph Ratzinger làm Hồng Y và nay trở thành Giáo hoàng, do đó chính sách này và việc thi hành có hệ thống không hề thay đổi.

[Crimen solicitationis is indicative of a worldwide policy of absolute secrecy and control of all cases of sexual abuse by the clergy.

But what you really have here is an explicit written policy to cover up cases of child sexual abuse by the clergy to punish those who would call attention to these crimes by the churchmen.

You’ve got a written policy that says that the Vatican will control these situations and you also have I think clear written evidence of the fact that all they are concerned about is containing and controlling the problem.

Nowhere in any of these documents does it say anything about helping the victims.

The only thing it does is say that they can impose fear on the victims and punish the victims for discussing or disclosing what happened to them.

It’s all controlled by the Vatican and at the top of the Vatican is the Pope so Joseph Ratzinger was in the middle of this for most of the years that Crimens was enforced he created the successor to Crimen and now he is the Pope this all says that the policy and systematic approach has not changed.]

Một bài viết của Jamie Doward trên tờ Observer ngày 24.4.2005 đã phanh phui ra chuyện Benedict XVI đã “ngăn cản sự điều tra về vấn đề loạn dâm trong giáo hội.” [Pope “obstructed” sex abuse inquity]. Bài báo cho biết:

Giáo hoàng Benedict XVI bị lên án là đã “ngăn cản công lý” [obstruction of justice] khi người ta biết rằng ông ta đã ra lệnh để bảo đảm cho sự điều tra của giáo hội về những vụ trẻ em bị cưỡng bức tình dục phải được thi hành mật [ensuring the church’s investigations into child sex abuse claims be carried out in secret.] Lệnh này viết trong một bức thư mật mà tờ Observer lấy được, đã được gửi đi cho mọi giám mục Ca-tô vào tháng 5, 2001 [chắc trong này có những giám mục Việt Nam] (sent to every Catholic bishop in May 2001).

Bức thư khẳng định quyền của giáo hội điều tra kín và bảo mật những bằng chứng cho tới 10 năm sau khi các nạn nhân trưởng thành. Bức thư ký bởi Hồng Y Joseph Ratzinger, vừa mới được bầu kế vị John Paul II tuần vừa qua. Luật sư của các nạn nhân tình dục cho rằng mục đích của bức thư là ngăn chận các vụ án khỏi phổ biến ra quần chúng hoặc sự điều tra của cảnh sát. Họ lên án Ratzinger đã phạm tội “trắng trợn ngăn cản công lý” [They accuse Ratzinger of commiting a “clear obstruction of justice”].

Bức thư của Ratzinger kết luận: “những vụ điều tra như vậy thuộc quyền bảo mật của Giáo hoàng” (subject to pontifical secret). Bức thư của Ratzinger cùng ký bởi Tổng Giám Mục Tarcisio Bertone [người ra lệnh cho Ngô Quang Kiệt dẹp vụ thắp nến cầu nguyện với búa, kìm, và xà beng trước tòa Khâm sứ, Hà Nội], người mà trong một cuộc phỏng vấn 2 năm trước đã ngỏ ý là giáo hội chống việc cho phép các cơ quan bên ngoài giáo hội được điều tra những vụ loạn dâm [the church’s opposition to allowing outside agencies to investigate sexual abuses]. Chúng ta đã biết, những biện pháp của giáo hội để trừng phạt các linh mục loạn dâm là thuyên chuyển họ đi giáo xứ khác để họ tiếp tục loạn dâm, và trong trường hợp loạn dâm nổi tiếng của Giám mục Marcial Maciel Degollado, người sáng lập “Đạo Binh Lê Dương Của Chúa Ki Tô” [the Legionaries of Christ] thì hình phạt mà Benedict XVI dành cho Marcial là “cất chức, và dành cuộc đời còn lại để cầu nguyện và thống hối” [to be removed from his ministry and to spend the rest of his life in prayer and penitence.]

Với những hành động che dấu tội phạm, ngăn cản công lý như trên mà bây giờ Benedict XVI lại có thể nói lên những lời như: “làm cho chính tôi cực kỳ đau khổ, xấu hổ nhục nhã, không thể hiểu được..” Như vậy có phải là đạo đức giả đến mức thượng thừa rồi hay không? Chẳng vậy mà những nạn nhân tình dục ở Boston đã chỉ trích phê bình những lời nói trên của Benedict XVI. Trong một bài báo của Abby Goodnough, ngày 15 tháng 4, 2008, chúng ta có thể đọc những đoạn như sau:

Giáo Hoàng Benedict có thể nói là ông ta cực kỳ xấu hổ nhục nhã (deeply ashamed) về các vụ loạn dâm, nhưng nhiều nạn nhân tình dục ở Boston, nơi nổ ra vụ linh mục loạn dâm năm 2002, cho rằng đó là những lời rỗng tuếch (his comments rang hollow)

Robert Costello, một nạn nhân tình dục của linh mục khi mới có 10 tuổi, đặt vấn đề là Giáo hoàng nói rằng vụ các linh mục loạn dâm đã là cho giáo hội và chính ông ta đau khổ mà không thú nhận về sự đau khổ của chính các nạn nhân [without acknowledging the pain of abuse victims themselves.] Costello nói: “Thế sự đau khổ của các nạn nhân thì sao?”, và thứ Sáu này ông ta sẽ đi đến New York và đọc lớn lên tên của các nạn nhân trong khi giáo hoàng nói ở Liên Hiệp Quốc [who will travel to New York to read aloud the names of victims on Friday while the pope addresses the United Nations.]

David Carney, một nạn nhân tình dục khác, cũng bác bỏ những lời của Giáo hoàng, cho rằng không thật lòng (dismissed the pope’s comments as insincere). Carney nói: “Đừng có ngồi trên máy bay mà nói về vấn đề loạn dâm của các linh mục, nếu ông cảm thấy cực kỳ xấu hổ và nhục nhã thì hãy làm gì để giải quyết vấn đề” [If you’re ashamed about it, do something about it]. Đối cới tín đồ Ca-Tô ở Boston, đó chỉ là những lời trên đầu môi chót lưỡi [the pope’s comments on the abuse scandal were lip service to Boston Catholics.]

Trên trang nhà của tổ chức “Tiếng Nói Của Đức Tin Chân Thật” [VOTF = Voices of the True Faith] Kay Ebeling viết, ngày 6 tháng 4, 2008:

Hãy bắt giam Giáo hoàng ngay, nếu có thể! Hắn đã giúp và tiếp tay trong tội ác của hơn 4400 Linh mục loạn dâm đã cưỡng hiếp hàng ngàn trẻ em Mỹ. Đó là tiếng nói của VOTF trên nguyên một trang quảng cáo. [“Arrest the Pope Now While You Can! He aided and abetted felonies of 4400-plus pedophile priests who raped thousands of American children.” That Is What the VOTF Full Page Ad Should Say]

Ngoài ra, theo VietCatholic thì Giáo hoàng vẫn tiếp tục nuôi dưỡng trò bịp hoang đường mê tín của giáo hội như sau:

VietCatholic: ĐTC nói: ”Lời Chúa và Bí tích là hai cột trụ nòng cốt của sứ vụ Linh mục

Tôi đã chứng minh bản chất thực sự của Chúa Cha và Chúa Con trong Thánh Kinh là như thế nào, không nhắc lại ở đây. Voltaire đã chẳng từng nhận định: Lời của Chúa là lời của các linh mục; sự vinh quang của Chúa là sự hãnh diện của các linh mục; ý của Chúa là ý của các linh mục; xúc phạm Chúa là xúc phạm các linh mục; tin vào Chúa là tin vào mọi điều linh mục nói (The word of God is the word of the priests; the glory of god is the pride of the priests; the will of god is the will of the priests; to offend god is to offend the priests; to believe in god is to believe in all that the priests tell us.) hay sao?

Nhưng về các bí tích thì chúng ta có một tài liệu của Linh mục Joseph McCabe, một người đã hành nghề linh mục trong 20 năm, trong cuốn “Sự Thực Về Giáo Hội Ca-Tô” (The Truth About The Catholic Church), như sau:

Sau khi luận về 6 bí tích, trước khi phân tích chi tiết về bí tích xưng tội, linh mục Joseph McCabe đã đưa ra nhận xét châm biếm sau đây:

Đó là 6 trong 7 bí tích, sự vinh quang và bông hoa đặc biệt của tín ngưỡng Ca-Tô, hệ thống tỉ mỉ nhất về ảo thuật mà xưa nay chưa hề có một tôn giáo văn minh nào phát minh ra được. Từ bí tích đầu cho đến bí tích cuối, chúng được thiết kế để tăng thêm quyền lực và uy tín của giới giáo sĩ. Trong nghi thức thực hành và ý tưởng căn bản trong đó, chúng cũng xa lạ và đối ngược với tất cả vấn đề tâm linh trong thời hiện đại như là thuật biến chế kim loại trong thời Trung Cổ và thuật chiêm tinh. Đây là tập hợp những niềm tin mà tín đồ Ca-Tô thông thường tin rằng một ngày nào đó họ sẽ cải đạo toàn thể Hiệp Chủng quốc (Mỹ). Ở mức độ tinh tế, tín đồ Ca-Tô nói rằng, đây chính là tập hợp những niềm tin mà Thiên Chúa Ki-Tô quan tâm hết sức để duy trì chúng trong sắc thái tinh khiết của chúng cho nên Ngài bỏ qua những sự khủng khiếp của thời Trung Cổ và tất cả những sự đồi bại của các giáo hoàng và chế độ giáo hoàng.!

[Joseph McCabe, The Truth About The Catholic Church, p. 70: These are six of the seven sacraments, the glory and distinctive flower of Catholic belief, the most elaborate system of magic which any civilized religion ever invented. From first to last they are designed to enhance the power and prestige of the clergy. In their ritual and their fundamental ideas they are as alien from, as antagonistic to, the whole spirit of modern times as is alchemy or astrology. This is the set of beliefs to which the simple Catholic believes he will one day convert the whole United States! In fine, this is the set of beliefs which God, the Catholic says, was so deeply concerned to maintain in their purity that he overlooked all the horrors of the Middle Ages and all the corruptions of the Pope and the Papacy!]

Tôi thực tình không hiểu tại sao trong thời buổi này mà Giáo hoàng vẫn còn dẫn dắt tín đồ trong bóng tối của những điều mê tín vô cùng phi lý, phi lô-gic, phản khoa học v..v.. mà trong thế giới văn minh ngày nay, không một người nào có đầu óc lại có thể tin vào những điều chỉ hợp với một số người trong thời sơ khai. Thật quả là sách lược nhồi sọ và nhốt đầu óc tín đồ vào những ốc đảo tối tăm trí thức của giáo hội Ca-Tô Rô-ma đáng để cho chúng ta thán phục. Tôi nghĩ, có lẽ mấy câu thơ sau đây của nhà đại văn hào Pháp Victor Hugo trong thế kỷ 19 vẫn còn thích hợp:

Ngày nay, người dẫn dắt đàn chiên của Ngài trong bóng tối

Không phải là kẻ chăn chiên, mà là tên đồ tể đó, Chúa ạ!

(Ce qui mène aujourd’hui votre troupeau dans l’ombre

Ce n’est pas le berger, c’est le boucher, Seigneur!)

Victor Hugo, Les Châtiments, liv. 1, 2

Từ những tài liệu trên, chúng ta ta thấy Benedict XVI không quan tâm đến đối thoại với bất cứ tôn giáo, chính thể nào khác. Về tôn giáo, ông ta luôn luôn hạ thấp các tôn giáo khác, quên đi cái lịch sử 7 núi tội ác ô nhục đẫm máu của Ca-tô Rô-maGiáo mà chính Giáo hoàng John Paul II đã xưng thú trước thế giới. Ông ta vẫn tự cho mình những quyền lực của các Giáo hoàng thời Trung Cổ và thảm thay đám con chiên của ông ta ở dưới cũng tin rằng ông ta có những quyền lực như vậy. Cực kỳ đạo đức giả như chúng ta đã thấy, ông ta chuyên nói những lời đãi bôi trên đầu môi chót lưỡi.

Với một con người mà nhân cách thấp hèn và vô đạo đức như vậy, Việt Nam hi vọng gì ở một sự “hợp tác lành mạnh” với Vatican, và hợp tác để làm gì? Hợp tác để cho Vatican có cơ hội bành trướng trên mảnh đất của chúng ta hay sao? Bài học lịch sử cho thấy, bất cứ ở nơi nào mà Ca-tô Rô-ma Giáo nắm được quyền thế gian thì nơi đó không có tự do, dân chủ. Kinh nghiệm lịch sử của những chế độ Ca-tô trên thế giới: Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam, Franco ở Tây Ban Nha, Pavelic ở Croatia, Hitler ở Đức đã cho chúng ta thấy sự nguy hại của cuồng tín tôn giáo là như thế nào.

Có vài điều kiện tiên quyết không thể không có (sine qua non) trước khi Việt Nam xét đến việc “hợp tác lành mạnh” với Vatican.

– Thứ nhất, Ratzinger phải chính thức xin lỗi thế giới Phật Giáo về những lời nói có tính cách xúc phạm Phật Giáo của mình, Việt Nam cương quyết đừng bao giờ nhân nhượng Vatican, hay để cho ông ta bước chân lên đất nước Việt Nam dù dưới bất cứ một áp lực nào trước khi điều kiện này được thỏa mãn. Thể diện quốc gia và truyền thống văn hóa dân tộc phải được đặt lên trên hết.

– Thứ nhì, Vatican phải chính thức xin lỗi Việt Nam về những tác hại mà Ca-tô Rô-maGiáo đã mang đến Việt Nam, điển hình là những hành động truyền đạo mê hoặc tín đồ, xâm phạm chủ quyền, nền văn hóa truyền thống của Việt Nam.

– Thứ ba, Giáo hội Ca-tô Rô-maGiáo ở Việt Nam phải xin lỗi dân tộc Việt Nam vì đã làm tay sai cho thực dân Pháp để đưa nước nhà vào vòng nô lệ Pháp như chính Giám mục Puginier đã thú nhận.

– Thứ tư, Giáo hội Ca-tô Rô-maGiáo ở Việt Nam phải trả lại đất đai đã cướp được hoặc do thực dân Pháp ban cho để thưởng công lại cho nhân dân Việt Nam.

– Và thứ năm, Giáo hội Ca-tô Rô-maGiáo ở Việt Nam phải tuyên bố độc lập với Vatican. Truyền thống văn hóa Việt Nam không chấp thuận sự lệ thuộc ngoại bang, bất cứ dưới hình thức nào, của một bộ phận trong quốc gia.

Chỉ sau khi hội đủ 5 điều kiện trên, Nhà Nước mới nên xét đến cái gọi là “hợp tác lành mạnh” giữa Vatican và Việt Nam.

Để kết luận, tôi muốn nói đến một tác phẩm có nhan đề “Khi Tôn Giáo Trở Thành Ác Ôn” (When Religion Becomes Evil), HarperSanFrancisco, 2002. Nội dung cuốn sách là những khai triển của tác giả Charles Kimball về “Năm Dấu Hiệu Cảnh Báo Sự Đồi Bại Trong Tôn Giáo” (The five warning signs of corruption in religion), và từ đó trở thành tôn giáo ác ôn:

-► Tuyên bố là nắm chân lý tuyệt đối (Absolute Truth Claims)

-► Bắt tín đồ phải vâng lời một cách mù quáng (Blind Obedience)

-► Thiết định thời gian “lý tưởng” (Establishing the “Ideal” time), nghĩa là ngày trờ lại của Chúa Giê-su [Dân Chúa (God’s people) trong 2000 năm nay vẫn chờ đợi ngày trở lại của Chúa và họ vẫn kiên trì chớ đợi]

-► Cứu cánh biện minh cho mọi phương tiện (The End Justifies any means)

-► Khai Thánh Chiến (Declaring Holy War)

Thật là kỳ lạ, Ca-tô Rô-ma Giáo tự nhận là một giáo hội “thánh thiện, duy nhất, thiên khải, tông truyền” nhưng lại hội đủ cả năm dấu hiệu đồi bại trên, nhất là dấu hiệu “Cứu cánh biện minh cho mọi phương tiện (The End Justifies any means)”. Và vì hội đủ cả năm dấu hiệu cảnh báo trên, Ca-tô Rô-maGiáo đã trở thành một tôn giáo ác ôn như lịch sử đã chứng minh. Tôi không có nói chơi, vì đây là chuyện không thể nói chơi, cho nên, nếu có ai thách đố, tôi sẽ chứng minh từng điểm trên một, dựa theo chính giáo lý và lịch sử của Ca-tô Rô-maGiáo.

Trần Chung Ngọc, ngày 4/7/09
NDVN, ngày 7/4/09

nhandanvietnam.org

Advertisements
Categories: Chúa Dê-su | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điều hướng bài viết

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: