QUYỀN CON NGƯỜI VÀ GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC

Là một người con Việt sống xa quê hương chúng tôi luôn dõi theo từng bước chuyển mình của đất nước, qua các phương tiện truyền thông tôi được biết ngày 18-11-2012 Các nhà lãnh đạo thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á( ASEAN) đã kết thúc cuộc thảo luận về bản “Tuyên bố nhân quyền ASEAN(AHRD). Đây là một tin vui khi Việt Nam hòa nhập góp phần xây dựng hợp tác nhân quyền ở khu vực trong tiến trình xây dựng cộng đồng ASE.

Văn bản tuyên bố chung về nhân quyền của các nước ASEAN trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 21 được tổ chức tại Phnom Penh campuchia vào ngày 18 tháng 11 năm 2012 với sự chấp thuận và ký kết của lãnh đạo 10 nước thành viên ASEAN. Đây là văn kiện chính trị đầu tiên của ASEAN nhằm tạo khuôn khổ chung cho tăng cường hợp tác ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trong khu vực.

Tuyên bố nhân quyền ASEAN bao gồm 07 phần với 40 Điều, khẳng định mọi công dân ASEAN có 4 nhóm quyền căn bản về dân sự,chính trị(14 quyền) – kinh tế, xã hội, văn hóa (8 quyền), quyền phát triển, và quyền hưởng hòa bình. Các quyền này được xây dựng trên những nguyên tắc căn bản là bình đẳng, tôn trọng đặc thù khu vực và sự đa dạng của mỗi quốc gia…

“Tất cả mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền” (trích đoạn mở đầu của Tuyên bố)

Khẳng định lại các mục đích, nguyên tắc trong hiến chương ASEAN, nhấn mạnh cam kết đối với Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR), hiến chương liên hợp quốc… Tuyên bố này sẽ góp phần xây dựng khuôn khổ hợp tác nhân quyền ở khu vực và đóng góp vào tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN. Trong phần Các Nguyên tắc chung, Tuyên ngôn nhấn mạnh: “Việc hưởng các quyền con người và các quyền tự do cơ bản phải được cân bằng với việc thực hiện các nghĩa vụ tương ứng”; “Việc thực hiện các quyền con người phải được xem xét trong bối cảnh khu vực và quốc gia dựa trên sự thừa nhận sự khác nhau về chính trị, kinh tế, pháp lý, xã hội, văn hóa, lịch sử và tôn giáo”; “Việc thực hiện các quyền và tự do cơ bản phải chịu những giới hạn theo quy định của pháp luật chỉ nhằm mục đích bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của người khác và để đáp ứng yêu cầu về an ninh quốc gia, trật tự công cộng”.

Tuyên bố này là là văn kiện chính trị đầu tiên phác thảo khuôn khổ tăng cường hợp tác và bảo vệ nhân quyền ở khu vực Đông Nam Á và được các nhà lãnh đạo của 10 nước ASEAN đã tán dương bản Tuyên Bố Nhân Quyền như một thỏa thuận lịch sử giúp bảo vệ 600 triệu người dân trong khu vực này và việc thông qua AHRD khẳng định ASEAN luôn cam kết tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của 600 triệu công dân trong khối này. Theo các nhà lãnh đạo ASEAN thì tuyên bố này đã thể hiện những ý nghĩa quan trọng và sâu sắc, cụ thể như sau:

-Thể hiện nguyện vọng, quyết tâm và nỗ lực trong việc xây dựng một Cộng đồng ASEAN hướng tới người dân đồng thời khẳng định cam kết của ASEAN tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ các quyền cơ bản của con người cũng như phấn đấu nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân khu vực như đã nêu trong Hiến chương ASEAN – Thể hiện cam kết của ASEAN trong việc thúc đẩy thực hiện Tuyên bố Nhân quyền ASEAN phù hợp với các nguyên tắc đề ra trong hiến chương liên hợp quốc, Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế, Tuyên bố và chương trình hành động Viên và các văn kiện quốc tế về nhân quyền khác đã tham gia.

-Khẳng định lại các giá trị nhân quyền chung, đi đôi với coi trọng các giá trị và đặc thù của ASEAN và các quốc gia trong khu vực, quyền đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm trước cộng đồng, đóng góp vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực quyền con người.

Tổng thư ký ASEAN ông Surin Pitsuwan đã ca ngợi thỏa thuận “Tôi nghĩ đây là một diễn biến trọng đại các nhà lãnh đạo vừa ký tên trong một bản tuyên ngôn, cam kết chính họ, mỗi chính phủ, mỗi quốc gia sẽ theo đuổi các chuẩn mực cao nhất, đang có hiện nay và đang có hiệu lực. Và chắc chắn văn bản này có thể được sử dụng để giám sát cách hành xử, bảo vệ và phát huy nhân quyền tại khu vực, trong các nước thuộc khối ASEAN.”

Về mặt pháp lý, Tuyên bố Nhân quyền là văn kiện không mang tính ràng buộc pháp lý, nó chỉ thể hiện nỗ lực cũng như sự đồng thuận của các nhà lãnh đạo ASEAN trong việc ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền lợi chính đáng của người dân ASEAN, cũng như ngăn ngừa các hoạt động “lợi dụng chiêu bài nhân quyền” để chống phá các tổ chức, chính phủ trong khu vực và là lời hứa và cam kết của các quốc gia thành viên trong việc bảo vệ và thúc đẩy tiến bộ nhân quyền. Tuyên bố khẳng định mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, và các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, người khuyết tật, người thiểu số và di dân có những quyền và tự do không thể bác bỏ.
Tuyên bố khẳng định mục tiêu tiến gần hơn tới một Cộng đồng kiểu liên minh châu âu trong bối cảnh quốc gia và khu vực và sự khác biệt từ nền tảng về chính trị-xã hội, kinh tế, pháp lý, văn hóa-lịch sử, và tôn giáo nhằm tạo dựng nên một hệ giá trị riêng cho khối để để tiến tới việc nhất thể hóa ASEAN.

Trong dịp công bố văn kiện này, Tiến sĩ Om Yentieng – người chủ trì nhiệm vụ chắp bút Tuyên ngôn nói: “Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN (AHRD) là văn kiện chính trị chứ không phải văn bản pháp luật”… “Tuyên ngôn bày tỏ ý chí và quyết tâm của chính phủ các nước ASEAN trong việc thực hiện nhân quyền của khối” … “Tiếp theo, chính phủ các nước ASEAN sẽ chuẩn bị và ký kết một số Công ước mang tính ràng buộc (về mặt pháp lý) đối với các chính phủ trong việc tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của khoảng 600 triệu dân trong khu vực ASEAN”.

Tuy vậy, cũng có một số chỉ trích của các tổ chức nhắm đến tuyên bố này, cho rằng nó vẫn còn mang một số khiếm khuyết nhất định và thậm chí, một số tổ chức nhân quyền phê phán văn bản không đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.

Vấn đề này hiện đang là vấn đề gây tranh luận của một số nước và một vài tổ chức về nhân quyền.Tuyên bố cũng không có tính bắt buộc này kêu gọi chấm dứt các hình thức tra tấn, bắt giữ vô lý cũng như các hình thức xâm phạm nhân quyền khác, một số điều khoản trong tuyên bố này nói nhân quyền có thể bị hạn chế vì những lý do an ninh, trật tự công cộng hoặc đạo đức, những điều khoản như vậy có thể bị lạm dụng để bào chữa cho sự vi phạm nhân quyền. Nó cũng có các điều khoản cho phép chính quyền nói mình không phải thi hành vì hoàn cảnh quốc gia và ngay từ đầu họ đã tạo ra lỗ hổng.

Tuy nhiên đã có những người chỉ trích nói rằng “bản tuyên bố này thiếu sót và sẽ mang lại cho các nước liên hệ lý do để làm ngơ, thay vì bảo vệ” ? và “nhân quyền là các phần trong bản dự thảo trước đây đề nghị rằng các quyền sẽ được cứu xét trong “bối cảnh quốc gia và khu vực”. Ông Phil Robertson thuộc tổ chức hoạt động cho nhân quyền Human Rights Watch có những phát biểu trên VOA Việt ngữ theo tôi đó là nhận định cực đoan và phiến diện ông ta nói :“Quý vị không thể có một ngoại lệ cho quốc gia và khu vực. Quý vị không thể đặt ra hàng loạt trường hợp cá biệt, như đạo đức xã hội chẳng hạn, mà tất cả các luật này sẽ không áp dụng. Tất cả những gì họ làm là đặt ra những kẽ hở và rồi tìm cách trau chuốt chúng.”

Trong phần Các Nguyên tắc chung, Tuyên ngôn đề cập đến sự tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của tất cả mọi người theo nguyên tắc tự do, bình đẳng; tất cả các quyền con người là phổ quát, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan đến nhau, quyền của mọi thành viên được công nhận về pháp lý ở mọi nơi và được xét xử công bằng, đúng pháp luật bởi một tòa án hợp pháp. Trong phần này, Tuyên ngôn nhấn mạnh: “Việc hưởng các quyền con người và các quyền tự do cơ bản phải được cân bằng với việc thực hiện các nghĩa vụ tương ứng”; “Việc thực hiện các quyền con người phải được xem xét trong bối cảnh khu vực và quốc gia dựa trên sự thừa nhận sự khác nhau về chính trị, kinh tế, pháp lý, xã hội, văn hóa, lịch sử và tôn giáo”; “Việc thực hiện các quyền và tự do cơ bản phải chịu những giới hạn theo quy định của pháp luật chỉ nhằm mục đích bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của người khác và để đáp ứng yêu cầu về an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe cộng đồng, an toàn công cộng, đạo đức công cộng, cũng như phúc lợi chung, trong một xã hội dân chủ”. Chúng ta thấy ngay như trong lòng xã hội Mỹ, một xã hội mà họ luôn giao giảng đó là “thiên đường dân chủ” nhưng thực tế có phải đúng như vậy? Theo tôi nghĩ giữa lời nói và việc làm của họ không song hành. Qua tìm hiểu thì bản thân tôi thấy rằng: cốt lõi nền tảng của khái niệm “nhân quyền” là những giá trị như quyền tự do, giá trị cá nhân và trách nhiệm công dân. Sự trung thành với những giá trị như vậy đang và sẽ tạo điều kiện bảo vệ các quyền cơ bản và tự do của con người. Điều đó nói lên trong những giá trị truyền thống của mỗi quốc gia, Chỉ có như vậy mới có thể làm cho các chuẩn mực này hoạt động hiệu quả. Các nước trong khối ASEAN tham gia qúa trình thảo ra tiêu chí dân chủ đều đo thử khả năng sống theo chuẩn mực mà họ cho là phù hợp. Như vậy, các quốc gia đều có thể tuân theo các chuẩn mực đó và không sợ rằng “ai đó” lợi dụng tiêu chí này để can thiệp vào công việc nội bộ của họ, hoặc dùng thủ đoạn nào đó để gây sức ép vì lợi ích kinh tế và địa chính trị.

Theo họ, Tuyên ngôn khẳng định “Việc hưởng các quyền con người và các quyền tự do cơ bản phải được cân bằng với việc thực hiện các nghĩa vụ tương ứng”; “Việc thực hiện các quyền và tự do cơ bản phải chịu những giới hạn theo quy định của pháp luật…” là “không phù hợp với chuẩn mực nhân quyền quốc tế”. Thật ra, những nguyên tắc trên đây không phải là sáng tạo của ASEAN. Những nguyên tắc này đã được quy định trong “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị” năm 1966. Trong công ước nói trên, các quyền “tự do thực hành tín ngưỡng, tôn giáo”; quyền “tự do ngôn luận”; quyền “ hội họp hòa bình”; quyền tự do “lập hội” đều là những quyền bị hạn chế ” vì “an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, để bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng, hoặc các quyền và tự do của người khác”.

Lập trường của một số nước và một vài tổ chức về nhân quyền họ không ủng hộ Tuyên ngôn Nhân quyền cho khu vực ASEAN, viện dẫn rằng gắn quyền con người với giá trị truyền thống có thể lại thành cái cớ cho tình trạng phân biệt đối xử đối với phụ nữ hay kỳ thị người đồng tính..vv.. tại một số nước. Nhưng ở đây cần phân biệt rõ ràng khái niệm “giá trị truyền thống” và “giá trị thực tế”,trong đó cũng không nên chính trị hóa về nhân quyền. Tỷ dụ như sự khác biệt nào đó về quyền con người giữa các quốc gia đông nam á và Hoa Kỳ là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, con đường khắc phục và rút ngắn khoảng cách khác biệt đó phải dựa trên sự tôn trọng quyền dân tộc tự quyết, đối thoại chân thành, cởi mở. Mỗi quốc gia, tùy theo những điều kiện của mình, cần có những đóng góp thiết thực vào việc giải quyết những vấn đề nhân quyền cụ thể ở mỗi quốc gia. Tôi có thể khẳng định một điều không nghi ngờ rằng: Việt Nam là một nước dân chủ. Ở Việt Nam có nền dân chủ. Nền dân chủ hiện tại của Việt Nam còn có những bất cập và chưa hoàn hảo và trước mắt còn có nhiều việc phải làm. Song, người dân Việt Nam là những người tự do.

Một điều mà tôi nhận thấy, nhà nước Việt Nam đã khẳng định từ ngay những ngày đầu lập nước là: Nhân quyền, hay quyền con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị xóa bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ tổ chức, chính phủ hoặc xã hội nào. Quyền con người là thành quả phát triển của lịch sử lâu dài trong sự nghiệp đấu tranh sinh tồn, đấu tranh giải phóng dân tộc, cải tạo xã hội và cải tạo thiên nhiên của cả nhân loại. Quyền con người phát triển theo lịch sử của mỗi quốc gia và mang tính đặc thù của từng dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về chế độ chính trị, lịch sử, văn hóa. Phẩm giá, tự do và trách nhiệm là những giá trị truyền thống được toàn thể nhân loại chia sẻ từ lâu đời. Chú trọng mối liên hệ giữa các giá trị truyền thống và nhân quyền hiện đại sẽ cho phép đảm bảo sự thừa nhận toàn vẹn hơn về quyền của mỗi con người, tạo điều kiện hoàn chỉnh nhận thức xã hội, còn trên bình diện chung – sẽ củng cố sự tin cậy và thiết lập đối thoại ở tầm mức cộng đồng quốc tế. Quyền con người trên thế giới là một trong những vấn đề bức xúc nhất và cũng thường bị chính trị hóa. Hiển nhiên, nhận thức đúng đắn về nhân quyền, trong đó có mối liên hệ với những giá trị truyền thống là nội dung quan trọng, mà trước hết sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền pháp lý quốc tế. Và cuối cùng, sẽ dẫn đến khả năng giảm thiểu sự lạm dụng đề tài nhân quyền trong nền chính trị thế giới. Sự nghi ngờ của một số nước và một vài tổ chức nhân quyền là thiếu thuyết phục.

Trong “Tuyên bố nhân quyền ASEAN”đã đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm của toàn thể các quốc gia phải góp phần thúc đẩy tôn trọng, tuân thủ, bảo vệ tất cả các quyền của con người và tự do căn bản, tương ứng với chuẩn mực pháp lý quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc và các thỏa thuận khác liên quan tới nhân quyền. Và cũng bởi vậy, cần rất cố gắng để phát hiện mối đe dọa đến quyền con người chính từ những ngôn từ đạo đức giả ,nhất là khi phương Tây tự mình làm mất uy tín của tư tưởng tốt đẹp bằng việc thường xuyên can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác dưới cái cớ bảo vệ quyền con người.

Theo tôi nghĩ lối tiếp cận của các nước ASEAN chính là một phương cách mới để tăng cường tôn trọng nhân quyền. Nếu tất cả các thành viên của cộng đồng quốc tế đều thừa nhận rằng các quyền lợi nhân văn phản ánh những giá trị truyền thống của nhân loại, vốn đã giúp toàn bộ mọi nền văn minh phát triển, thì sẽ triệt tiêu mâu thuẫn cơ bản giữa các dân tộc và tôn giáo. Tôi có thể lấy một dẫn chứng, như mọi người đều biết Hoa Kỳ đặt quyền của cá nhân cao hơn những quyền khác trong đó có quyền của một số nhóm, chẳng hạn như quyền bình đẳng giữa các tôn giáo thì ở Việt Nam, Nhà nước bảo vệ quyền bình đẳng của mọi tôn giáo.

Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm bất cứ cá nhân, tổ chức nào xúc phạm tôn giáo. Thực tế cho thấy ở Hoa Kỳ sự xúc phạm tôn giáo, như đối với Hồi giáo chẳng hạn lại được hiểu là “quyền tự do của công dân”. Sự kiện bạo động gần đây ở các quốc gia Hồi giáo chống Mỹ do bộ phim “Phiên tòa xét xử Mohammad” – bộ phim báng bổ đạo Hồi và nhà tiên tri Mô-ha-mét được sản xuất và lưu hành. Nhân quyền là giá trị cao quý, là tài sản chung của nhân loại mà mỗi quốc gia, dân tộc đều có quyền chia sẻ.

Tuy nhiên, ở Việt Nam cũng như các quốc gia khác đang tồn tại không ít vấn đề nhân quyền, như sự phân hóa giàu nghèo, tình trạng quan liêu, tham nhũng. Nhưng giải quyết những vấn đề đó thuộc quyền và trách nhiệm của mỗi quốc gia. Tôi thấy quan điểm của khối ASEAN về quyền con người là rất rõ, quyền của cá nhân gắn liền với nghĩa vụ và trách nhiệm của cá nhân đối với người khác, với cộng đồng và xã hội, quyền con người phải được bảo vệ bằng pháp luật và gắn liền với sự phát triển của thể chế chính trị. Ngày nay, mức độ bảo đảm quyền con người được xem là thước đo của một chế độ xã hội. Những nỗ lực của khối ASEAN trên lĩnh vực nhân quyền là không thể phủ nhận được.

Hoa Kỳ 14-12-2012
Amari TX

Advertisements
Categories: Nhân dân Việt Nam | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điều hướng bài viết

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: