Chúa Dê-su

Đạo Thiên Chúa chỉ là Đạo Thờ Bò cải biến

Nếu chúng ta bị một người nào đó chỉ vào mặt mà mắng rằng: “Mày là đồ ngu như bò!” thì chắc chắn chúng ta sẽ nổi giận phát điên lên và coi đó là một lời nhục mạ nặng nề xúc phạm đến danh dự của chúng ta. Nhưng cách đây trên 5000 năm, con vật bốn chân bị coi là ngu đần lại được người ta tôn thờ như một vị thần dũng mãnh hơn hết các vị thần. Người Babylon gọi nó là Il, người Do thái gọi là El. Người ta tin rằng thần El thường hiện hình thành một con bò đực nên vị thần này được gọi là Thần Bò El (The Bull El hoặc El the Bull).

Đạo thờ bò lan rộng ra khắp vùng Trung Đông, từ Babylon đến Canaan và Phoenicia. Hầu hết các sắc dân Do thái và Ả rập đều tôn thờ thần bò El từ khỏang 3000 năm trước Công nguyên cho đến thời Moses (1250 TCN) thì đạo thờ bò El biến thể. Chúng ta không thể ngờ được là tất cả các đạo thờ Thiên Chúa như đạo Do thái, đạo Ki tô (Công giáo, Anh giáo, Chính thống giáo, Tin Lành) và cả đạo Hồi đều là những biến thể của đạo thờ bò El. Đây là một sự thật lịch sử đã được chứng minh bởi các sử liệu giá trị và các kết quả nghiên cứu đầy công phu của ngành khảo cổ. Vấn đề này cũng đã được trình bày rất rõ ràng trong các bộ Tự điển Bách khoa (Encyclopedia) lừng danh thế giới.

Mặc dầu đạo thờ bò El đã phát sinh ở Babylon từ rất lâu đời, nhưng nó được chính thức du nhập vào dân tộc Do thái từ thời Abraham khỏang năm 2000 TCN. Điều đáng chú ý là Abraham và dân tộc Do thái coi El là vị thần duy nhất để tôn thờ, trong khi các dân tộc chung quanh tôn thờ thần El cùng với các vị thần khác như Baal, Anath, Ashtaroh, Ashera v.v… Chính vì yếu tố khác biệt quan trọng này mà Abraham đã được coi là ông tổ của các đạo độc thần (monotheistic religions). Do thái được coi là dân tộc được Chúa chọn vì nước này là quốc gia đầu tiên mang tên thần bò El (Isra-El)..

Để dẫn chứng một cách đầy đủ và khách quan về đạo thờ bò El và các diễn tiến biến thể (transformation) của nó, chúng tôi xin nêu lên những tài liệu chứng minh rút ra từ những bộ Tự điển Bách khoa hoặc những sách do các trường Đại học có uy tín bậc nhất thế giới xuất bản sau đây:

1. The Oxford Illustrated History of the Bible, edited by John Rogerson, Oxford Uuniversity press, xuất bản năm 2001, trang 7:

Trong tài liệu cổ sử Ai cập, được viết dưới triều đại Pharaoh Merneptah (1222-1214 TCN) có nói đến nước Do thái dưới quốc hiệu ISRAEL. Sử liệu này giải thích ISRA là cai trị (to rule), El là thần bó El. Do đó, ISRAEL có nghĩa là một quốc gia được cai trị bởi thần bò El.

2. Theological Dictionary of the Bible (Tự điển Thần học về Thánh Kinh), edited by Walter A. Edwell, Baker Book xuất bản, trang 289-299:

Người Do thái thờ thần bò El từ lâu đời, cho nên El có nghĩa là “Thiên Chúa của Do thái” (El is God of Israel) hoặc “Thiên Chúa của Abraham”. Ngôn ngữ Hebrew gọi Thiên Chúa El bằng nhiều danh từ: El, Eloah, Elim, Elohim. Vì họ tin Thiên Chúa El thường hay xuất hiện ở các núi đá (Rock mountains) tiếng Hebrew là Shaddai, nên họ cũng gọi Thiên Chúa El là El-Shaddai. Các danh từ để gọi Thiên Chúa El nói trên đã được nhắc đi nhắc lại tới 2.250 lần trong các bộ sách Kinh Thánh của đạo Do thái. Riêng trong các bài Thánh Vịnh (Psalms) của David, tên của Thiên Chúa El đã được nhắc tới 238 lần! [Ghi chú: David sau Maisen 300 năm.]

3. The Illustrated Guide to the Bible, by J. R. Porter, Oxford University Press 1995, trang 45: Trước khi đặt tên nước là Do thái là Israel, Jacob (cháu nội của Abraham) đã đến thị trấn Luz của xứ Canaan. Tại đây, Jacob nằm mơ được thiên thần cho một cái thang. Jacob đã leo thang lên tới thiên đàng và được gặp Thiên Chúa El mặt đối mặt. Khi tỉnh dậy, Jacob đã đổi tên thị trấn Luz thành Beth-El, có nghĩa là “Nhà của Chúa” (House of El). Câu chuyện về giấc mơ của Jacob được kể lại trong Cựu ước (Genesis 28:12).

Do thái không phải là nước duy nhất thờ thần El. Hầu hết các giống dân quanh vùng Canaan đều thờ thần El và rất nhiều thần khác.Tuy nhiên họ quan niệm đồng nhất với nhau ở chỗ tất cả đều coi thần El là vị thần cao nhất (The Highest God) và là cha của các thần (father of all gods). Abraham và dân tộc Do thái thời đó chưa có quan niệm Thiên Chúa là Duy nhất (Unity God) như quan niệm củ đạo Do thái sau này mà chỉ có quan niệm đơn giản: Thiên Chúa là vị thần mạnh nhất mà thôi.

Nơi trang 65, tác giả cho biết người Do thái đã thờ thần El dưới hình tượng của một con bò vàng (the golden calf) khởi đầu từ thời Abrahm, Jacob cho đổi đời Mai-sen. Chính anh ruột của Mai-sen là Aaron đã điều động dân chúng gom góp nữ trang, nấu chảy đúc thành một con bò vàng để tôn thờ vào khỏang năm 1250 TCN (Exodus 32-33).

Aaron và tuyệt đại đa số dân Do thái thời đó đều tin tưởng thần bò El chính là đấng Thiên Chúa đã cứu dân Do thái thóat vòng nô lệ của Ai cập. Sách Cựu ước Exodus (32:4) thuật lại lời tuyên bố của Araon trước bàn thờ tuợng bò vàng như sau: “Hỡi dân Israel, đây là Thiên Chúa của các người, đây chính là đấng đã đưa các người ra khỏi đất Ai cập”.

Trong lịch sử đạo Do thái, Mai-sen (Moses) là cái mộc chia đạo Do thái thành hai thời kỳ:

– Thời kỳ đầu từ Abraham (2000 TCN) đến Mai-sen (1250 TCN) kéo dài 750, đạo Do thái được gọi là Đạo Cũ, hoặc đạo Do thái trước-Mai-sen (The pre-mosaic Judaism). Trong thời kỳ này, người Do thái gọi Thiên Chúa là El, Eloha hoặc Elohim và tôn thờ Ngài qua hình tượng con bò vàng.

– Từ thời Mai-sen (1250 TCN) đến nay, đạo Do thái được gọi là Đạo Mới hoặc đạo Do thái Mai-sen (Mosaic Judaism). Sự đổi mới quan trọng nhất của Mai-sen là công bố “Mười Điều Răn”, trong đó chủ yếu nhắm vào hai điểm: cấm thờ ảnh tượng bò vàng và cấm gọi tên Thiên Chúa là El, Eloa hoặc Elohim. Mai-sen bắt dân chúng phải gọi Thiên Chúa là Jehovah, có nghĩa là “Thiên Chúa của các tổ phụ” (God of fathers: Abraham, Isaac, Jacob). Mặc dầu Mai-sen rất tàn bạo và đã giết nhiều người bất tuân lệnh của y trong việc cải cách tôn giáo này, nhưng ngay trong sách Cựu ước cũng cho thấy tới 3 thế kỷ sau khi Mai-sen chết dân Do thái vẫn tiếp tục thờ Thiên Chúa El với tượng bò vàng:

– Các bài Thánh vịnh của David vẫn gọi Thiên Chúa là Elohim.

– Các vua David, Solomon (thế kỷ 10 TCN) vẫn dùng tượng con bò làm biểu tượng cho Thiên Chúa Jehovah (1 King 12:28 = Bull represents Jehovah).

– Vua Jeroboam I (thế kỷ 9 TCN) là cháu nội của David lấp nhiều đền thờ Thiên Chúa El với tượng bò vàng từ thành phố Bethel đến thành phố Dan.

4. The New Encyclopedia Britannica (15 edition, Volume 4, trang 411)

Bộ Tự điển Bách khoa Britannica đã nối tiếng khắp thế giới từ lâu đời. Tự điển này đã dịch danh từ El như sau: “El là Thiên Chúa của giống dân Semetic (tức các chủng tộc Ả rập – Do thái) còn gọi là Con Bò Thần El, được coi là cha của các vị thần khác, ngoại trừ thần Baal. Các tác giả viết Kinh thánh Cựu ước đã dùng danh từ El vừa để gọi chung các thần thánh vừa như một danh từ đồng nghĩa với Jehovah”.

Điều khẳng định trên cho ta thấy Thiên Chúa Jehovah (Yahweh) mà Jesus gọi là “Cha ta ở trên trời” chính là Con Bò El (El the Bull = sysnonym for Jehovah!). Các sách Kinh thánh Tân ước xưng tụng Jesus là “con một của Đức Chúa Trời” (the only son of God) thực chất là con một của Thần Bò El.

5.New Larousse Encyclopedia of Mythology (Tân Tự điển Bách khoa Larousse và Huyền thoại, nguyên bản tiếng Pháp, bản dịch Anh ngữ do Premethus Press xuất bản, in lần thứ tư 1971, các trang 74-80):

Theo các bản văn viết bằng chữ cuneiform của xứ Babylon thuộc niên đại 1400 TCN trên những tấm đất sét phơi khô (hiện lưu trữ tại Bảo tàng viện Louvre ở Paris) thì thần El được tôn thờ bởi các sắc dân Canaanites và Semites. El cũng được coi là vua của các dòng sông (king of rivers) là thần mặt trời (the Sun God) và cũng là Thiên Chúa Tối cao (the Supreme God).

Các giống dân Canaanites và Semites thờ thần El dưới tượng của một con bò đực. Đối với họ, con bò đực là biểu tượng của sức mạnh . Cũng vì vậy, mỗi khi nói đến thần El họ thường gọi Ngài là Bò Thần El (Bull-El).

6. The Encyclopedia of Middle Eastern Mythology and Religion (Bách khoa Tự điển về Huyền thoại và Tôn giáo vùng Trung Đông, của Jan Knappert, element 1993). Tác giả là một người Ả rập rất rành về các ngôn ngữ Ả rập, trong đó có ngôn ngữ Sumerian là ngôn ngữ chính của xứ Babylon vào thời cổ xưa cách đây nhiều ngàn năm.

Theo sự nghiên cứu của tác giả, tên của xứ Babylon cũng do tên của thần El mà ra. El là danh từ theo tiếng Hebrew. Người Ả rập gọi El là Il. Khi đổi ra số nhiều Il thành Ilun. Người xứ Babylon rất tự hào về đất nước của họ và họ tự coi đất nước của họ là “cái cổng của Thiên Chúa”. Theo ngôn ngữ Sumerian thì “Bab” là cổng và “Ilun” là Thiên Chúa. Ghép hai chữ này lại sẽ thành “Babilun”, về sau người ta đọc trại đi thành Babylon. Như vậy, chữ Babylon có nghĩa là “cái cổng của nhà Chúa” (Gate of God).

Tại các thành phố thuộc xứ Babylon người ta thường làm lễ tế thần El với những lời ca tụng ngài là “Thiên Chúa hiện thân thành Con Bò” (The Bull-God). Theo niềm tin của người Babylon, thần El là vị chủ tọa các hội đồng thần thánh ở trên trời, là đấng tạo hóa đã sinh ra vũ trụ vạn vật và là đấng đã tạo dựng nên con người.

7. Near Eastern Mythology (Huyền thọai vùng Cận Đông, tác giả John Bray, nxb Peter Bedrick Book NY 1985, các trang 68-69):

El là vị thần chính yếu được tôn thờ tại vùng Lưỡng Hà Châu. Theo các huyền thoại của vùng Canaan (giữa sông Jordan và Địa Trung Hải) thì thần El là một con bò đực (Bull) có sức mạnh vô song và sức sáng tạo vô bờ bến. Vì vậy, thần El là “đấng Tạo hóa của mọi vật thụ tạo” (Creator of all created things).

Như trên đã trình bày là Mai-sen ra lệnh cấm thờ thần El vào năm 1250 TCN nhưng đến thế kỷ 10 và 9 TCN, các vua và dân Do thái vẫn tiếp tục thờ thần El với hình tượng bò vàng (1 King 12:28).

Trong cuốn sách này, tác giả cung cấp cho chúng ta thêm một chi tiết là đến thế kỷ 6 TCN, tức 700 năm sau khi Mai-sen ra lệnh cấm gọi tên thần El, vị tiên tri rất nổi tiếng của Do thái là Ezekiel đã cầu nguyện Thiên Chúa bằng tên El. Lời cầu nguyện như sau:

“Lời của Ngài, ôi Thiên Chúa El, là khôn ngoan. Ngài là đấng khôn ngoan muôn đời”

(Thy word, oh El, is wise
Thou art eternally wise, Ezekiel 28:2-10)

Những điều ghi chép rành rành trong các sách Genesis, Exodus, Kings và Ezekiel (trong bộ Thánh kinh Cựu ước) đã chứng tỏ rằng: Dù trước Mai-sen (từ 2000-1250 TCN) hay sau Mai-sen (từ 1250 TCN đến Ezekiel thuộc thế kỷ 6 TCN) đạo Do thái vẫn giữ nguyên bản chất của đạo thờ bò El với hình tượng bò vàng.

8. New Catholic Encyclopedia (Tân Tự điển Bách khoa Công giáo la mã). Đây là bộ tự điển bách khoa vĩ đại gồm 17 tập, ấn bản mới nhất in năm 1981. Thần bò El được trình bày rõ ràng nơi trang 136 của tập 5 như sau: “El là danh hiệu lâu đời nhất để gọi Thiên Chúa. Sách Sáng Thế ký (sách đầu tiên trong bộ Kinh thánh Cựu ước) 28:10-22, 33:20, 49:25 đã đồng nhất hóa El với Elohin và Yaweh (Jehovah). Ý nghĩa chữ El (theo tiếng Hebrew) cũng đồng nghĩa với chữ Ilu theo ngôn ngữ cổ ở Babylon là Akkadian. Tất cả đều do căn ngữ Semistic “Yl”, có nghĩa là “hùng mạnh”. Trong các đền thờ của người Phoenicians, thần El được tôn thờ như Thiên Chúa Tối cao, Đấng sinh ra các vị thần và là Chúa của thiên đàng” (xem tập 5, trang 136)

9. A Muslim Primer, tác giả Ira Jeff là một học giả Ả rập Hồi giáo, sách này do Thư viện Quốc hội Mỹ xuất bản, in lần thứ hai năm 1992.

Theo tác giả, cả ba tôn giáo Do thái, Ki tô và Hồi đều có chung một ông tổ là Abraham và đều có chung nguồn gốc về tên gọi Thiên Chúa (sách đã dẫn, trang 31-32).

Tác giả đã dùng Từ Nguyên học (Etymology) và Ngôn ngữ học (Linguistics) để chứng minh rằng: Dù cho tên gọi Thiên Chúa của các đạo độc thần bề ngoài khác nhau: Elohim, Jehovah, Allah nhưng tất cả đều bắt nguồn từ thần EL mà ra.

Các âm I trong tiếng Ả rập biến thành âm E trong tiếng Hebrew (Do thái).

Thí dụ: Ismail = Ismael (Hebrew, con của Abraham); Gabril = Gabriel (thiên thần truyền tin); Mikail = Michael (tổng lãnh thiên thần); Il = El (Bò thần).

Trong ngôn ngữ Arabic, người ta không gọi Thiên Chúa IL (tức El) một cách trống không mà thường thêm mạo tự ‘ah’ ở sau danh từ Il. Do đó, tên của Thiên Chúa Il trở thành Illah (Il + article ‘ah’).

Về ngôn ngữ học, các âm I trong tiếng Arabic khi chuyển sang tiếng Anh hoặc Pháp đều đổi thành A. Thí dụ tên của ông tổ các đạo độc thần trong ngôn ngữ Arabic là Ibrahim, khi chuyển sang tiếng Anh hay Pháp đã trở thành Abraham. Do những biến chuyển của ngôn ngữ, thần bò Il của babylon đã thành Thiên Chúa Elohim và Jehovah của đạo Do thái, tức Chúa Cha của đạo Ki tô. Cũng do biến chuyển của ngôn ngữ, thần bò Il thành Illah trong tiếng Arabic và Allah trong ngôn ngữ Tây phương.

Tác giả viết: “Tên gọi Thiên Chúa là Allah có căn ngữ theo từ-nguyên-học bắt nguồn từ Babylon. Chính cái căn ngữ này đã nối kết cả ba tôn giáo Do thái, Ki tô và Hồi. Căn cứ Il của Babylon đã trở thành El / Elohim trong tiếng Hebrew. Những người Ki tô giáo đầu tiên đã gọi Jesus là Emmanu-El có nghĩa là “Thiên Chúa El ở cùng chúng ta”. El trong tiếng Arabic luôn đi theo với mạo tự “ah” trở thành Il-ah và cuối cùng khi chuyển sang Anh ngữ đã trở thành ALLAH!”.

(sách đã dẫn, trang 32)

10. Islam của tiến sĩ Ceasar Farrah, giáo sư môn Hồi giáo học tại Đại học Minnesota. Tác phẩm được tái bản lần thứ 6 trong năm 2000. Tác giả là người Ả rập Hồi giáo. Điều đặc biệt tác giả nhấn mạnh trong tác phẩm của ông là bác bỏ quan niệm sai lầm cho rằng Hồi giáo Ả rập đã vay mượn ý niệm về Thiên Chúa của Do thái giáo và Ki tô giáo (Islam, trang 28).

Tác giả chứng minh ngược lại là chính Do thái giáo và Ki tô giáo đã vay mượn ý niệm về Thiên Chúa do sự biến thể của “Allah” là El (Il) Thiên Chúa của đa thần giáo Ả rập. Tác giả viết: “Il-ah hoặc Allah là Thiên Chúa tối cao của bán đảo Ả rập Đa thần giáo. Đối với những người Babylon thì Ngài là Il và sau đó Ngài được biết đến bởi người Do thái với tên của Ngài là El. Những người ở miền Nam bán đảo Ả rập tôn thờ Ngài dưới danh hiệu Illah và người Bedouins lại gọi ngài là Allah. Quan niệm Thiên Chúa của Do thái giáo và Ki tô giáo đã phát sinh từ sự biến dạng của Allah (Il / El) tức Thiên Chúa của tất cả các đạo Độc thần. (Islam, trang 28)

Muhammad và các tín đồ Hồi giáo chấp nhận danh từ Allah để gọi Thiên Chúa, mặc dầu danh từ này là biến thể của tên gọi Bò Thần El, nhưng người Hồi giáo không bao giờ nghĩ rằng Thiên Chúa đã hiện thân thành một con bò đực. Trái lại, lịch sử và các sách Thánh kinh Cựu ước đã chứng tỏ Do thái đã thờ Thiên Chúa dưới hình tượng một con bò bằng vàng từ thời Abraham (2000 TCN) cho đến thời các vua David, Solomon (thế kỷ 10 TCN) và vua Jeroboam I (thế kỷ 9 TCN). Cũng có thể đạo thờ bò El đã kéo dài đến đời tiên tri Ezekiel vào thế kỷ 6 TCN. Như vậy, đạo thờ bò El đã tồn tại ở Do thái trong một thời gian rất dài, từ 1000 đến 1400 năm!

Đây chính là lý do khiến cho Muhammad đã chê trách dân tộc Do thái trong kinh Koran như sau: “Những tín đồ của các sách Kinh thánh – tức dân Do thái – đòi hỏi anh phải đưa cho họ một cuốn sách mang từ trên trời xuống, nhưng rồi họ đã tôn thờ con bò vàng thay vì thờ Thiên Chúa.” (Kinh Koran 4:153)

Lịch sử Do thái ghi nhận: Trong Vương quốc Judah là một vương quốc bao gồm lãnh thổ Do thái và những vùng khác từ Biển Chết đến Địa Trung hải (931-586 TCN) rất thịnh hành đạo thờ thần Molech. Đây là một biến thể của đạo thờ bò vì tượng thần có thân hình người nhưng đầu của vị thần là đầu bò. Mỗi khi tế lễ thần Molech, nhưng vật hy sinh để dâng lễ luôn luôn là những đứa bé sơ sinh vô tội. Đứa bé được đặt vào hai bàn tay của thần bằng kim loại đã được đun nóng từ bên trong. Đứa bé và cha mẹ nó la thét thảm thiết nhưng tất cả đều bị át đi bởi những tiếng kèn, trống và phèn la khua lên inh ỏi.

Sau khi thịt của đứa bé đã bị nướng chín trên hai bàn tay của thần (thực chất là hai cái chảo bằng kim loại) các tu sĩ và giáo dân chia nhau ăn thịt người giống như các tu sĩ và tín đồ Công giáo ăn bánh thánh ở nhà thờ ngày nay.

Như chúng ta đã biết, bó thần El chính là Thiên Chúa Elohim hoặc Jehovah của đạo Do thái. Jesus luôn luôn gọi Thiên Chúa Jehovah của đạo Do thái là CHA. Jesus dạy các môn đệ đọc kinh cầu nguyện Jehovah bằng kinh “Lạy Cha”.

Trước khi chết trên thập giá, Jesus đã than trách jehovah: “Cha ơi, sao cha bỏ con!”. Chính vì Jesus xác nhận jehovah là Cha nên con bò đực El đã trở thành Đức Chúa Cha của đạo Ki tô (bao gồm Công giáo, Anh giáo, Chính thống giáo và các giáo phái Tin lành). Mặc dầu các đạo thờ Chúa đều là những biến dạng của đạo thờ bò, nhưng Công giáo La mã đã thừa kế nhiều nhất những quan niệm và nghi lễ dã man của đạo này. Vì vậy, Công giáo La mã rất xứng đáng được tuyên xưng là “Đạo Thờ Bò Cải Biến” tiêu biểu trong thời đại hiện nay.

Chúng ta hãy xét một số đặc điểm của đạo thờ bò El đã được tiếp nối bởi đạo Công giáo La mã dưới những hình thức sau đây:

1. Quan niệm Thiên Chúa là giống đực:

Đạo thờ bò El phát sinh từ nên văn hóa du mục của giống người Semites, bao gồm Do thái và các bộ tộc Ả rập. Từ nhiều ngàn năm trước cho đến ngày nay, phần đông giống người Semites sinh sống bằng nghề du mục. Nghề này đòi hỏi con người phải có sức khỏe và lòng can đảm mới đủ sức chống chọi với thời tiết khắc nghiệt ở sa mạc và đủ loại thú dữ để bảo vệ đàn gia súc của mình. Do đó, chỉ có những thanh niên khỏe mạnh và dũng cảm mới có thể đảm nhiệm công việc. Hình ảnh con bò đực (bull) đã được dân du mục chọn lựa làm biểu tượng cho sức mạnh của nam giới. Về sau, mỗi khi nghĩ đến Thiên Chúa, họ cũng hình dung Thiên Chúa là một vị đàn ông, chỉ khác một điều Ngài là một “Đấng đàn ông Toàn năng” (the Male Almighty). Vì vậy, trong các sách Kinh thánh Cựu ước cũng như Tân ước, mỗi khi nói đến Thiên Chúa, các tác giả Thánh kinh đều xử dụng các từ ngữ giống đực (grammatically masculin) như : He, His, Him …. kế thừa tinh thần tôn trọng giống Đực của nền văn hóa du mục Ả rập, con bò El đã biến thành Đức Chúa Cha của đạo Ki tô. Người Ki tô giáo chỉ nói tới Đức Chúa Cha (Father God) chứ không bao giờ nói tới một vị Thiên Chúa nào được gọi là “Đức Chúa Mẹ”.

2. Quan niệm Thiên Chúa dạy dỗ loài người bằng lời nói:

Người du mục Semites, quan niệm thần El thường dạy dỗ loài người bằng cách hiện ra trên núi đá, trong bụi rậm hoặc trong đống lửa và từ đó ngài phán điều này điều nọ để dạy dỗ loài người. Những cuốn sách đầu tiên của bộ Thánh kinh Cựu ước là những sách ghi chép những lởi nói được gán cho là của thần El, tức Thiên Chúa Elohim. Những cuốn sách được viết sau đó đổi tên Thiên Chúa Elohim thành Jehovah; nhưng dù Thiên Chúa mang tên gì chăng nữa thì tất cả những điều được viết trong Thánh kinh cũng đều được coi là “những lời của Chúa” (Words of God). Khi đã tin những điều trong Kinh thánh lời “lời Chúa”, hầu hết các tín đồ đều cúi đầu vâng phục tin theo mà không cần phân biệt phái trái đúng sai. Đó là niềm tin mù quáng không cần lý trí. Trong thực tế, tất cả các sách Cựu ước hoặc Tân ước đều là sản phẩm của con người. Tất cả những điều được viết trong đó đều là “lời của người” (words of man). Chẳng có một lời nào là lời của Chúa thật mà chỉ là những lời người gán cho Chúa mà thôi. Bọn tu sĩ lưu manh đã xử dụng “Lời Chúa” giả tạo để biến nó thành một sức mạnh thần bí nhằm buộc tập thể tín đồ phải thực hiện những ý đồ đen tối của chúng. Mặt khác, bọn tu sĩ lưu manh cho rằng Kinh thánh của chúng là Lời Chúa, lời của Đấng Tối Cao, cho nên Kinh thánh là chân lý tuyệt đối, bất di bất dịch. Ai chống lại Kinh thánh của chúng đều bị chúng gán cho tội “rối đạo”, “dị giáo” (heretics) để có cớ đưa người đó lên dàn hỏa! Trong thời Trung cổ, ít nhất đã có 10 triệu người bị thiêu sống ở Âu châu vì đã dám cãi lại “Lời Chúa” của Công giáo La mã!

3. Quan niệm Thiên Chúa khát máu như ma-cà-rồng (Catholic = Vampiric God)

Trong mỗi xã hội, phương cách thờ cúng luôn luôn phản ảnh những nét đặc thù của nền văn hóa thuộc về xã hội đó. Chẳng hạn, như xã hội Việt Nam ta từ xưa đến nay vốn chủ yếu sinh sống bằng nghề trồng lúa và hoa màu, khi thờ cúng tổ tiên hoặc Thần, Phật, người Việt thường dâng lên bàn thờ những sản phẩm nông nghiệp như hoa, nhang, trái cây, oản xôi hay các thứ bánh làm bằng lúa gạo…. Trong lịch sử Việt Nam, chúng ta chưa bao giờ nghe nói đến những thói tục dã man giết người để tế thần như đã xảy ra trong nhiều ngàn năm tại các xứ Trung Đông. Điều đó chứng tỏ hùng hồn rằng: Nền văn hóa nông nghiệp lâu đời của dân tộc Việt Nam rất phù hợp với tính hiếu sinh của đạo Phật. Cả hai yếu tố này đã un đúc nên bản chất nhân ái và hiếu hòa của dân tộc Việt Nam. Nói cách khác, tinh thần nhân ái hiếu hòa là dân tộc tính của người Việt chúng ta.

Trái lại, từ nhiều ngàn năm qua, các dân tộc Do thái – Ả rập chủ yếu sinh sống bằng nghề du mục. Họ nuôi đủ loại súc vật với mục đích để ăn thịt, giết sinh vật là công việc hằng ngày của họ. Họ trở thành những gnười quá quen thuộc với sự đổ máu và không còn cảm thấy xót thương trước sự đau đớn cùng cực của các sinh vật bị giết. Thiên Chúa hoặc các vị thần linh của giống người Do thái – Ả rập luôn luôn phản ảnh cái tâm linh hiếu sát của chính họ. Phương cách thờ cúng của người Semites phản ảnh nếp sống văn hóa du mục của họ. Từ nhiều ngàn năm trước Công nguyên cho đến ngày nay, mọi nghi lễ thờ cúng Thiên Chúa luôn luôn phải có máu. Điều đó đủ chứng tỏ đạo Chúa là một thứ văn hóa phi nhân bản. Do ảnh hưởng của nền văn hóa du mục và các giáo điều cuồng tín của đạo Chúa (thực chất là đạo thờ bò cải biến), các tín đồ Công giáo dần dần bị tiêm nhiễm tính hiếu sát, hiếu thắng, xa rời dân tộc và rất dễ dàng phạm tội phản bội tổ quốc. Vì một khi đã đánh mất dân tộc tính, người Công giáo đã mất đi chất keo gắn bó với dân tộc. Bản tính hiếu sát và khát máu của Thiên Chúa Jehovah (tức Đức Chúa Cha của đạo Ki tô) đã được xác định trong nhiều sách của bộ Kinh thánh Cựu ước và Tân ước:

– Levitica 17:11 (Cựu ước) và Hebrew 9:22 (Tân ước) đều ghi: “Sự đổ máu là điều bắt buộc để được tha tội” (Shedding of blood is required to be forgiven of sins).

– Từ thời Abraham, qua thời Moses cho đến nhiều thế kỷ về sau, người Do thái luôn luôn tế lễ Thiên Chúa Jehovah bằng máu sinh vật. Việc giết sinh vật để thờ Chúa là điều bắt bắt buộc trong luật Torah của Moses. Sinh vật bị giết để lấy máu rưới lên bàn thờ, thịt của chúng bị đốt để tạo “mùi hương dịu dàng dâng lên Thiên Chúa” (Sweet scent to God – Exodus 29:18, Leviticus 1:9).

Theo “Tự điển về Kinh thánh” (Bible Dictionary của tập thể 193 tác giả thuộc mọi tôn giáo, nhà Harper Collins xuất bản lần đầu 1946, tái bản 1971, trang 694) : Dân Do thái thờ thần Molech đầu bò trong những năm từ 735 đến 575 TCN. Mỗi khi làm lễ tế thần ở thung lũng Hinnon thuộc ngoại ô Jerusalem họ luôn luôn giết trẻ con rồi xe thịt đem nướng chín để làm món ăn tế thần. Tục lệ tế thần bằng thịt con nít được mô tả trong nhiều sách Kinh thánh Cựu ước như Deut. 12:31, Kings 16:3, Jer. 7:31, Ezek. 16:21 và Chron. 28:8.

Thần El cũng như thần Molech đều là những vị thần có hình tượng đầu bò và đều là những vị thần khát máu. Thiên Chúa Jehovah, tức Chúa Cha của đạo Công giáo, là hậu thân của các ác thần nói trên nên Thiên Chúa Cha cũng giữ nguyên cái bản chất khát máu như vậy.

Người Công giáo thường đọc kinh ca ngợi Jesus là Con của Thiên Chúa (Son of God) và ca ngợi Jesus là đấng lòng lành vô cùng (Merciful God) nhưng thực ra Jehovah chẳng bao giờ coi Jesus là Con mà chỉ coi Jesus như một thứ ‘súc vật’ bị giết để làm một món barbecue mà thôi. Chính người Công giáo đã vô tình thừa nhận điều này trong lời kinh cầu nguyện của họ. Trong các lễ Misa, các tín đồ Công giáo thường đọc câu kinh bề ngoài có vẻ ca tụng Jesus nhưng thực ra là hạ nhục ông ta : “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian…”. Hiển nhiên một điều là Jesus tuyệt đối không có khả năng xóa tội cho bất cứ một ai trên đời này, nhưng câu kinh đó đã xác nhận Jesus chỉ là một thứ ‘súc vật’ để tế thần. Dù là một con chiên thường hay là “Chiên Thiên Chúa” (Lamb of God) thì cũng chỉ là Con của Chúa Cha Jehovah thì Chúa Cha là một thứ ma-cà-rồng hoặc một thứ ác quỉ. Nếu Jehovah không phải là một thứ ác quỉ hay ma-cà-rồng thì tại sao nó lại ăn thịt con trai nó là Jesus?

4. Nghi lễ tại các nhà thờ Công giáo là nghi lễ của những bộ lạc ăn thịt người.

Tôi đã trình bày vấn đề này dưới tiêu đề “Nguồn gốc huyền thoại Ki tô” (Chương Một, phần II trong Công giáo – huyền thoại và tội ác, GĐ xuất bản Hè 2001). Do đó, tôi chỉ xin trình bày lại rất vắn tắt ở đây mà thôi.

Một trong những cuốn sách nghiên cứu dầy công về đạo Công giáo là cuốn Babylon Mystery Religion của Hội nghiên cứu Thánh kinh Raph Woodrow ỏ California. Hội này đã cho xuất bản và phát hành tới 600.000 bản in sách nói trên. Trọn chương 7, từ trang 115 đến 126, tác giả chứng minh nghi lễ của đạo Công giáo hầu như đã bắt chước trọn vẹn những nghi lễ của các đạo thờ bò của xứ Babylon thuở xưa. Một trong những nghi lễ dã man nhất là tế thần bằng các trinh nữ hoặc các bé trai đầu lòng. Các nạn nhân đều bị giết và bị nướng chín (burnt offerings) để dâng lễ tế thần rồi sau đó các tu sĩ và tín đồ chia nhau ăn thịt nạn nhân.

Trong nghi lễ ở nhà thờ Công giáo, các linh mục và giáo dân chia nhau ăn bánh thánh và uống rượu nho mà họ tin rằng đó là thịt thật và máu thật của Jesus. Dù chỉ là ăn thịt uống máu người tưởng tượng một cách ngây ngô ngớ ngẩn như vậy nhưng những hành vi ấy cũng đủ cho ta thấy tâm hồn của những gnười Công giáo là tâm hồn của những kẻ bán khai, vì chỉ những kẻ bán khai mọi rợ mới ham thích ăn thịt uống máu người như vậy mà thôi.

Cái gọi là “Phép Bí-tích Mình Thánh Chúa” là một dấu ấn đậm nét chứng tỏ Công giáo là một thứ đạo thờ thần bò Molech trong thời hiện đại.

Tấp thể giáo dân Công giáo chẳng khác gì một bộ lạc của giống mọi ăn thịt người sống lạc lõng trong xã hội văn minh của loài người chúng ta. Để giúp cho 7% đồng bào của chúng ta thoát khỏi vùng bóng tối tâm linh (spriritual darkness) chúng ta cần phải gia tăng công tác giáo dục. Một trong những điều quan trọng của sự giáo dục là cần phải vạch rõ cho họ thấy rằng: Công giáo không phải là một ôn giáo cao quí đáng hãnh diện, cũng chẳng phải là “Đạo Thánh của Đức Chúa Trời” như họ lầm tưởng, Công giáo chỉ là hậu thân của đạo thờ bò cải biến còn tồn tại trong thời đại hiện nay.

Bất cứ ai không đồng ý với những điều trên đây thì xin cứ việc thẳng thắn lên tiếng phản bác. Từ mấy năm qua đến nay tôi vẫn mong đợi sự lên tiếng của quí vị tu sĩ cao cấp trong Hội đồng Giám mục, các vị tiến sĩ thần học uyên bác và nhất là những vị trí thức Công giáo đã từng nổi tiếng sừng sỏ trong nhiều năm qua, nhưng tôi chỉ được đáp lại bằng sự im lặng khó hiểu. Tôi mong rằng qúi vị hãy cố gắng vận dụng trí não để sớm nhận ra sự thật và dù sự thật làm cho quí vị đau lòng chăng nữa thì quí vị hãy can đảm nhìn nhận nó, bởi vì không có tôn giáo nào có thể cao hơn sự thật.

Charlie Nguyễn

Advertisements
Categories: Chúa Dê-su | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Bản chất nô lệ của bọn Giáo hội Công giáo VN hay là đòi đất cho “Thằng” (1) Khâm sứ!

(“1” Trong “Phép Giảng Tám Ngày” thằng Alexandre de Rhodes gọi Đức Phật là thằng)

Tin trong nước cho biết bọn giáo hội Công Giáo VN, trước kia là Giặc Áo Đen bán nước cho Tây, nay vẫn còn là bọn tay sai, tôi đòi, con ở, bồi bếp của bọn Bạch Quỷ La Mã, đã xúi dục giáo dân đòi đất cho thằng khâm sứ La Mã.

Bọn Công Giáo La Mã VN, tay sai ngọai bang, nên biết đã từng phản quốc bán nước cho Tây, nên phạm tội phản quốc phải bị phạt tử hình và tài sản bị tịch thu hết, như ở miền Bắc trước 1975.

Còn trong Nam, tổng giám mục Phaolồ Bình đã dâng tài sản giáo hội cho nhà nước để phục vụ quốc dân, văn thư còn đó, không đòi lại được. Còn nếu nổi lọan, thì các sư đòan đánh thắng trận Điện Biên Phủ sẽ lại đánh thắng trận Điện Biên Phủ bán nước Công Giáo tay sai, nội tuyến, và vô tổ quốc, như linh mục Nguyễn Hữu Khai xác nhận trong sách Thập Ác và Lưỡi Gươm của lm Trần Tam Tỉnh. Khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, dù nó là nội tuyến, có đòan quân thứ 5 mấy triệu người. Nhớ rằng bọn thiểu số Công Giáo làm lọan cũng chỉ đến được hậu quả ô nhục là trở lại làm tay sai cho ngọai bang để được cầm quyền. Sách lược của ngọai bang là cho thiểu số nương dựa để lấy thiểu số tay sai ấy cai trị đa số. (Đọc Hồi Ký bác sĩ Văn Văn Của). Bởi vậy mang óc não theo Tây, thì Tây cũng lại vắt chanh bỏ vỏ, van xin quỳ lạy, gẫy xương sống, làm tôi cho nó, mà nó vẫn bắt hôn chân chùn chụt, không thấy nhục sao?

Bản chất của bọn chức sắc Công Giáo hèn mạt lắm, thư của gs Nguyễn Văn Trung cho biết, khi chúng sang triều cống linh hồn cho tòa thánh đã tranh nhau ngửi rắm tòa thánh và khen thơm rối rít. Nếu không còn tử đạo, có thể La Mã sẽ phong thánh ngửi rắm mà giáo hội VN giữ độc quyền. Cứ cho là có phản đối phá tượng Mẹ Sầu Bi, nhưng phá tượng thánh Công Giáo ngửi rắm không biết thái độ vâng lời chịu nhục của giáo dân ta thế nào? Còn Chúa định cho mũi chúng phải làm việc ấy để chúng tỏ lòng trung thành với nước Chúa La Mã, đành chỉ biết tạ ơn Chúa dùm chúng thôi!

Giáo hội ta, trước kia theo xúi dục của ngọai bang, nay hãy can đảm đứng thẳng lên làm người, để không còn chịu làm đầy tớ nữa. Đừng quên năm 1951 bọn khâm sứ và giám mục mũi lõ điếm đàng ra thư chung bắt giáo dân không được chống Pháp mà bọn gíam mục da vàng tay sai cũng ký tên trong thư ấy, đồng lõa với thằng khâm sứ, để làm bọn phản quốc không biết ngượng. (Thư chung này đã được phổ biến trên mạng lưới donguongthoibao.net). Hay sự ô nhục bọn linh mục ta phải hôn chân Tây, bài viết được in trong sách “Vì sao tôi bỏ giáo điều Công Giáo” (Comment j’ai donné congé aux dogmes) của linh mục giáo sư thần học Abbé J. Turmel, thuộc tổng giáo phận Rennes, Pháp-trang 345 và 346 ĐDTB phát hành Mùa Thu năm 2005).

Nhưng nhục nhã nhất là vụ bọn La Mã đạp vào mặt tổng giám mục Pierre Ngô Đình Thục, mà bọn giáo hội tay sai rất kiêu ngạo, mục hạ vô nhân coi rẻ giáo dân, chai đá, vô ơn không biết chúng sống được là nhờ tiền bạc giáo dân ban cho chúng hưởng thụ, cơm Đức Chúa Trời ngon, gái Đức Chúa Trời đẹp! Đúng ra phải là: Giáo dân vi quý, giáo hội thứ chi, Thiên Chúa vi khinh, vì Thiên Chúa nhảm nhí, khốn nạn quá hết giết con nít đến nỗi hèn mạt chia chác chiến lợi phẩm chiến tranh bằng đòi lấy nhiều gái trinh-Kinh Thánh). Vì Hồi Giáo cho rằng lòai người sinh ra Thiên Chúa là phạm thượng (Blasphemy), hay dân Âu Châu nói Giêsu sinh ra giữa khai và thối (entre pisse et merde). Có gì là vinh hiển đâu! Nhưng trước họa của gm Thục, bọn giáo hội VN đã câm miệng hến! Thật vậy, bọn chúng nên hỏi tại sao giáo hội dậy yêu thương kẻ thù như chính ta vậy, mà bọn đại mất dậy tại La Mã lại đạp vào mặt một giáo phẩm cao cấp của ta mà bọn đàn em trong giáo hội lại hèn nhát không một thằng nào dám có phản ứng bênh vực gì? Nếu bọn giáo hội không dám lên tiếng, yêu cầu báo đạo tôn trọng công lý và sự thật lên tiếng bênh vực ông Thục. Sao không thấy tấm gương bất khuất sáng ngời của các giám mục Nhật, khi các Ngài nói : “Chúng tôi không thèm làm chi nhánh cho Công Ty Đa Quốc Rôma!” Trong khi đó linh mục quèn người Đức Eugen Drewermann tuyên bố công khai Maria không đồng trinh và Giêsu không lên trời là đánh bật tung, tan tác gốc rễ của Công Giáo, thì bọn La Mã làm ngơ. Phải chăng vì hồng y sắt Pantzer Joseph Ratzinger, nay là giáo hòang Biển Đục XVI, cũng là người Đức, nên đã thiên vị làm ngơ bao che cho đồng hương? Tên giáo hòang này còn hủi hơn hết là từng ngạo mạn khoe Công giáo là thật, là đúng, là nhất, nhưng lẻn vào đền thờ Hồi Giáo cầu nguyện (ở Turkey) khi đọc kinh nó không dám làm dấu thánh giá. Cần gì phải chối Chúa ba lần, một lần bỏ dấu thánh giá là phản đạo rồi, có lẽ nó là phản giáo hòang (Anti-Pope) đấy.

Về vụ bầu cử của nó khi đã 78 tuổi là một sự việc rất ô nhục cho tòa thánh, vì nó phải tổ chức bầu như máy và nhanh như gió, bởi cái tuổi cận kề 80, còn ra ứng cử là làm trò hề! Nhưng cũng may, vì mặt trái là tham vọng chức giáo hòang, nhưng vẫn hơn là để Gioan Phaolồ II ngủ gà ngửi gật, nói líu lưỡi và ngồi trên ngai nghiêng ngả như đùa rỡn làm trò hề. Khốn nạn cho giáo dân ta, vì quen tôn kính chức sắc tu hành, song không phải là con đường một chiều. Giáo sĩ Pháp từng xác nhận thờ Chúa chứ không thờ giáo hòang, có thể chức sắc ta thấy thờ Chúa vô bổ, thờ giáo hòang mới được làm giám mục gia nô chăng?

Khi Gioan Phaolồ II ra lệnh cho nghỉ hưu các hồng y 75 tuổi, một hồng y người Ý nói : “Tao 75 tuổi không coi được một giáo phận, sao nó hơn 80 tuổi lại coi được một giáo hội?” Sự thật này giải thóat chúng ta, nhưng bọn báo đạo tránh né vì bản chất con ở, tôi đòi, con mọn, quỳ lạy van xin ngọai bang, nên chúng sợ đụng chạm. Chúng chỉ dám nói sự thật bợ đỡ nâng bi như triệt để tuân hành mọi giáo mệnh, như cấm thờ cúng tổ tiên, của hội thánh tầm gửi thế lực thực dân Tây! Để chúng được lên Thiên Đàng làm gia nô đời đời cho bọn bạch quỷ! Muốn nâng bi Giáo hội, cũng nên chọn lựa! Ai lại đi nâng bi gìa, bi teo có gì thích thú đâu, và làm như vậy không chắc được Giêsu cứu, vì Kinh Thánh và giáo luật có điều khỏan nào xác quyết nâng bi thánh mà được lên Thiên Đàng đâu! Tội nghiệp báo đạo và giáo dân cuồng tín ta, nâng bi chưa biết được gì, mà tay đã hôi khắm quá! Thum thủm mùi bi và chùi đít không sạch của chức … thánh!

Đọc bản tin giáo hòang Gioan Phaolồ II trên giường bệnh đau thanh quản, và khi xuất hiện ngủ gà ngủ gật, líu lưỡi, trông rất tục tĩu của một con bệnh ở tuổi chùi đít không sạch, mà bọn giáo đòan, và nhất là báo đạo gia nô Việt Nam đui mắt không nhìn ra: “Một thân thể bệnh tật trong một tinh thần bạc nhược suy xụp lão hóa!” Nhưng không một ai dám hỏi sự sáng suốt của nó để dám hỏi nó còn đủ khả năng lãnh đạo giáo hội không? Thằng Tây thực dân quá hay, nhồi nặn sao mà hết thời nô lệ rồi bọn giáo dân cuồng tín vẫn thích sống trong chuồng đạo, thế là không những phải làm những con chiên thôi, mà còn làm những con bò nữa! Do đó, phải biết tại sao linh mục DCCT Hồng Phúc viết một bài báo về Thánh Địa La Vang rằng sau khi quân phiến lọan (năm 1789) bị quân triều đình đuổi vào La Vang; Mẹ đã hiện ra dậy lấy lá công viên Mẹ đun sôi uống bệnh gì cũng khỏi. Vì vậy, khi thực dân Pháp đến biết phép lạ nấu lá Công Viên La Vang chữa bệnh gì cũng khỏi, chúng mang mẫu (sample) lá về Viện Pasteur Pháp phân chất thử nghiệm, quả thật bệnh gì cũng khỏi trừ bệnh NGU. Thực dân Pháp không chiếm đất La Vang nữa, để dân giáo Công Giáo lấy lá sắc thuốc, nhưng không chữa được bệnh ngu, nên từ giám mục xuống đến giáo dân đều cuồng tín ngu đạo, La Mã phán gì là răm rắp tuân theo. Thậm chí sang La Mã dù đã được miễn họa hôn chân, nhưng tinh thần nâng bi bợ đỡ chưa hết, mỗi khi xuất trào bọn đầu nậu La Mã phải che dấu chân, nếu không bọn an-nam thấy là tranh nhau hôn … gió liền! Thật là đạo con cái hiếu thảo quá lố, đến nỗi vì vậy, bọn chúng ngứa chân, phải gãi sồn sột, trông quá thảm.

Eugen Drewermann vì là người Đức nên không bị trừng phạt. Còn Pierre Ngô Đình Thục, da vàng, nên bị kỳ thị và trừng phạt. Cũng không trách được ông làm công cho bọn chúng, gặp thằng chủ La Mã khốn nạn ông đành chịu. Hay như Charlie Nguyễn gọi La Mã là bọn khuyển sinh, ông chơi với chó bị chó bạch quỷ liếm mặt thôi. Cũng như bọn báo chí đạo cuồng tín, chửi VC buôn xác MIA, trong khi chúng nó không thấy La Mã buôn một cái xác khô, chết treo, con cu lủng lẳng trên hai khúc củi (ngôn ngữ của cha già Augustinô Nguyễn Hữu Trọng), một cái xác mà thôi mà bọn chúng lời khẩm hơn hai ngàn năm qua. Không thấy sao, hay là Chúa nói đúng : ”Bay chỉ thấy hạt bụi trong mắt người khác, và không thấy khúc củi trong mắt bọn bay, stupid!

Đối với bọn xâm lấn La Mã và bọn ngu đạo ta, cần phải có nhiều cách hóa giải lần lượt sau :

Truyền bá và phiên dịch, ấn lóat rộng rãi mọi sách báo thông tin về sự thật và thủ đọan chính trị của bọn Công Giáo La Mã. Phá tan sự bí mật của sinh họat ngầm của Công Giáo, như những bao che cho bọn linh mục dâm dục, phơi cu (priests loosing pants) và giáo phận vô trách nhiệm hay trốn trách nhiệm, thuyên chuyển chúng đi các giáo xứ mới để chúng tiếp tục săn lùng thêm nạn nhân thỏa mãn lòng dục của chúng. Lúc có bang giao, chính quyền phải chu tòan bổn phận điều tra khi chấp nhận bất cứ tên khâm sứ nào của bọn La Mã chuyển sang. Phải thăm dò và tìm biết xem y có phải là một tên dâm tặc bị thuyên chuyển đi nhiều các giáo xứ mới không? Có phải vì đã bị thuyên chuyển qua quá nhiều giáo xứ rồi. Vì hết chỗ, nên đành phải thuyên chuyển nó sang VN ngồi trên đầu bọn gíao hội ta không? Cung cấp các tin về sinh họat gian manh của Công giáo lên mạng lưới tòan cầu, và đăng tin và hình những tu sĩ linh mục tà dâm như vụ cha cố Đa Minh Nguyễn Hữu Du. cho nữ giáo dân rất ngoan đạo thổi kèn dương cụ của cha ở xa lộ 45 North (Houston), hay linh mục bị giáo phận treo chén vì có kiện tụng của nạn nhân bị sách nhiễu tình dục! Cũng nên theo luật như của Mỹ là chỉ định cư trú cho bọn linh mục phạm pháp, để người dân, và nhất là trẻ em không phải làm nạn nhân khốn khổ của bọn chúng nữa.

Kiểm sóat tiền bạc chi thu của nhà thờ để giáo hội không quá giầu trở nên no cơm ấm cật dâm dật mọi nơi. Cũng tiện thể trả lời cho bọn chúng về vụ Đức Mẹ Sầu Bi, nghĩa là không hề bao giờ có Đức Mẹ như thế. Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Chúa Trời, và con chỉ chết giả ba ngày sao sầu bi được? Còn được lên trời ngự bên hữu Chúa Cha nữa, vinh quang như thế, Mẹ Sầu Bi cái quái gì? Có thể sầu bi, vì bọn cha cố dâm dục chọi gái ngay dưới chân tượng Mẹ, nên Mẹ mới Sầu Bi. Hay con Mẹ là Giêsu, đã bằng lòng chịu chết để chuộc tội thiên hạ, mà làm không xong, cứu chuộc không ra hồn, nên Mẹ mới Sầu Bị vì con Mẹ là con Thiên Chúa, mà đã làm hỏng chương trình cứu chuộc của Chúa Cha, thì Sầu Bi mới đúng chứ! Sai hết, chẳng có Sầu Bi, Sầu Beo gì hết, công Giáo lợi dụng tình mẹ để săn bắt giáo dân thôi. Lúc nhỏ thì bắt cóc dội nước, lúc lớn thì khai thác lòng mẹ, đúng như câu nói của Pháp :”L’asile le plus sure est le sein d’une mère!” – Nơi an trú chắc chắn nhất là lòng mẹ! – Có vậy thôi, nên La Mã nhất là Giáo Hội ta khai thác lòng mẹ tối đa để kiếm lợi thôi, chứ thật, nếu Mẹ còn phải Sầu Bi, như giáo hội rêu rao, thì còn đâu là lòng mẹ an tòan nhất nữa. Mẹ không yên, thì Mẹ an ủi giúp đỡ được ai? Nói thật là nếu Giêsu cứu chuộc không xong là lỗi của Giêsu, một gã thợ mộc mù chữ mà giáo hội ép làm việc quá sức, nên Mẹ việc gì phải Sầu Bi, và Sầu Bi được làm được gì?

Cũng như khi ông Frank Keating nói Công Giáo là Mafia (La Cosa Nostra), hay linh mục Giuse Nguyễn Thanh Sơn (C.S.Sr) gọi Gioan Phalồ II hay hồng y sắt Pantzer Joseph Ratzinger là ác quỷ (dracula), hay tố cáo các linh mục ta là đa số dâm dục, là các ông ấy đã chỉ nói sự thật giải thoát chúng ta thôi. Có ông nào chửi Chúa, phá đạo đâu. Các báo đạo cuồng tín thường dùng tố cáo đó để gây sợ hãi ngầm ý là phạm tội phá đạo hay chửi Chúa sẽ chạm nọc ngu đạo quồng tín, bị cuồng tín ngu đạo khủng bố. Hay có những hăm dọa như Chúa phạt, Chúa giết, Chúa vặn cổ (e-mail của bà Đ. Thuần về một đàn em của bà đã hăm dọa ĐDTB sẽ bị Chúa Giêsu “vặn cổ”). Thấy mà thương Chúa nhân từ, bọn chúng tha hồ biến Chúa thành tay sai của chúng, phải làm đao phủ giết người vv… Nhưng chúng sợ hãi không dám tố cáo hay đành quay đi làm như không biết về những sự thật dơ bẩn mà cha Giuse N.T. Sơn tố cáo bọn linh mục làm dơ bẩn giường trinh nữ, hay hãm hiếp lắp đít các em giúp lễ … Chơi bời tá lả, còn vứt bỏ thánh gía trên giừơng tội lỗi. Đó mới thật là chửi Chúa phá đạo chứ, còn ai đồi bại hơn bọn linh mục khi khấn hứa thanh sạch, nghèo khó lại vi phạm làm gương mù cho giáo dân, nhất là nữ con chiên ngoan đạo vượt chỉ tiêu, sẵn sàng vì Chúa mang vui cho cha, như thổi kèn dương cụ cho cha “thải mái” vv … và rước lễ tinh trùng thánh của cha!!!

Ngay cả bọn khóac lác “tôn trọng sự thật vì sự thật giải thóat chúng ta”, hay “nói thay cho những người không có tiếng nói”, chúng có dám nói ra sự thật La Mã coi chúng, hay giáo hội tay sai bản địa của chúng không bằng những con poodles hay không? Bởi nhân cách hèn hạ lúc nào cũng khúm núm sợ hãi bọn bạch quỷ La Mã nên chúng tuân hành triệt để các huấn lệnh của tổ tiên La Mã của chúng là “thà mất nước chẳng thà mất Chúa”, nên đã làm ngơ không dám phản ứng gì khi bị làm nhục phải bỏ thờ cúng ông bà tổ tiên để cùng nhau được về các thánh tổ Moise, Abraham và Jacob. Thật là tôi mọi da vàng chen chân đứng với bọn bạch quỷ mà nó vẫn coi như chó. Nhục quá! Chúng hẳn phải có da mặt bulletproof mới vui vẻ sung sướng ươn hèn chịu đựng như vậy được thôi!

Tóm lại thay vì đòi giáo sản, giáo hội và giáo dân nên học lại lịch sử xem giáo hội theo Tây đã cưỡng chiếm được bao đình Chùa ruộng đất của Phật giáo? Quan trọng nhất là đời sống tu hành thánh thiện, chứ không phải là đòi tài sản. Hãy xét tư cách của bọn linh mục dâm dục, lợi dụng áo tu thế nào mà thời miền Nam Cần Lao Công Giáo, dân chúng phải rùng mình mỉa mai:” Nhất đĩ nhì cha …” Nhưng bỉ ổi nhất là giáo hội và giáo quyền bao che, áp lực để dấu diếm, cho đến khi chính quyền Bush đưa ra tòa, các giáo phận phải đối chất, và phải bồi thường cho nạn nhân và tiền án phạt lên đến bạc tỷ. Khốn nạn ma mãnh là bọn giáo hội bao bọc, che dấu nên bọn linh mục tội gì không lợi dụng kẽ hở khổng lồ là ngay đến hồng y còn phải thề giữ bí mật những điều làm mất uy tín hội thánh. Như vậy ông Frank Keating gọi là Mafia có gì sai? Những giáo dân có đạo, là con chiên, là nạn nhân và chứng nhân, ở nước Mỹ quê hương của dân chủ tự do, giáo hội không còn đạo phiệt khủng bố hăm dọa được nữa. Ở miền Đất Hứa của tự do tôn giáo thật, không tự do tôn giáo như giáo hội Công Giáo ta làm áp lực chính quyền, như linh mục xụp lỗ (Thúy Kiều) Nguyễn Văn Lý … chính quyền không bảo vệ đất nước lại để cho bọn nội tuyến cắt sẻ đòi giáo sản, trước nguy cơ bị hủy diệt không gì hơn là phải có phản ứng quyết liệt. Những sư đòan đánh thắng trận ĐBP, sằn sàng chuẩn bị, ứng chiến đánh thắng một lần cho xong, đại thắng trận ĐBP Công Giao, để một lần giải phóng con chiên con bò bị tụi giáo hội lưu manh khai thác lợi dụng trong công tác bán nước cho La Mã, mà chúng lừa bịp giáo dân bằng về miền Đất Hứa, về nước Chúa, theo lệnh của bọn giáo hòang già nua cằn cỗi … chùi đít không sạch! Còn bên ngoài, truyền thông báo chí đều sống bằng quảng cáo chống Cộng đã về chiều, hay sợ hãi tránh né bạo lực Công Giáo cuồng tín. Một chủ báo khi có vụ tai tiếng các cha phơi cu, đã lên mặt báo là các đại diện địa phương ngăn cản không cho loan tin, để các cha được thảnh thơi hành lạc chăng? Nhưng cũng may chỉ có nhà báo sợ bạo quyền Công Giáo thôi. Các báo khác, nhất là báo Mỹ, và mạng lưới tòan cầu làm bổn phận truyền thông. Các cha dâm dục thì kệ bố các cha, đó cũng là một ưu điểm của báo chí Mỹ, và quốc tế, rất kính phục các cha chân tu, và không sợ hãi và coi các cha Viagra, Tề Tuyên là bọn cùi hủi dù chúng mang chức thánh! Bọn giáo hội ta, không nên hàm hồ làm việc xúi dục đòi đất mà lỗi phép công bằng khi nhờ Tây cưỡng chiếm đất đình Chùa Phật Giáo. Dù có báo chí truyền thông mạng lưới tòan cầu, song thành kiến, sợ hãi cả nể tránh né cho yên ổn của giáo dân ta vẫn chưa gột bỏ được ngay một sớm một chiều. Nên còn một thời gian khá dài để giáo hội làm nhà máy nước rửa tội. Cho đến khi nào như dân Công Giáo Âu Châu chán đạo, mửa ra Kinh Thánh, thì đạo ta vẫn còn cơ hội hưởng thụ cơm Đức Chúa Trời ngon, gái Đức Chúa Trời đẹp. Đừng nhẹ dạ đòi đất, không bao nhiêu mà mất ăn trong một thời gian tương đối lâu. Lúc giáo dân ta được khai thông mở mắt nhìn thấy nước ta cũng phải là miền Đất hứa của tự do tôn giáo và nhân phẩm của giáo dân được bảo vệ thì có cả trăm ngàn Trung Tâm Nhân Vị Vĩnh Long sống lại cũng quá trễ rồi!

Giuse Phạm Hữu Tạo
ĐDTB, ngày 12/1/07

Viết thêm: Các thượng tọa như Tâm Châu, Huyền Quang, Quảng Độ, Hộ Giác… Cũng ở tuổi trên 80 rồi. Trắng ra là cũng chùi đít không sạch! Không phải thượng tọa gíao chủ là đương nhiên có uy tín và cầm quyền sai bảo ra văn thư, giáo chỉ vv… Những ai lợi dụng các vị lão tăng này nên nhân từ để họ chân chánh tu hành, thay vì xúi họ làm chính trị, đối lập, mà cơ hội họ bị lợi dụng nhiều hơn là dịp may tinh tấn tu hành. Trân trọng cám ơn! ĐDTB.

nhandanvietnam.org

Categories: Chúa Dê-su | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Vatican có “hợp tác lành mạnh” ngoại giao với Việt Nam không?

VIÊN THUỐC ĐỘC BỌC ĐƯỜNG
“HỢP TÁC LÀNH MẠNH”
Trần Chung Ngọc

…Với một con người mà nhân cách thấp hèn và vô đạo đức như vậy, Việt Nam hi vọng gì ở một sự “hợp tác lành mạnh” với Vatican, và hợp tác để làm gì? Hợp tác để cho Vatican có cơ hội bành trướng trên mảnh đất của chúng ta hay sao? Bài học lịch sử cho thấy, bất cứ ở nơi nào mà Ca-tô Rô-ma Giáo nắm được quyền thế gian thì nơi đó không có tự do, dân chủ. Kinh nghiệm lịch sử của những chế độ Ca-tô trên thế giới: Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam, Franco ở Tây Ban Nha, Pavelic ở Croatia, Hitler ở Đức đã cho chúng ta thấy sự nguy hại của cuồng tín tôn giáo là như thế nào (TCN)

________________________________________

Theo một bản tin trên VietCatholic ngày 28 tháng 6, 2009, thì một lần nữa, Tòa Thánh (sic) Vatican lại ve vãn Việt Nam trong sách lược tầm ăn dâu: xin được tái lập mối liên hệ ngoại giao với Việt Nam với hứa hẹn “hợp tác lành mạnh”. Bản tin viết:

Ngày thứ Bảy 27 tháng 6 năm 2009 Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI tuyên bố với các vị Giám Mục Việt Nam rằng giữa Giáo Hội Công Giáo Roma và chính quyền Việt Nam có thể hợp tác cách lành mạnh (healthy collaboration) và Tòa Thánh đang tiến hành công tác tái lập mối liên lạc ngoại giao.

Điều này không lạ, vì Ca-tô Rô-maGiáo đang suy thoái trên khắp thế giới, nhất là ở ngay cái nôi của Ca-tô Rô-maGiáo là Âu Châu, kể cả nước Ý là thủ phủ của Ca-tô Rô-maGiáo, cho nên Tòa Thánh (sic) muốn kiếm miền đất mới để mang cỏ dại của Âu Châu sang trồng ở Á Châu. Cỏ dại ở Âu Châu đang suy tàn khó có thể lan tràn được nữa vì Tây phương có hai phương thuốc để trừ cỏ dại: đó là sự tiến bộ của dân trí và đời sống kinh tế thoải mái của quần chúng. Nhưng ở những nơi dân trí còn thấp và đời sống vật chất còn khó khăn thì cỏ dại rất có cơ hội lan tràn.

Những nước Vatican quan tâm nhất là Trung Quốc với hơn một tỷ ba dân, Thái Lan, và Việt Nam, nơi đây Vatican đã có khoảng 5 triệu thuộc hạ sẵn sàng nghe lệnh của Vatican như Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt trước đây trong vụ Tòa Khâm Sứ. Sách lược gieo trồng và gặt hái mùa cỏ dại ở Á Châu đã được hoạch định từ thời Giáo hoàng John Paul II. [Xin đọc: “Ki Tô Giáo: Kế Hoạch Cải Đạo Á Châu” của ba tác giả Thích Nhật Từ, Ngô Triệu Lịch và Trần Chung Ngọc, NXB Á Châu, Hè 2005]. Lẽ dĩ nhiên, Giáo hoàng tuyên bố gì với các Giám mục Việt Nam thì các Giám mục chỉ có quyền dạ, vâng. Tin hay không tin cũng phải tuyệt đối tuân phục Giáo hoàng. Đó là “đức vâng lời” trong Ca-tô Rô-maGiáo.

Nhưng, có thể có sự hợp tác lành mạnh giữa một con lang đã 2000 năm tu luyện và một cô bé quàng khăn đỏ mới có mấy chục năm kinh nghiệm việc đời hay không? Lịch sử Công giáo và bản chất Công giáo đã cho chúng ta một câu trả lời quyết định (an emphatic answer): KHÔNG !! Chắc hẳn cô bé quàng khăn đỏ ngày nay đã biết rõ như vậy, và không ngây ngô cả tin như cô bé quàng khăn đỏ trong truyện có tính cách dạy con người đừng có vội tin vào những lời quyến rũ đường mật của một kẻ lạ, nhất là khi đã biết rõ là kẻ lạ và tổ chức của kẻ đó đã nổi tiếng khắp hoàn cầu về “nói một đàng làm một nẻo”, và bất chấp thủ đoạn để đạt được mục đích.

Tại sao lại không thể tin? Vì Nhà Nước Việt Nam vốn vẫn bị chụp lên đầu cái mũ “công sản vô thần”. Cộng sản hay không, nhưng “vô thần” theo nghĩa là không tin vào Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, thì thường là sáng suốt và thông minh hơn “hữu thần” nhiều, và cũng vì vậy nên không thể nào tin vào thiện chí “lành mạnh” [sic] của một con người như Benedict XVI. Giáo dân Ca-tô Rô-maGiáo Việt Nam gọi ông ta là “Đức Thánh Cha” và có truyền thống tin tất cả những gì bề trên của họ dạy về giáo hoàng của họ. Nhưng đối với giới hiểu biết, thì Benedict XVI chẳng có một cái đức nào cả mà còn vô đạo đức. Có rất nhiều bằng chứng chứng tỏ như vậy.

Trước hết, chúng ta hãy coi vài hình ảnh của Ratzinger, từ “Hitler Youth” tới Giáo hoàng của Ca-tô Rô-maGiáo.

Bây giờ chúng ta hãy xem, về vấn đề đạo đức, Benedict XVI là người như thế nào? Ông ta muốn “hợp tác lành mạnh” với Việt Nam. Hợp tác lành mạnh có nghĩa là phải tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng mọi sự khác biệt của nhau. Nhưng có bao giờ Vatican tôn trọng các nền văn hóa khác, các tín ngưỡng khác. Chúng ta hãy lấy vài thí dụ:

Khi còn là Hồng Y, Ratzinger phải biết rằng Việt Nam là một nước Phật Giáo, và ông đã tôn trọng Việt Nam như thế nào? Nhân cách và giáo dục của ông ta đã để lộ ra trong câu nhận xét về Phật Giáo rất là hạ cấp, thiếu giáo dục: “Buddhism is a sort of spiritual eroticism”. Đó là ngôn từ “lành mạnh” của Ratzinger mà nay đang quyến rũ Việt Nam bằng viên thuốc độc bọc đường “hợp tác lành mạnh”, một nước Phật Giáo trong đó chỉ có 7% người Ca-tô Rô-maGiáo.

Phê bình Phật Giáo bằng loại ngôn từ như trên có phải là tôn trọng tín ngưỡng khác không? Và chúng ta không nên quên là ngày 5 tháng 9, 2000, Joseph Ratzinger, với sự chấp thuận của John Paul II, đã tung ra bản tuyên ngôn “Dominus Jesus” trong đó có hai điểm trịch thượng thực ra là chỉ đối với các hệ phái Ki tô Giáo khác hay Do Thái Giáo, Hồi Giáo, những tôn giáo cùng thờ một Chúa, chứ đối với những tôn giáo phi-Ki-Tô, thí dụ như Phật Giáo hay Ấn Giáo, thì vô nghĩa, vì Phật Giáo có bao giờ cần đến sự cứu rỗi trong Ki Tô Giáo đâu, cho đó chẳng qua chỉ là cái bánh vẽ trên trời của nền thần học Ki Tô Giáo dùng để làm mồi nhử các đầu óc yếu kém, chứ ngày nay có còn người nào có đầu óc còn tin vào những điều hoang đường của thời bán khai..

1. “.. như là một phương tiện đưa đến sự cứu rỗi, những tôn giáo phi-KiTô thiếu sót một cách trầm trọng” (..non-Christian religions are gravely deficient as a means of salvation)

2. “Giáo hội Công Giáo La Mã là phương tiện duy nhất đem đến sự cứu rỗi cho toàn thể nhân loại” (The Roman Catholic Church is the only instrument for the salvation of all humanity)

Cũng vì vậy mà Giáo sư Thần học Ca-tô nổi tiếng trên hoàn cầu, Hans Kung, đã đưa ra một nhận định về bản tuyên ngôn “Dominus Jesus” là “một sự pha trộn của tính chất lạc hậu thời Trung Cổ và Tâm Lý Bệnh Hoạn về Những Ảo Tưởng Hão Huyền về Quyền Lực hay Toàn Năng của Vatican” (A mixture of medieval backwardness and Vatican megalomania). [Megalomania = A psycho-pathological condition in which fantasies of wealth, power or omnipotence predominate]

Không chỉ nói nhảm về Phật Giáo mà Benedict XVI, trong một chuyến viếng thăm nước Đức của ông ta, còn mạ lỵ Giáo Chủ Hồi Giáo là “Mohammed đã chỉ mang tới những thứ ác ôn và vô nhân” [The prophet Mohammed had brought “things only evil and inhuman”] trong khi so với Hồi Giáo thì lịch sử Ca-tô Rô-maGiáo còn ác ôn và vô nhân hơn nhiều qua những cuộc Thánh Chiến, Tòa Án xử Dị Giáo, Săn Lùng và Thiêu Sống Phù Thủy, làm tiền phong hay toa rập với thực dân để truyền đạo và cướp đất v…v….. Do đó, Hồi giáo khắp nơi trên thế giới đã lên tiếng phản đối đòi ông ta phải chính thức xin lỗi trước công chúng.

Sau đây là vài mẩu tin trên báo chí về phản ứng của Hồi giáo trước lời nói bậy của Benedict XVI:

ISLAMABAD, Pakistan (AP) – Pakistan’s parliament on Friday unanimously adopted a resolution condemning Pope Benedict for making what it called “derogatory” comments about Islam, and seeking an apology from him for hurting Muslims’ feelings.

NEW DELHI: The Pope must apologise, demand Indian Muslims. Officials of the Khwaja Moinuddin Chisti’s dargah in Friday on Friday demanded that Pope Benedict XVI retract his comments on jihad and apologise to Muslisms.

UK Muslims condemn Pope’s speech:

British Muslims have joined in fierce criticism of remarks made by Pope Benedict about Islam.
The pontiff was accused of falling into “the trap of bigots and racists” with the comments he made on a visit to Germany.

The Pope Tackles Faith & Terrorism:

In a provocative speech citing the concept of jihad and referencing the Muslim prophet by name, Benedict sends the world a signal that it’s time for hard questions—not hugs and handshakes.

Turkish Cleric Demands Apology From Pope:

Muslim clerics demanded an apology after Benedict XVI quoted a 14th century Byzantine emperor who said Islam brought “evil and inhuman” things.

Dissident Kueng criticises pope during German visit:

Tuebingen, Germany- Hans Kueng, the Swiss-born Catholic theologian who has been a long-time critic of the Vatican, slammed Pope Benedict XVI on Wednesday for not offering dialogue during a six-day visit to Germany. There had not been “a single future-oriented signal” from the pope, nor were there any suggestions of reforms on the way, Kueng told Deutsche Presse-Agentur dpa in an interview.

Sự vô đạo đức của Benedict XVI không chỉ thu hẹp trong vấn đề cố ý nói bậy về các tôn giáo khác mà còn thể hiện trong vấn đề liên hệ tới bản chất và uy tín của Ca-tô Rô-maGiáo. Đó là chủ trương bao che các linh mục can tội loạn dâm với các trẻ phụ tế và nữ tín đồ. Ngày nay chúng ta đã biết là có tới hơn 5000 linh mục bị truy tố về những tội danh trên, và Giáo hội Ca-tô đã phải bỏ ra trên 2 tỷ đô la để bồi thường cho các nạn nhân tình dục của các “Cha cũng như Chúa”. Đó là chưa kể đến vụ các linh mục cưỡng hiếp chị em tâm linh của họ, các nữ tu, trên 27 quốc gia trên thế giới. Bộ mặt đạo đức giả của Benedict XVI không gì rõ hơn là những lời phát biểu của ông ta trên chuyến máy bay tới Mỹ vào tháng 4, năm 2008.

Theo tin của hãng thông tấn Ca-Tô (Catholic News Service), Benedict XVI đã nói với các ký giả là “Vụ các linh mục loạn dâm đã làm cho Giáo hội và chính ông ta cực kỳ đau khổ” [The pope began his visit by addressing an issue that has wounded the Catholic Church in the United States, telling reporters on his aircraft that the sexual abuse of children has caused “great suffering” for the church and “me personally.”] Cũng theo hãng thông tin này thì: vụ các linh mục loạn dâm đã gây ra cho nhiều ngàn nạn nhân tình dục của các linh mục và vào khoảng 5000 linh mục đã bị truy tố từ khi vụ này nổ ra năm 2002 và đã làm cho giáo hội tốn trên 2 tỷ đô-la trong những cuộc dàn xếp [The scandal has produced thousands of sexual abuse victims and about 5,000 accused priests since it erupted in 2002 and has cost the church more than $2 billion in settlements.] Ông ta cũng còn nói: “Khi tôi đọc những hồ sơ về các nạn nhân đó, thật là khó cho tôi hiểu được là các linh mục lại có thể phản bội như vậy. Nhiệm vụ của họ là chữa trị, mang tình thương của Thiên Chúa đến những đứa trẻ này. Chúng tôi thật là quá nhục nhã và chúng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để cho vấn đề này không thể xảy ra nữa trong tương lai.” [As I read the histories of those victims, it is difficult for me to understand how it was possible that priests betrayed in this way. Their mission was to give healing, to give the love of God to these children. We are deeply ashamed and we will do what is possible that this cannot happen in the future.]

Rất ít người để ý là những lời Benedict XVI nói với các ký giả trên máy bay như trên chỉ là những lời nói đãi bôi, đạo đức giả. Vì ông ta thừa biết rằng, không phải bây giờ trong giáo hội Ca-Tô Rô-ma mới có các vụ loạn dâm, mà trong suốt giòng lịch sử của giáo hội, cũng có không thiếu gì những giáo hoàng, hồng y v..v.., không những loạn dâm mà còn loạn luân và phạm đủ mọi tội ác khác nữa. Nhưng sự đạo đức giả của ông ta quả thật là thuộc loại mặt trơ chán bóng, không biết ngượng, vì chính ông ta đã ra lệnh bao che các linh mục loạn dâm trước đây.

Thật vậy, khi còn là Hồng Y, trong một bức thư mật ký tên Ratzinger, Crimen Sollicitationis, gửi cho các giám mục trên khắp thế giới, Ratzinger đã đưa ra sách lược bảo mật, bao che các vụ loạn dâm của các linh mục. Theo sự phân tích của Linh mục Doyle, Luật sư về Giáo luật [Canon Lawyer] của Ca-tô Rô-maGiáo, thì:

Văn kiện Crimen Sollicitationis chứng tỏ là có một chính sách toàn cầu bảo mật tuyệt đối và kiểm soát mọi trường hợp lạm dụng tình dục của giới giáo sĩ.

Ở đây chúng ta có một chính sách viết ra rõ ràng để che đậy những trường hợp can tội ấu dâm của các linh mục và trừng phạt những người trong giáo hội dám để lộ ra những tội ác này.

Chúng ta có một chính sách viết ra rõ ràng là Vatican sẽ kiểm soát những trường hợp này và thấy rõ là những gì mà Vatican quan tâm là ngăn chận phổ biến và kiểm soát vấn nạn này.

Không có chỗ nào trong văn kiện nói về giúp đỡ các nạn nhân.

Chỉ có một điều về các nạn nhân là giáo hội có thể áp đặt sự sợ hãi lên các nạn nhân và trừng phạt những nạn nhân nào dám thảo luận hay phanh phui những gì xẩy ra cho họ.

Bức thư được thi hành trong suốt thời gian Joseph Ratzinger làm Hồng Y và nay trở thành Giáo hoàng, do đó chính sách này và việc thi hành có hệ thống không hề thay đổi.

[Crimen solicitationis is indicative of a worldwide policy of absolute secrecy and control of all cases of sexual abuse by the clergy.

But what you really have here is an explicit written policy to cover up cases of child sexual abuse by the clergy to punish those who would call attention to these crimes by the churchmen.

You’ve got a written policy that says that the Vatican will control these situations and you also have I think clear written evidence of the fact that all they are concerned about is containing and controlling the problem.

Nowhere in any of these documents does it say anything about helping the victims.

The only thing it does is say that they can impose fear on the victims and punish the victims for discussing or disclosing what happened to them.

It’s all controlled by the Vatican and at the top of the Vatican is the Pope so Joseph Ratzinger was in the middle of this for most of the years that Crimens was enforced he created the successor to Crimen and now he is the Pope this all says that the policy and systematic approach has not changed.]

Một bài viết của Jamie Doward trên tờ Observer ngày 24.4.2005 đã phanh phui ra chuyện Benedict XVI đã “ngăn cản sự điều tra về vấn đề loạn dâm trong giáo hội.” [Pope “obstructed” sex abuse inquity]. Bài báo cho biết:

Giáo hoàng Benedict XVI bị lên án là đã “ngăn cản công lý” [obstruction of justice] khi người ta biết rằng ông ta đã ra lệnh để bảo đảm cho sự điều tra của giáo hội về những vụ trẻ em bị cưỡng bức tình dục phải được thi hành mật [ensuring the church’s investigations into child sex abuse claims be carried out in secret.] Lệnh này viết trong một bức thư mật mà tờ Observer lấy được, đã được gửi đi cho mọi giám mục Ca-tô vào tháng 5, 2001 [chắc trong này có những giám mục Việt Nam] (sent to every Catholic bishop in May 2001).

Bức thư khẳng định quyền của giáo hội điều tra kín và bảo mật những bằng chứng cho tới 10 năm sau khi các nạn nhân trưởng thành. Bức thư ký bởi Hồng Y Joseph Ratzinger, vừa mới được bầu kế vị John Paul II tuần vừa qua. Luật sư của các nạn nhân tình dục cho rằng mục đích của bức thư là ngăn chận các vụ án khỏi phổ biến ra quần chúng hoặc sự điều tra của cảnh sát. Họ lên án Ratzinger đã phạm tội “trắng trợn ngăn cản công lý” [They accuse Ratzinger of commiting a “clear obstruction of justice”].

Bức thư của Ratzinger kết luận: “những vụ điều tra như vậy thuộc quyền bảo mật của Giáo hoàng” (subject to pontifical secret). Bức thư của Ratzinger cùng ký bởi Tổng Giám Mục Tarcisio Bertone [người ra lệnh cho Ngô Quang Kiệt dẹp vụ thắp nến cầu nguyện với búa, kìm, và xà beng trước tòa Khâm sứ, Hà Nội], người mà trong một cuộc phỏng vấn 2 năm trước đã ngỏ ý là giáo hội chống việc cho phép các cơ quan bên ngoài giáo hội được điều tra những vụ loạn dâm [the church’s opposition to allowing outside agencies to investigate sexual abuses]. Chúng ta đã biết, những biện pháp của giáo hội để trừng phạt các linh mục loạn dâm là thuyên chuyển họ đi giáo xứ khác để họ tiếp tục loạn dâm, và trong trường hợp loạn dâm nổi tiếng của Giám mục Marcial Maciel Degollado, người sáng lập “Đạo Binh Lê Dương Của Chúa Ki Tô” [the Legionaries of Christ] thì hình phạt mà Benedict XVI dành cho Marcial là “cất chức, và dành cuộc đời còn lại để cầu nguyện và thống hối” [to be removed from his ministry and to spend the rest of his life in prayer and penitence.]

Với những hành động che dấu tội phạm, ngăn cản công lý như trên mà bây giờ Benedict XVI lại có thể nói lên những lời như: “làm cho chính tôi cực kỳ đau khổ, xấu hổ nhục nhã, không thể hiểu được..” Như vậy có phải là đạo đức giả đến mức thượng thừa rồi hay không? Chẳng vậy mà những nạn nhân tình dục ở Boston đã chỉ trích phê bình những lời nói trên của Benedict XVI. Trong một bài báo của Abby Goodnough, ngày 15 tháng 4, 2008, chúng ta có thể đọc những đoạn như sau:

Giáo Hoàng Benedict có thể nói là ông ta cực kỳ xấu hổ nhục nhã (deeply ashamed) về các vụ loạn dâm, nhưng nhiều nạn nhân tình dục ở Boston, nơi nổ ra vụ linh mục loạn dâm năm 2002, cho rằng đó là những lời rỗng tuếch (his comments rang hollow)

Robert Costello, một nạn nhân tình dục của linh mục khi mới có 10 tuổi, đặt vấn đề là Giáo hoàng nói rằng vụ các linh mục loạn dâm đã là cho giáo hội và chính ông ta đau khổ mà không thú nhận về sự đau khổ của chính các nạn nhân [without acknowledging the pain of abuse victims themselves.] Costello nói: “Thế sự đau khổ của các nạn nhân thì sao?”, và thứ Sáu này ông ta sẽ đi đến New York và đọc lớn lên tên của các nạn nhân trong khi giáo hoàng nói ở Liên Hiệp Quốc [who will travel to New York to read aloud the names of victims on Friday while the pope addresses the United Nations.]

David Carney, một nạn nhân tình dục khác, cũng bác bỏ những lời của Giáo hoàng, cho rằng không thật lòng (dismissed the pope’s comments as insincere). Carney nói: “Đừng có ngồi trên máy bay mà nói về vấn đề loạn dâm của các linh mục, nếu ông cảm thấy cực kỳ xấu hổ và nhục nhã thì hãy làm gì để giải quyết vấn đề” [If you’re ashamed about it, do something about it]. Đối cới tín đồ Ca-Tô ở Boston, đó chỉ là những lời trên đầu môi chót lưỡi [the pope’s comments on the abuse scandal were lip service to Boston Catholics.]

Trên trang nhà của tổ chức “Tiếng Nói Của Đức Tin Chân Thật” [VOTF = Voices of the True Faith] Kay Ebeling viết, ngày 6 tháng 4, 2008:

Hãy bắt giam Giáo hoàng ngay, nếu có thể! Hắn đã giúp và tiếp tay trong tội ác của hơn 4400 Linh mục loạn dâm đã cưỡng hiếp hàng ngàn trẻ em Mỹ. Đó là tiếng nói của VOTF trên nguyên một trang quảng cáo. [“Arrest the Pope Now While You Can! He aided and abetted felonies of 4400-plus pedophile priests who raped thousands of American children.” That Is What the VOTF Full Page Ad Should Say]

Ngoài ra, theo VietCatholic thì Giáo hoàng vẫn tiếp tục nuôi dưỡng trò bịp hoang đường mê tín của giáo hội như sau:

VietCatholic: ĐTC nói: ”Lời Chúa và Bí tích là hai cột trụ nòng cốt của sứ vụ Linh mục

Tôi đã chứng minh bản chất thực sự của Chúa Cha và Chúa Con trong Thánh Kinh là như thế nào, không nhắc lại ở đây. Voltaire đã chẳng từng nhận định: Lời của Chúa là lời của các linh mục; sự vinh quang của Chúa là sự hãnh diện của các linh mục; ý của Chúa là ý của các linh mục; xúc phạm Chúa là xúc phạm các linh mục; tin vào Chúa là tin vào mọi điều linh mục nói (The word of God is the word of the priests; the glory of god is the pride of the priests; the will of god is the will of the priests; to offend god is to offend the priests; to believe in god is to believe in all that the priests tell us.) hay sao?

Nhưng về các bí tích thì chúng ta có một tài liệu của Linh mục Joseph McCabe, một người đã hành nghề linh mục trong 20 năm, trong cuốn “Sự Thực Về Giáo Hội Ca-Tô” (The Truth About The Catholic Church), như sau:

Sau khi luận về 6 bí tích, trước khi phân tích chi tiết về bí tích xưng tội, linh mục Joseph McCabe đã đưa ra nhận xét châm biếm sau đây:

Đó là 6 trong 7 bí tích, sự vinh quang và bông hoa đặc biệt của tín ngưỡng Ca-Tô, hệ thống tỉ mỉ nhất về ảo thuật mà xưa nay chưa hề có một tôn giáo văn minh nào phát minh ra được. Từ bí tích đầu cho đến bí tích cuối, chúng được thiết kế để tăng thêm quyền lực và uy tín của giới giáo sĩ. Trong nghi thức thực hành và ý tưởng căn bản trong đó, chúng cũng xa lạ và đối ngược với tất cả vấn đề tâm linh trong thời hiện đại như là thuật biến chế kim loại trong thời Trung Cổ và thuật chiêm tinh. Đây là tập hợp những niềm tin mà tín đồ Ca-Tô thông thường tin rằng một ngày nào đó họ sẽ cải đạo toàn thể Hiệp Chủng quốc (Mỹ). Ở mức độ tinh tế, tín đồ Ca-Tô nói rằng, đây chính là tập hợp những niềm tin mà Thiên Chúa Ki-Tô quan tâm hết sức để duy trì chúng trong sắc thái tinh khiết của chúng cho nên Ngài bỏ qua những sự khủng khiếp của thời Trung Cổ và tất cả những sự đồi bại của các giáo hoàng và chế độ giáo hoàng.!

[Joseph McCabe, The Truth About The Catholic Church, p. 70: These are six of the seven sacraments, the glory and distinctive flower of Catholic belief, the most elaborate system of magic which any civilized religion ever invented. From first to last they are designed to enhance the power and prestige of the clergy. In their ritual and their fundamental ideas they are as alien from, as antagonistic to, the whole spirit of modern times as is alchemy or astrology. This is the set of beliefs to which the simple Catholic believes he will one day convert the whole United States! In fine, this is the set of beliefs which God, the Catholic says, was so deeply concerned to maintain in their purity that he overlooked all the horrors of the Middle Ages and all the corruptions of the Pope and the Papacy!]

Tôi thực tình không hiểu tại sao trong thời buổi này mà Giáo hoàng vẫn còn dẫn dắt tín đồ trong bóng tối của những điều mê tín vô cùng phi lý, phi lô-gic, phản khoa học v..v.. mà trong thế giới văn minh ngày nay, không một người nào có đầu óc lại có thể tin vào những điều chỉ hợp với một số người trong thời sơ khai. Thật quả là sách lược nhồi sọ và nhốt đầu óc tín đồ vào những ốc đảo tối tăm trí thức của giáo hội Ca-Tô Rô-ma đáng để cho chúng ta thán phục. Tôi nghĩ, có lẽ mấy câu thơ sau đây của nhà đại văn hào Pháp Victor Hugo trong thế kỷ 19 vẫn còn thích hợp:

Ngày nay, người dẫn dắt đàn chiên của Ngài trong bóng tối

Không phải là kẻ chăn chiên, mà là tên đồ tể đó, Chúa ạ!

(Ce qui mène aujourd’hui votre troupeau dans l’ombre

Ce n’est pas le berger, c’est le boucher, Seigneur!)

Victor Hugo, Les Châtiments, liv. 1, 2

Từ những tài liệu trên, chúng ta ta thấy Benedict XVI không quan tâm đến đối thoại với bất cứ tôn giáo, chính thể nào khác. Về tôn giáo, ông ta luôn luôn hạ thấp các tôn giáo khác, quên đi cái lịch sử 7 núi tội ác ô nhục đẫm máu của Ca-tô Rô-maGiáo mà chính Giáo hoàng John Paul II đã xưng thú trước thế giới. Ông ta vẫn tự cho mình những quyền lực của các Giáo hoàng thời Trung Cổ và thảm thay đám con chiên của ông ta ở dưới cũng tin rằng ông ta có những quyền lực như vậy. Cực kỳ đạo đức giả như chúng ta đã thấy, ông ta chuyên nói những lời đãi bôi trên đầu môi chót lưỡi.

Với một con người mà nhân cách thấp hèn và vô đạo đức như vậy, Việt Nam hi vọng gì ở một sự “hợp tác lành mạnh” với Vatican, và hợp tác để làm gì? Hợp tác để cho Vatican có cơ hội bành trướng trên mảnh đất của chúng ta hay sao? Bài học lịch sử cho thấy, bất cứ ở nơi nào mà Ca-tô Rô-ma Giáo nắm được quyền thế gian thì nơi đó không có tự do, dân chủ. Kinh nghiệm lịch sử của những chế độ Ca-tô trên thế giới: Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam, Franco ở Tây Ban Nha, Pavelic ở Croatia, Hitler ở Đức đã cho chúng ta thấy sự nguy hại của cuồng tín tôn giáo là như thế nào.

Có vài điều kiện tiên quyết không thể không có (sine qua non) trước khi Việt Nam xét đến việc “hợp tác lành mạnh” với Vatican.

– Thứ nhất, Ratzinger phải chính thức xin lỗi thế giới Phật Giáo về những lời nói có tính cách xúc phạm Phật Giáo của mình, Việt Nam cương quyết đừng bao giờ nhân nhượng Vatican, hay để cho ông ta bước chân lên đất nước Việt Nam dù dưới bất cứ một áp lực nào trước khi điều kiện này được thỏa mãn. Thể diện quốc gia và truyền thống văn hóa dân tộc phải được đặt lên trên hết.

– Thứ nhì, Vatican phải chính thức xin lỗi Việt Nam về những tác hại mà Ca-tô Rô-maGiáo đã mang đến Việt Nam, điển hình là những hành động truyền đạo mê hoặc tín đồ, xâm phạm chủ quyền, nền văn hóa truyền thống của Việt Nam.

– Thứ ba, Giáo hội Ca-tô Rô-maGiáo ở Việt Nam phải xin lỗi dân tộc Việt Nam vì đã làm tay sai cho thực dân Pháp để đưa nước nhà vào vòng nô lệ Pháp như chính Giám mục Puginier đã thú nhận.

– Thứ tư, Giáo hội Ca-tô Rô-maGiáo ở Việt Nam phải trả lại đất đai đã cướp được hoặc do thực dân Pháp ban cho để thưởng công lại cho nhân dân Việt Nam.

– Và thứ năm, Giáo hội Ca-tô Rô-maGiáo ở Việt Nam phải tuyên bố độc lập với Vatican. Truyền thống văn hóa Việt Nam không chấp thuận sự lệ thuộc ngoại bang, bất cứ dưới hình thức nào, của một bộ phận trong quốc gia.

Chỉ sau khi hội đủ 5 điều kiện trên, Nhà Nước mới nên xét đến cái gọi là “hợp tác lành mạnh” giữa Vatican và Việt Nam.

Để kết luận, tôi muốn nói đến một tác phẩm có nhan đề “Khi Tôn Giáo Trở Thành Ác Ôn” (When Religion Becomes Evil), HarperSanFrancisco, 2002. Nội dung cuốn sách là những khai triển của tác giả Charles Kimball về “Năm Dấu Hiệu Cảnh Báo Sự Đồi Bại Trong Tôn Giáo” (The five warning signs of corruption in religion), và từ đó trở thành tôn giáo ác ôn:

-► Tuyên bố là nắm chân lý tuyệt đối (Absolute Truth Claims)

-► Bắt tín đồ phải vâng lời một cách mù quáng (Blind Obedience)

-► Thiết định thời gian “lý tưởng” (Establishing the “Ideal” time), nghĩa là ngày trờ lại của Chúa Giê-su [Dân Chúa (God’s people) trong 2000 năm nay vẫn chờ đợi ngày trở lại của Chúa và họ vẫn kiên trì chớ đợi]

-► Cứu cánh biện minh cho mọi phương tiện (The End Justifies any means)

-► Khai Thánh Chiến (Declaring Holy War)

Thật là kỳ lạ, Ca-tô Rô-ma Giáo tự nhận là một giáo hội “thánh thiện, duy nhất, thiên khải, tông truyền” nhưng lại hội đủ cả năm dấu hiệu đồi bại trên, nhất là dấu hiệu “Cứu cánh biện minh cho mọi phương tiện (The End Justifies any means)”. Và vì hội đủ cả năm dấu hiệu cảnh báo trên, Ca-tô Rô-maGiáo đã trở thành một tôn giáo ác ôn như lịch sử đã chứng minh. Tôi không có nói chơi, vì đây là chuyện không thể nói chơi, cho nên, nếu có ai thách đố, tôi sẽ chứng minh từng điểm trên một, dựa theo chính giáo lý và lịch sử của Ca-tô Rô-maGiáo.

Trần Chung Ngọc, ngày 4/7/09
NDVN, ngày 7/4/09

nhandanvietnam.org

Categories: Chúa Dê-su | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Bản Chất Và Hiện Tượng Bọn Giặc Áo Đen Bán Nước Và Giáo Dân Ngu Nghiện Đạo…

Nói Chuyện Với Bọn Giặc Áo Đen Bán Nước
Và Bọn Giáo Dân Ngu Nghiện Đạo

“biểu tình gian dối cầu nguyện đòi đất cho thằng khâm sứ!”
(Trong “Phép Giảng Tám Ngày”, khuyển sinh Alexandre De Rhodes gọi Đức Phật là thằng!)

Giuse Phạm Hữu Tạo

Cầu nguyện đòi đất cho thằng khâm sứ là trò hề khi thực dân Pháp cho bọn linh mục thừa sai mũi lõ dâm dục hay đồng tính (gay) lên tầu hải tặc của quân Pháp đi truyền đạo rao giảng tin mừng là sự đọa đầy khốn khổ vô cùng của dân tộc VN bị mất nước. Bọn Giặc Áo Đen Bán Nước, tay sai bản địa của Tây và bọn giáo dân dốt nát ngu đạo cuồng tín ngày nay lại lưu manh gian dối cầu nguyện đòi đất đúng là bản chất của bọn Việt gian, chúng không ngừng nghỉ khai thác khó khăn của đất nước để đội đít bọn mất dậy Công Giáo La Mã. Mong nó mở đường cho ngọai bang trở về làm ông cha, làm cố nội chúng khi chúng từng quen thờ giáo hoàng, và thờ bọn lũi mõ mắt xanh sau khi đã vâng lời chúng đạp vào mặt ông bà tổ tiên chúng là “ma quỷ bụt thần”, là bọn mặt trơ trán bóng không biết ngượng biết không biết nhục! Chỉ Công Giáo La Mã mới có tài đổi óc não của chúng như vậy thôi!

Bọn giáo dân khuyển sinh biểu tình bao đời làm thân chó má con chiên con bò, lừangựa (la mã) lại ngo ngoe ngóc dậy, chỉ lại làm thân tôi đòi cho bọn khuyển sinh La Mã, với những trò đánh ngầm, đánh nổi, dựa vào bọn chó La Mãbọn chó ngọai bang, tưởng dùng bọn bốn chân hay đi bốn chân là chúng làm lung lay được chế độ và chính quyền thống nhất đất nước, đánh đuổi Pháp Mỹ, và triệt hạ bọn Công Giáo La Mã theo Tây. Đừng quên những sư đòan chiến thắng Điên Biên đánh gục thực dân và triệt tiêu hy vọng kéo dài kiếp nô lệ của bọn cuồng tín ngu đạo Công giáo mà bọn giám mục, tổng giám mục, hồng y có gì đâu ngòai nỗi nhục nhằn làm thân khuyển mã mà giáo sử ghi rõ hôn chân Tây chùn chụt. Xin đọc giáo sử thơm như dớ thối của những thằng Tây mang chức thánh vật đưa chân dí vào mũi bọn linh mục tay sai ườn hèn theo chân Chúa để được hôn chân Tây! Bọn linh mục An Nam hôn hít chết bỏ như sau:

“Còn đối với bọn cha cố Tây … giáo quyền quyết định ban cho bọn chúng thay mặt, kiểm sóat, phối kiểm và trông coi việc thi hành những luật lệ tổng quát hay riêng lẻ của các giáo xứ, các dòng tu và bọn giáo dân. Tất cả phải tuyệt đối kính trọng và vâng lời chúng (như chúng cấm thờ ông bà tổ tiên là bọn linh mục và bọn giáo dân bản xứ tìm thấy hạnh phúc ngay trong việc đạp vào mặt ông bà tổ tiên, và khóc lóc tủi hổ vô cùng vì bụt thần ma quỷ đã sinh đẻ ra chúng.)

“Theo quy định của các bề trên các giáo phận, bọn “cụ Ta” phải quỳ lạy hôn chân (như điên) bọn “cố Tây”. Từ nay chúng tao tha cho tụi bay không phải (đại họa nhục nhã) làm bổn phận quỳ lạy nữa. Nhưng chúng bay vẫn phải tiếp tục làm bổn phận kính sợ bọn “Cố” là các đấng chí tôn thay mặt các bề trên giáo phận để (khinh bỉ) đè đầu, kéo mũi, nắm cổ kéo tóc chúng bay!”
{Thư chung của giáo quyền miền Tây Kẻ Chợ (Hà-nội), năm 1908, trang 142}.

Quand aux pères occidentaux… l’Évêché a décidé à le représenter pour examiner, reviser et faire appliquer les règlements généraux et particuliers du diocèse, dans les couvents et parmi les fidèles … que tout le monde les respecte et leur obéisse. Car ils sont les “missionario apostoliques”, les pères des fidèles et même des prêtres annamites.”. Selon les coutumes établies par les supérieurs dans tous les évêchés, les “CỤ” (annam) devaient se prosterner (quỳ lạy, uốn gối) devant les “CỐ” (Tây). Donéravant, je vous dispose de ce devoir. Cependant, il faut que vous continuiez à leur manifester le respect du à ceux qui représentent les supérieurs pour s’occuper de vous.”
{Recueil des letters communes du vicariate apostoloque du Tonkin Occidental, édité à Kẻ Chợ (Hà-nội), 1908, page 142}

Nỗi nhục hôn chân Tây của bọn linh mục cao cấp (CỤ) vẫn còn chưa tẩy xóa được. Nay bọn giáo mục trong giáo hội bị báo đạo hải ngọai chửi như con chó (poodle), lại bầy mưu ma mãnh cầu nguyện đòi đất cho thằng khâm sứ. Thật bọn chúng đã hết liêm sỉ lúc nào cũng chỉ lo cho bố chúng nó, ông cố nội chúng nó là bọn bạch quỷ La Mã khuyển sinh có đất sống, trong khi lúc đất nước ta bị xâm lăng, chúng ngoan ngõan làm đòan quân thứ năm, cung cấp tin tình báo cho Pháp. Ôi sao chúng đi đạo mà khốn kiếp như vậy? Công Giáo La Mã khi trình diện Fidel Castro hay TT Dũng, nếu không tiện luồn cúi hôn chân, nên tìm bọn chức sắc Công giáo Việt Nam. Bọn này có kinh nghiệm điếu đóm, nhìn kỹ thằng nào cũng méo miệng hết. Lại còn dở trò rúc đít ngửi rắm tòa thánh và khen thơm hơn nước hoa Chanel number 5. Một lần kiểm tra không khí ô nhiễm tại Rôma, phái đòan quốc tế bảo vệ môi sinh rất cảm phục không khí trong lành của La Mã. Nhưng sau khi điều tra kỹ đã biết nhờ bọn Công Giáo gia nô ngửi hết, nên mới có sự kỳ diệu như vậy! Ngược lại vì hết lòng phục vụ nên khi chúng đau phải vào bệnh viện các y sĩ đã không phân biệt được đầu hay đít của chúng, vì cả hai đều thối ngang nhau. Nhưng may nhờ ơn Đức Chúa Thiên Thần hiện xuống soi sáng mới phân biệt được mũi với đít của chúng. Nhưng vẫn thành thật xác nhận là mũi chúng thối hơn, vì quá nhiều thán khí hạ môn La Mã, cóc cách như ống khói lò sưởi. Thật là thành tích đáng lên Thiên Đàng của bọn chức sắc ta sang triều cống La Mã. Nghe đâu La Mã phản đối, vì chưa có bọn nào khác chịu ngửi rắm cho chúng, tòa thánh lại thối rình lên, mất khách hành hương. Không được!

Nên nhớ bọn khuyển nhung Công giáo La Mã An Nam kêu than bây giờ chúng là công dân hạng hai. Như thế trước kia chúng là công dân hạng mấy? Nếu chúng biết giáo sử bọn cha cố của chúng phải hôn chân Tây méo mồm rã họng ra để chứng tỏ lòng trung thành, luôn luôn phục vụ Tây trong tinh thần con ở thằng bồi bản địa? Được làm công dân hạng hai không, hay chỉ là công dân hạng nhất trong háng thực dân và bọn cố đạo mũi lõ mắt xanh? Chúng hạnh phúc hưởng ơn chui vào trong áo chùng đạo hay váy đầm và chửi ông bà tổ tiên là ma quỷ. Nếu thế chúng nên biết thà làm quỷ nước Nam hơn làm thánh trong đít thối bọn La Mã, không thèm làm giám mục chức sắc An Nam tranh nhau hít hà chui vào, và coi là nước Chúa trị đến trong háng!

Khác với Âu Mỹ các tôn giáo tuy cố gắng lấn sang chính quyền, nhưng tổ chức công quyền mạnh và dân trí cao, Công Giáo La Mã hay Tin Lành không thể phản quốc, bán nước Pháp nước Mỹ được. Nhìn vào Công Giáo thời Tây và Tin Lành thời Mỹ, hai bọn đều đã vênh váo lên mặt và đè nén đại khối dân tộc. Bọn mất dậy theo Chúa này vẫn còn não trạng thờ phượng giáo hoàng và giáo hội, làm con cái Mỹ, cũng như khi chưa có Mỹ, mà Công Giáo bám đít Francis Spellman thì Công Giáo bợ Tây đã nham nhở chửi Tin Lành là đạo rối, trong khi bọn chúng rối hơn ai hết, vô cùng rối. Chỉ bám vào xác chết Do Thái mà ông cố nội Tây của chúng dậy hay bắt chúng phải gọi là Chúa, đâu biết rằng chính Âu Mỹ đã công nhận Giêsu bị oan ức khốn khổ đẩy lên làm Chúa Cứu Thế (Jesus was Christed). Tiếc thay, chỉ là một thứ Chúa nửa mùa, nên chúng phải banh chân, banh cẳng Đức Bà ra khoe đồng trinh cho thêm phần … cải lương, ghê gớm, và long trọng! Những bọn nặng phần trình diễn như đi nhà thờ ngoi lên ngồi hàng đầu, hay được chức hàm, không lương, không quyền là đại diện Công Đòan hoang tưởng là cái gì ghê gớm lắm, mà đúng ra là trò hề bên ngòai, hình nhân để các cha khóac lác là có đại diện, có dân chủ. Nhưng toàn là bịp và bịp tối đa để các cha sống hùng sống mạnh, cái cóc gì cũng nhân danh Chúa, mà hậu trường là các cha tụt quân phơi cu (Priests loosing pants) thôi! Đến nỗi các hãng dâm phim thua lỗ, phá sản, vì không dâm…sống (live sex) như các cha. Than ơi! Ngòai đồng thiếu thợ gặt, nhưng trong nhà thờ và nhà dòng thừa thợ chọi, mới đau cho Chúa nhiều lắm! Nguy khốn vô cùng của Công Giáo Áo Đen Bán Nước cho Tây không phải là húc đầu vào tường lửa đòi đất cho thằng khâm sứ thôi, mà truyền thông phát triển trên mạng toàn cầu và tội ác các cha lắp đít các trẻ em và tá lả địt các sơ (mở ngoặc chúng tôi phải tả chân, vì chúng đi địt, không thể vô lễ viết là chúng xoa đầu bố chúng!), hay nữ giáo dân ngoan đạo vv … không còn được che dấu chạy tiền chạy bạc nữa! Lúc đó cảnh chán đạo chạy đạo bỏ đạo như bên Âu Châu, sẽ đến và Tận Thế không phải một ngày cho bọn giáo hội và bọn linh mục dâm tặc, mà kéo dài lê thê buồn thảm và dơ dáy với hình ảnh linh mục khỏe như trâu chọi các bà sơ ngày đêm, sáng tối. Nhà thờ trở thành nhà thổ của các cha! (The best Church whorehouses of the World).

Trước khi đòi đất cho thằng khâm sứ bọn giáo hội nấp đằng sau làm trò hề cầu nguyện đòi đất, chúng hãy hiểu thế nào là Công Lý mà giáo hội có Ủy ban Công Lý và Hòa Bình! Dĩ nhiên ủy ban ấy nếu là trò đại bịp vẩy nước thánh thì không nói chi! Song nếu không phải là trò đại bịp, một lần nữa khai thác sự bốc đồng nhẹ dạ của giáo dân trong màn kịch đọc kinh chung ồn ào, hãy nhớ đến đất đai ruộng vườn mà bọn Công Giáo khuyển sinh và khốn nạn dưa hợi Tây cướp được, như chùa Báo Thiên (Nhà Thờ Lớn Hànội), hay Vương Cung Thánh đường La Vàng là Chùa Lá Vằng ngày xưa. Bọn giáo hội thầy dùi đòi đất có hiểu thế nào là Công Lý không? Hay bản chất của chúng chỉ là khuyển sinh cướp bóc và dâm dục nhờ ơn Chúa?

Khi tự hào về tổ chức chặt chẽ, đoàn thể báo chí và truyền thông ồ ạt hùng mạnh, nhưng bọn chúng quên không biết một điều rất quan trọng là có hết, có nhiều, có tất cả mà mang thân làm tôi đòi cho ngọai bang thì ích gì? Thật vậy được cả thế gian mà mất linh hồn vì bán nước cho La Mã phản bội ông bà tổ tiên thì có ích chi, phải vậy không, stupid?

Thậm chí khi báo Kitô hữu hay diễu đàn ráo rân lên tiếng khoác lác tôn trọng sự thật vì sự thật giải thóat chúng ta vv … Có thật như vậy và có dám như vậy không? Sự thật của chúng là sự thật của Chúa, mang linh hồn và cứu linh hồn cho Chúa chứ gì? Thế mà giáo hoàng đã ngỏm Gioan Phaolồ II và Biển Đục XVI lần lượt sang thăm Chúa chùm loài quỷ đỏ Cuba là Fidel Castro, hay Thủ Tướng CSVN, sao chúng không dám lên tiếng dù là tiếng chống Cộng dỏm của chúng? Hay là chúng đợi khi hai thánh cha chí tôn hơn Chúa của chúng quỳ xuống hôn chân loài quỷ đỏ như tiền nhân của chúng hôn chân Tây chúng mới bừng tỉnh dậy và lên tiếng bảo vệ sự thật cha thánh chống Cộng của chúng đã lật lọng tráo trở?

Nhưng thật ra chúng đọc kinh thánh mà như mù! Ngay sau khi Giêsu chịu phép rửa của Gioan Báp Tít, y đã vội vàng ăn lội vào trình diện Satan trong 40 ngày, không biết có làm lễ hôn chân quỷ xứ không? Như thế là Thiên Chúa đã phải vào “hỏa ngục” thông đồng với ma quỷ chăng để được phép bắt đầu khai đạo? Có lẽ như thế thật, nên khi chúng chưa thấy hai thánh cha của chúng chưa vào ăn nằm ngủ nghê với chúa chùm Fidel Castro hay TT VN, nên chúng cho là ôm chân loài quỷ đỏ chưa đủ chăng? Không đâu, chúng sợ mó dái ngựa mà thôi! Thế mà chúng là trí thức rêu rao bảo vệ sự thật và nói thay cho những người không có tiếng nói. Khi chúng câm họng thì nói thay cho ai nữa? Thật là đại bịp, nếu chúng can đảm nói thẳng là hiếu đễ bảo vệ sự thật cho bọn đầu nậu khuyển sinh đạo La Mã, hay nói thay cho bọn ấy, vì chúng nó bị hoàn cảnh khó khăn ép buộc phải câm miệng hến! Thế mới biết bà chủ báo Cali can đảm hơn chúng nhiều vì khi có vụ các cha phơi cu thánh, bà loan tin các đại diên địa phương của bà không cho viết; ít ra cũng là nể nang tình chị chi em em với thủ túc địa phương. Hóa ra bọn diễn đàn diễn đúm gáy như gà sống … thiến, nhưng thua bà chủ báo, nghĩa là không cao hơn ngọn cỏ! Hoặc chúng cũng không bằng bà Thuần Đỗ, cho tà lọt của bà viết điện thư hăm dọa chúng tôi sẽ bị Giêsu “vặn cổ”. Ôi sao chúng công khai đạp vào mặt Chúa của chúng tàn nhẫn như vậy được nhỉ? Bàn tay bị đóng đinh chẩy máu cứu chuộc, bàn tay làm phép lành cắt không khí ra làm bốn – đẹp quá – vậy mà chúng cả gan biến tay Chúa thành tay sát nhân vặn cổ, bọn Công gíao La Mã ta lẽ nào chuyên môn đao phủ sát nhân sao Chúa? Chúng sát nhân người ta hiểu được, chúng muốn Chúa của chúng phải sát nhân, rõ ràng là chúng giết Chúa lần nữa, vậy xin Chúa vì an tòan sinh mạng, đừng Phục Sinh nữa, Chúa nhé! Xin ngợi khen bà A.D. có tay sai mang Chúa ra hăm dọa, khủng bố, rõ ràng là ma cô nhúng nước!

Lại nói về vụ lưu manh cầu nguyện đòi đất cho Tây, chính quyền phải cương quyết. Giặc Áo Đen mà TT Bush còn sợ và gọi là Satan, ngay khi ra ứng cử, chưa trúng cử, trong khi Công Giáo Mỹ có 63 triệu giáo dân, mới thấy rõ chính giới Mỹ sợ Công Giáo La Mã thế nào? Bởi vậy khi có nguy cơ nổi loạn do thực dân đạo bên ngòai xúi dục và tay sai đạo bên trong làm phản, không cách nào hơn là phải quyết tâm dẹp loạn và hy sinh. Đúng như TT Abraham Lincon nói khi đất nước lâm nguy vì nội loạn, phải quyết tâm tận diệt để cứu nước! Chết bao nhiêu cũng chịu, tốn bao nhiêu cũng chịu và mất bao lâu cũng chịu. Ngàn năm một thuở đại khối dân tộc không theo đạo ngọai, được thoát ách thiểu số làm tay sai cho ngọai quốc cai trị, lại sơ hở hay mềm lòng cả nể nhân nhượng cho bọn Giặc Áo Đen lật thế cờ, đưa đất nước và dân tộc vào vòng nô lệ nữa, thì kháng chiến, đánh đuổi ngọai xâm, các chiến sĩ, cán binh, cán bộ hy sinh xương máu vô ích sao? Chính quyền nên biết sai một ly đi một dặm, lúc đó có phải chịu phạt chu di triệu tộc, cũng không đủ để đền tội. Hãy tưởng tượng một chế độ nô lệ nữa, mà bọn giám mục tay sai lại vâng lời bọn La Mã, cái đạo dậy con cháu chúng ta thờ phượng bọn giáo hoàng hồng y La Mã, hơn ông bà tổ tiên, thì tự hỏi xem còn sỉ nhục nào bằng. Lúc ấy bọn có đạo cuồng tín lại tha hồ vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho bọn Việt gian. Máu nào đổ nước mắt nào vơi cho bọn Công Giáo than vãn là phải làm dân hạng hai trong thời thống nhất độc lập, nhưng chúng lại chịu làm công dân tôi mọi của Tây, và huyênh hoang được Chúa ban cho ơn Phục Sinh làm con Pháp, con Mỹ như trước để các cha của chúng bán phiếu bầu cử dân biểu. Để bọn dân biểu Công Giáo gia nô xuất ngọai buôn thuốc chơi lâu, lịch ở truồng hay máy làm to chim, có bọn linh mục là khách hàng mua như tôm tươi, thay vì theo luật đạo nên chỉ biết thủ dâm, ý dâm vv … Nhưng những thứ đó chỉ là lặt vặt khi điều quan trọng chính không phải là đòi đất mà là những thách thức áp lực chính quyền trên bàn cờ, một nước đi phải vô cùng thận trọng của chính quyền, của Đảng, nhà nước và của đại khối không theo đạo của bọn Giặc Áo Đen Công Giáo La Mã. Một sự bất cẩn quốc dân và nhà nước mất hết. Còn nếu chúng thua, chúng không mất gì nhiều, ngoài một số giáo dân ngu đạo phải làm quân thí và chúng lại bầy trò phong thánh tử đạo như đã phong cho bọn phản quốc và nội tuyến trong đám 117 tên khốn kiếp. Sau đó bọn hội đồng giám mục tay sai lại bầy trò cầu nguyện khác, khi chúng biết chắc lúc nào thực dân đế quốc cũng hậu thuẫn và cung cấp tiền bạc cho chúng như trong Liên Minh Thánh rẻ tiền, hay cả vũ khí bom đạn nữa.

Đại khối dân tộc không theo đạo ngọai, không đui mù trước mưu đồ gian manh cầu nguyện để Bọn Giặc Áo Đen một lần nữa phục hoạt và bọn dựng dàn hỏa thiêu Công Giáo, và mù quáng theo Kinh Thánh trả thù.

Đừng quên tố cáo Công Giáo là Mafia của thống Đốc Alabama, Frank Keating !

Đừng quên cha dòng Chúa Cứu Thế Giuse Nguyễn Thanh Sơn gọi giáo hội Công Giáo La Mã là quỷ (Dracula).

Vì vậy phải biết tại sao trong cùng một dòng Thiên Chúa Giáo (Christianity), người Mỹ can đảm nói lên sự thật chính bọn báo đạo khoe khoang bảo vệ sự thật không dám nói là :

Công Giáo La Mã có thể lừa bịp rất lâu, nhưng không thể nào lừa bịp được mãi mãi!

Công Giáo La Mã có thể lừa bịp được rất nhiều người, nhưng không lừa bịp được tất cả mọi người.

Có lẽ vì vậy mà một trường Đại Học Ý cấm không cho Biển Đục XVI đến đọc diễn văn! Có lẽ họ muốn nói cho y nghe hai câu trên, nhưng lịch sự không cho y đến – biết đâu chẳng có gì khác – là y chỉ lại làm trò cầu nguyện không dám làm dấu thánh giá như một lần trong đền Hồi Giáo ở Turkey!

Giuse Phạm Hữu Tạo
Đông Dương Thời Báo, ngày 15/2/08

Viết thêm: Khi thằng linh mục xụp lỗ Thúy Kiều đi tù về tội phản quốc, không những bọn giáo hội tay sai bị bọn báo ngoại chống Cộng dỏm buộc tội là im lặng hèn nhát. Đến ông cố nội của chúng nó là thằng La Mã cũng im lặng hèn nhát luôn, vì bọn Công Giáo độc tài giáo phiệt sợ nhất tự do ngôn luận. Có tự do ngôn luận chúng trả lời cách nào chúng biết Giêsu là Chúa Cứu Thế? Có phải là cường đạo ác giáo, ép buộc không? Thật là trò hề khi chúng bịp giáo dân bằng câu: “Phúc cho ai không thấy mà tin!” Phải nhận bọn chúng kiếm ăn hết sẩy. Ông linh mục viết sách Mật Mã Bùi Đình Thi, xác nhận trước khi là linh mục, ông là người Việt Nam. Nhưng biết đâu còn có nhiều người sau khi tôi là linh mục, tôi lại là Việt gian, phục vụ quyền lời bọn bạch quỷ La Mã. Thật ra thời đại này làm Việt gian cho La Mã được gì nhiều? Trước sau, vì là quan thầy, chúng vẫn coi như tay sai phương tiện thôi. Đạo Công Giáo cần số đông để có thế lực của số nhiều, chứ về giáo lý, Kinh Thánh, Phúc Âm, khi chịu khó nghiên cứu thì đúng như linh mục thần học Pháp J. Turmel (cách dây 100 năm-tổng giáo phận Rennes) xác nhận là ông đã “mửa ra Kinh Thánh!” Tôi là người gặp nạn phải làm giáo dân, rồi phải làm nạn nhân, từ đó phải làm chứng nhân. Tôi có đủ trinity (ba ngôi) để viết thành thực chính xác về tà đạo Công Giáo!

Tôi xin nói tôi không có ma học, quỷ học, hay thần học gì hết, chỉ là những kinh nghiệm chua chát về đạo mà tôi thấy là tôi bị bịp!

Giuse Phạm Hữu Tạo, ĐDTB
nhandanvietnam.org

Categories: Chúa Dê-su | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Vatican và chủ trương hủy diệt tôn giáo và nếp sống văn hóa Việt Nam

Chủ truơng của Giáo Hội La Mã hay Tòa Thánh Vatican là phải hủy diệt các tôn giáo khác, nhất là nếp sống văn hóa của các quốc gia nạn nhân bất lợi cho niềm tin vào thượng đế của họ. Từ năm 1975 cho đến nay, Vatican và giáo dân Ca-tô người Việt càng ngày càng có những thái độ và hành động chống đối mãnh liệt các việc tôn vinh và lập đền thờ các vị anh hùng dân tộc của dân ta.

Nỗ lực “triệt hạ” các biểu tượng khác không chỉ tiềm tàng trong các quyển giáo lý, mà còn được thể hiện mãnh liệt qua các “tác phẩm” của những con chiên “gương mẫu” của đạo Chúa. Tiêu biểu có thể kể : cuốn Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiểng (Paris: TXNH, 2001), và mới đây, cuốn DVD Sự Thật Về Hồ Chí Minh của Linh-mục Nguyễn Hữu Lễ cùng con chiên Trần Quốc Bảo vừa cho phát hành mấy tháng vừa qua (năm 2009). Những hành động này có xứng hợp với các khẩu hiệu “công bình” và “bác ái” mà các nhà truyền giáo đã mỏi miệng uảng cáo hàng ngày hay không?

Bài viết này có mục đích phân tích nguyên nhân của những thái độ và hành động hủy diệt các tôn giáo và nếp sống văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam ta.

Trước mắt, ta có thể nhìn thấy được hai lý do cho các hành động này.

Thứ nhất,

Vì mang căn bệnh cuồng tín, giới tu sĩ áo đen và giáo dân người Việt luôn luôn tỏ ra là những người ngoan đạo và hãnh diện “sống đạo theo đức tin Ki-tô”. Để tỏ ra ngoan đạo, họ triệt để vâng lời và tuân thủ tất cả những điều Giáo hội bắt buộc qua các tín lý vừa hoang đường vừa ngược ngạo. Tính chất ngược ngạo này luôn luôn đặt hàng đầu trong các tín lý của họ để hạ bệ tất cả những biểu tượng thần linh khác với Chúa Cha (Jehovah), Chúa Con Jesus và Bà Maria của họ. Những tín điều này đều có ghi rõ ràng trong sách Leviticus (26:1) với nguyên văn như sau:

“26.1.- Các ngươi không được tạo ra những hình tượng nào để sùng bái cho chính các ngươi; các ngươi cũng không được khắc chạm một hình ảnh nào hay dựng nên một trụ cột thiêng liêng nào để nâng cao cho chính các ngươi; ở trong vùng các ngươi cư ngụ, các ngươi cũng không được dựng nên một hòn đá nào có khắc chạm để cúi đầu nghiêng mình trước nó; vì rằng Ta là Thượng Đế của các ngươi.”

Vì Cựu Ước đã nói rõ như vậy, cho nên chủ trương hủy diệt các tôn giáo và các nếp sống văn hóa của dân tộc khác là đặc tính bất di bất dịch của các hệ thống giáo hội các đạo Chúa. Kết quả là họ tiếp tục gây chiến tranh khắp nơi, nóng hay lạnh, và dưới nhiều hình thức khác nhau mà bản chất vẫn là “thánh chiến”.

Chủ trương là như vậy, cho nên khi có quyền lực trong tay hay hoàn cảnh cho phép, thì Giáo Hội và con chiên của Giáo Hội không từ bỏ một thủ đoạn nào để biến chủ truơng này thành hành động, bất kể là dã man và bạo ngược đến đâu đì nữa họ cũng làm. Làm để vừa cưỡng bách người dân dưới quyền phải theo đạo làm nô lệ cho Giáo Hội và làm để cụ thể hóa những lời dạy như đã nêu lên ở trên.

Thứ nhì,

Từ khi Pháp – Vatican phát động chiến tranh đem quân tấn công, khai hỏa bắn phá các chiến thuyền của ta vào ngày 15/4/1847 rồi bỏ đi, và lai trở lại tấn chiếm nước ta vào năm 1858, cho đến ngày 30/4/1975, trên võ đài chính trị tại Việt Nam có hai phe đối đầu với nhau và coi nhau như là những kẻ tử thù:

a.- Một bên là Liên Minh Xâm Lược (Pháp – Vatican và sau này là Mỹ – Vatican.) Phe này được các linh mục và hầu hết nhóm thiểu số con chiên người Việt triệt để ủng hộ với tinh thần “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” và “giữ đạo, chứ không giữ nước”.

b.- Một bên là nhân dân ta và tất cả các tổ chức hay lực lượng lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta. Trong các lực lượng khởi nghĩa kháng chiến này, chỉ có Đảng Cộng Sản Việt Nam và Mặt Trận Việt Minh là đã hoàn thành được sứ mạng lịch sử này của dân tộc.

Cũng nên biết là bản chất của Giáo Hội La Mã gồm cả các linh mục và con chiên cuồng tín, đặt biệt là con chiên người Việt, thường tỏ ra khinh rẻ người thuộc các tôn giáo hay nền văn hóa khác. Họ coi những thuộc các tôn giáo khác là những quân mọi rợ, dã man và họ tự phong là có quyền cướp đoạt tài sản của dân ta, cưỡng bách dân ta làm nô lê và tru diệt dân ta nếu họ có khả năng hay cơ hội làm được. Điều này đã được viết thành văn bản trong Sắc Chỉ Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455).

01Linh-mục Trần Tam Tỉnh nói rõ sự thật này như sau:

“Theo quyền lực Chúa ban và quyền lực của Tòa Thánh, Đức Giáo Hoàng ban cho triều đình Lisbon (Bồ Đào Nha) “toàn quyền tự do xâm lăng, chinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân Sarrasins (tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của Giáo Hội, gặp bất cứ nơi nào: được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, lãnh địa, vương hầu, đất đô hộ và tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của chìm của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh viễn.” [1]

Đặc biệt hơn nữa là Giáo Hội La Mã cũng như giới tu sĩ áo đen và con chiên ngoan đạo triệt để tuân hành những điều ghi rõ trong thánh kinh là phải trả thù một cách hết sức dã man những cá nhân hay thế lực nào đã bị họ coi là kẻ thù. Sách Deuteronomy (Phục Truyền Luật Ký 19:21) trong Cựu Ước cũng nhắc lại lời dạy dã man này:

“19:21: Your eyes shall not pity, but life shall be for life, eye for eye, tooth for tooth, hand for hand, foot for foot” [“Mắt ngươi chớ thương xót: Mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền răng, chân đền chân.”]

02Sách The Decline and Fall Of The Roman Church cũng viết:

“Cruelty to enemies of Jesus within and without the heartland could be God’s vengence.” [Tàn bạo đối với những kẻ thù của Chúa Jesus ở trong hay ở ngoài các vùng đất (do Giáo Hội La Mã kiểm soát) là sự trả thù của Thượng Đế.”] [2]

Giáo Hội lại dạy tín đồ rằng những lời ghi trong thánh kinh và những lời Giáo Hội dạy dỗ đều là những lời Chúa dạy hay được Chúa “mặc khải” (sic) cho Giáo Hội. Người nào làm đúng như lời dạy của Chúa và của Giáo Hội thì sẽ được Chúa ban cho phước lành, và sẽ được cho lên thiên đàng để đời đời hưởng nhan Chúa. Người nào không tin theo hay không triệt để tuân theo lời dạy cúa Chúa và của Giáo Hội thì sẽ bị Chúa đày xuống hỏa ngục.

Với cái bản chất tham lợi và háo danh (đa phần là do lúc trước ông bà theo đạo để được những quyền lợi vật chất, “theo đạo có gạo mà ăn”) những người này luôn luôn hăng say, năng nổ làm theo những lời “dạy” của Giáo Hội để hy vọng sẽ được “Chúa” trong giáo hội ban cho những lợi lộc, hay có nhiều cơ hội được chút danh hờ.

Chúng tôi chỉ xin trích dẫn lời tuyên bố của ông Ngô Đình Nhu vào khi ông Ngô Đình Diệm mới được Liên Minh thánh Mỹ-Vatican đưa lên cầm quyền để độc giả nhìn thấy rõ cái bản chất hay thực trạng của những chính quyền đạo phiệt Ca-tô, :

“Tôi có cả một chương trình đã bàn kỹ với Đức Giám Mục sẽ lần hồi tiến chố mà Hội Truyền Giáo hoạt động một thế kỷ mới đạt tới, còn chúng ta chỉ cầm quyền mười năm thôi là cả miền Nam này sẽ theo Công Giáo hết.” [3]

Phần nói về hành động của chủ truơng dùng bạo lực để cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải theo đạo đã được chúng tôi trrình bày đầy đủ trong các Chương 66, 67, và 68 (Mục XX, Phần VI) trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã. Trong bài viết nầy, chúng tôi xin giới han chỉ trình bày:

1.- Vatican với những hành động đánh phá và phỉ báng tôn giáo cổ truyền tại Việt Nam, và

2.- Vatican với những hành động phỉ báng và đánh phá nếp sống văn hóa tôn vinh và thờ cúng anh hùng dân tộc của dân ta.

SÁCH LƯỢC ĐÁNH PHÁ VÀ PHỈ BÁNG
CÁC TÔN GIÁO CỔ TRUYỀN CỦA DÂN TỘC TA

Sách lược của Vatican trong chủ trương đánh phá các tôn giáo cổ truyền của các dân tộc nạn nhân bị chinh phục (mà Việt Nam là một thí dụ điển hình) được điều nghiên rất công phu và được tiến hành từ bước thứ 1 (giáo dục giáo dân), rồi khi nào có hoàn cảnh thuận tiện thì sẽ tiến hành bước thứ 2 (bằng hành động cụ thể). Sách lược này cũng được áp dụng đối với các nhà viết sử có tác phẩm nói lên những sự thật về những việc làm bất chính, bất nhân của Vatican cũng như đối với các chính khách hay chính quyền không chịu khuất phục hay có chính sách đi ngược lại với chủ trương của Giáo Hội La Mã. (Đây là trường hợp của chính quyền Việt Nam hiện nay.)

Bước thứ nhất: biên sọan thành văn bản để giáo dục

Bước đầu của Giáo Hội La Mã trong chủ trương đánh phá và hủy diệt tôn giáo cổ truyền của dân tộc Việt Nam là việc biên sọan thành văn bản để giáo dục con chiên và phải được phổ biến sâu trong cộng đồng con chiên hay trong các họ đạo tại các địa phương. Từ đầu, cuốn sách Phép Giảng Tám Ngày của Linh-mục Alexandre de Rhodes, trong đó đặc biệt có Chương Bốn, tác giả đã dùng những lý luận chủ quan, trịch thượng và những ngôn từ thiếu văn hóa đúng theo truyền thống của Đạo Ki-tô La Mã, để phỉ báng và mạt sát các tôn giáo cổ truyền của dân ta.

Ai cũng biết rằng các tôn giáo cổ truyền của dân tộc còn được thể hiện ra bằng những nếp sống văn hóa cổ truyền của đất nước. Đó là một nền đạo lý vị tha gồm những quy tắc đạo lý nhân bản để cho mọi người theo đó mà hành xử sao cho “vừa mắt ta ra mắt người” (kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân). Đó là nếp sống vừa nặng tính hiếu hòa, khoan dung và nhân ái, vừa nặng tính tín ngưỡng với lòng tôn kính tất cả các đấng thần linh trong thế giới vô hình một cách hết sức vô tư vô, vô vị lợi. Trong nếp sống văn hóa đó, người Việt Nam chúng ta không đặt nặng vấn đề dâng lễ vật cúng tế như một thứ đồ hối lộ để mong được các đấng thần linh ban ân sủng hay phép mầu, phép lạ gì hết, và cũng không có ý đồ cầu xin để được xóa bỏ những tội ác do chính mình đã gây ra. Nhờ có những nếp sống văn hóa cao đẹp như vậy mà các xã hội Đông Phương mới có được sự hài hòa giữa các đạo Khổng, đạo Lão, đạo Phật và đạo Thờ cúng tổ tiên. Các tôn giáo này gặp nhau ở chủ trương mở rộng tâm hồn để đón nhận tất cả những tư tưởng hay triết thuyết cao đẹp của tất cả các tôn giáo hay của nền văn hóa từ phương trời khác, do đó người Á đông có lòng khoan dung về tôn giáo. Lòng khoan dung tôn giáo như vậy đã khiến cho trong xã hội Đông Phương nói chung, và Việt Nam nói riêng, có rất nhiều người sống theo cái nguyên tắc “một tôn giáo là tốt, vậy thì càng nhiều tôn giáo càng tốt hơn”. Sự kiện này được nhà viết sử Virginia Thompson viết:

“Tôn giáo ở Việt Nam có thể so sánh như một khu rừng nhiệt đới trong đó không có một cây nào chiếm giữ một chỗ biệt lập. Không có biên giới rõ ràng giữa các tôn giáo ở Việt Nam, và ở đây một người có thể tin theo hàng nửa tá tín ngưỡng mà không cảm thấy mâu thuẫn. Người Việt Nam sống theo nguyên tắc nếu một tôn giáo là tốt thì ba tôn giáo càng tốt hơn. Nếu có gây ra hỗn loạn thì ít nhất cũng làm mất đi tính cách cuồng tín về tôn giáo. Cả lòng khoan dung và nghi thức tôn giáo đều bắt nguồn từ Trung Hoa nhưng cũng bao gồm rất nhiều tín ngưỡng bản địa (Việt Nam) mà không bao giờ bị xóa bỏ hay biến mất.” [ “The religions of Annam [Vietnam] have been compared to a tropical forest where no one tree can live isolated. There is no clearcut boundary between them, and one may hold simultaneously and without friction a half dozen beliefs. The Annamites [Vietnamese] work on principle that if one religion is good, three are better. If the result is chaos, there is at least a comforting absence of fanaticism. Both this tolerance and the all pervading formalism of Annamite [Vietnamese] religions, which are Chinese origin, cover a multitute of indigenous beliefs that have never been eradicated…”] [4]

Tiến-sĩ Vũ Tam Ích nói rõ ràng hơn như sau:

“Người Việt Nam tin rằng có rât nhiều loại thần khác nhau ở khắp mọi nơi trong Thiên Nhiên. Trên Trời dưới đất ở đâu cũng có đầy dẫy những thần là thần. Ở trên mặt trời, mặt trăng, các hành tinh, tinh tú đều có thần hết. Thần làm cho gió và mây di chuyển. Thần làm ra mưa làm ra sấm sét. Ngay ở cả những nơi như trên đồi, trong các dòng sông, dòng suối, trên các cây cối, trong các ruộng lúa, trên các hòn đá cũng như trong nhà, phòng ngủ, nhà bếp cũng đều có thần ngự trị cả. Thêm vào đó, người ta còn thờ Trời, thờ thần Đất (thổ công), thần nông, và mỗi làng đều có thờ thành hoàng, vị thần này có địa vị chính thức ở Việt Nam.” [“The Vietnamese people believed that spirits of many different kinds exist everywhere in Nature. Heaven and Earth are, so to speak, crowded with spirits, which occupy the sun, the moon, the planets, and the stars, which move the winds and the clouds, which make rain and thunder, which dwell in hills, streams, trees, ricefields, stone, as well as in each house, room, kitchen. In brief, everything has its own spirits. Added to that was the cult of Heaven, Earth, deities of agriculture, and village genii, which had acquired an official status in Vietnam.”] [5]

Nhờ những đặc tính khoan dung theo tinh thần của đạo nhân trong Khổng Giáo và đức từ bi hỉ xả của Nhà Phật mà người dân Việt Nam nói riêng, người dân Đông Phương nói chung, không mang căn bệnh cuồng tín về tôn giáo. Cũng vì thế mà các quốc gia Đông Phương không hề xẩy ra chiến tranh tôn giáo và cũng không hề xẩy ra chuyện chính quyền bách hại tôn giáo.

Tính cách đa dạng tôn giáo, thờ cúng quá nhiều thần linh như vậy là hoàn toàn trái ngược với chủ trương độc thần của đạo Thiên Chúa, đặc biệt là các hệ phái Ki-tô giáo và điển hình là đạo Ki-tô La Mã hay Giáo Hội La Mã. Tôn giáo này chỉ tôn vinh và kính thờ có vị ác thần bạo ngược là Chúa Cha Jehovah [như được mô tả trong chính Cựu Ước] và Chúa Con Jesus bất hiếu [như được kể lại trong chính Tân Ước] mà họ gọi là Jesus Christ hay Chúa Cứu Thế. Chính những lời phán của vị Chúa Con Jesus được ghi lại trong Tân Ước sách Mathew (10:34-36) đã nói lên đặc tính khùng khùng điên điên, phi luân, bất nhân và bất hiếu của Chúa Con Jessus. Điểm quái lạ là tôn giáo này không những đã thờ phượng hai cha con ông Chúa Jehovah như vậy mà còn cưỡng bách các nhóm dân khác tôn giáo theo cái tôn giáo quái đản này và hủy diệt các nếp sống văn hóa và các tôn giáo cổ truyền của họ.

03Vì có chủ trương trịch thượng như vậy nên Linh-mục Alexandre de Rohodes viết cuốn Phép Giảng Tám Ngày và dành hẳn Chương Bốn (được gọi là Ngày Thứ Bốn) để gièm pha, phỉ báng và hạ nhục các Giáo chủ và tôn giáo cổ truyền của dân ta bằng những ngôn từ vô giáo dục và vô văn hóa.

Sách Phép Giảng Tám Ngày được in bằng hai thứ tiếng Việt và La-tinh gồm 324 trang, do nhà in của Thánh-bộ Truyền Giáo ấn hành vào năm 1651. Trong phần Phép Giảng Ngày Thứ Bốn, tác giả Alexandre de Rhodes vu khống, bịa đặt ra nhiều điều xấu xa để phỉ bang và làm hạ giá Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo và đạo thờ cúng tổ tiên bà của người Việt Nam. Chính vì thế cho nên sách này không được chính quyền ta trước năm 1885 và chính quyền Bảo Hộ (do người Pháp cầm trịch) không cho phép lưu hành. Dưới đây là những lời lẽ do chính nhà truyền giáo Alexandre de Rhodes viết:

1.- Về đạo Khổng:

“Nhân vì sự ấy trong Đại Minh (Trung Hoa) thì lấy thờ ông Khổng là nhất, mà gọi Thánh-hiền, là thánh và hiền nhất vậy. Xong lẽ nói thế ấy chẳng phải lẽ đâu, vì chưng hay là ông Khổng Tử ấy biết đức Chúa cả làm nên moi sự, là cội rễ mọi sự thánh, mọi sự hiền, hay là chẳng biết. Vĩ bằng đã biết, mà làm thày, thì phải dạy đầy tớ cho biết cùng, mà thờ đấy cho nên. Song le ông Khổng chẳng có làm sự ấy, vì vậy chẳng phải hiền, chẳng phải thánh, thật là độc dữ, vì sự nhất phải hay đầu nhất, mà chẳng có dạy ai. Ví bằng ông Khổng chẳng biết đức Chúa trời là cội rễ, và cội rễ mọi sự lành, nên thánh, nên hiền làm chi được?” Vì vậy thì chẳng khá gọi ông là thánh sốt. Huống lọ lấy phép phải thờ một đức Chúa trời mà thôi; cũng chẳng nên cầu đí gì đí gì cũng ông Khổng, vì chưng mọi sự ta phải cầu và cậy một đức Chúa trời mà thôi.” [6].

2.- Về đạo Phật:

“Những sự dối trá của Thích Ca về linh hồn ta: Bởi tam giáo này, như bởi nguồn đục, có ra nhiều sự dối khác. Song le bắt mỗi sự dối ấy chẳng có làm chi, vì chưng biết là bởi đâu mà ra, cho hay tỏ tường lả dối thì à vừa. Như thế có chém. cây nào đục cho ngã, các ngành cây ấy tự nhiên cũng ngã với. Vậy thì ta làm cho Thích Ca, là thằng hay dối người ta, ngã xuống, thì mọi truyện dối trong đạo bụt bởi Thích Ca mà ra, có ngã với thì tỏ.” [7].

3.- Về đạo thờ cúng tổ tiên:

Mà sao người An Nam dám cúng cho cha mẹ, khi đã sinh thì, những của dối ấy? Có kể rằng: đốt thì mã biến hóa ra khác. Nó làm vậy phải chốc, vì đốt thì phần ra lửa, phần thì ra gio (tro). Mà gửi phần nào cho cha mẹ? Ví bằng gửi gio thì làm sao cho cha mẹ ở trong gio mà sướng ru? Mặc gio mà sạch sẽ và lịch sự lắm ru? Ví bằng gửi lửa, ắt thật gửi lửa, vì chưng khi làm những việc dối thì phạm tội, học mà bắt chước cha mẹ xưa có làm thế ấy, cho nên có thêm hình lửa cho cha mẹ đã qua đời này.” [8]

Những bản văn thiếu văn hóa với những lời lẽ vô cùng hạ cấp trên đây đối với các tôn giáo và tín ngưỡng cổ truyền của dân ta chỉ được sử dụng trong các xóm đạo mà thôi. Lý do có thể là chính quyền bảo hộ lúc đó do phe Thực Dân Cấp Tiến người Pháp cầm trịch. Phe này vốn đã không ưa Giáo Hội La Mã, lại sợ phản ứng của nhân dân ta, cho nên cuốn sách này mới bị bị chính quyền Bảo Hộ Pháp-Vatican (Pháp luôn luôn nắm thế thượng phong) không cho phép phổ biến công khai.

Mãi đến cuối thập niên 1950, khi chế độ đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm đã được chính quyền Mỹ bảo vệ, được củng cố vững mạnh và đang tiến hành Kế Hoạch Công Giáo Hóa (Spanish Inquisition hay Sứ Mạng Constantine) tại miền Nam Việt Nam, bọn tay sai của Giáo Hội mới cho in lại cuốn sách này lồng trong một tác phẩm khác có danh xưng là ”Giáo Sĩ Đắc Lộ Và Tác Phẩm Quốc Ngữ Đầu Tiên do Linh-mục Nguyễn Khắc Xuyên và Phạm Đình Khiêm (không biết ông này có phải là linh mục hay không) biên soạn và được nhà xuất bản Tinh Việt Văn Đoàn (Ban Sử Học, 232/17 Hiền Vương, Saigon) phát hành vào khoảng tháng 5 năm 1961. Đây cũng là một chiến dịch được phối hợp với việc chính quyền đang tiến hành Kế Hoạch Da-Tô Hóa để làm hạ giá nền đạo lý Tam Giáo cổ truyền của dân tộc Việt Nam ta lúc bấy giờ.

Sau này, vào sau năm 1975, cuốn sách này được nhà Xuất Bản Đại Kết ở Việt Nam in lại nguyên bản gốc, nhưng không thấy ghi thành phố hay nơi xuất bản và năm xuất bản. Hiện chúng tôi có cả bản chụp (photocopied) của bản gốc do Nhà Xuất Bản Đại Kế in lại và bản chụp của nhà xuất bản Tinh Việt Văn Đoàn in và phát hành vào năm 1961.

Họ không phải chỉ rao giảng những lời lẽ chống đối, phá bỏ tôn giáo và tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc mà còn ra công dạy dỗ giáo dân người Việt không được công nhận và cũng không được tuân hành luật pháp của chính quyền Việt Nam nếu chính quyền này không chịu khuất phục hay không thần phục Giáo Hội La Mã. Bản văn sử dưới đây là bằng chứng:

“Các vị truyền giáo còn yêu cầu người Công Giáo Việt Nam đừng thừa nhận quyền lực Nhà Vua và luật pháp nước họ. Họ nói với các “con chiên”: Đức Giáo Hoàng ở La Mã (Rome) mới là vị vua tối cao duy nhất của họ, họ chỉ tuân phục quyền lực Tòa Thánh Vatican.” [9]

Bước thứ hai: Chủ trương đánh phá các tôn giáo của dân ta được thể hiện ra bằng hành động cụ thể.

Vì bị ảnh hưởng sâu nặng của những lời dạy trên đây của Giáo Hội, nhất là được nhắc nhở thường xuyên, cho nên giới linh mục của Giáo Hội và giáo dân người Việt đã dựa vào quyền lực của chính quyền Bảo Hộ Liên Minh Pháp-Vatican trong thời kỳ 1862-1954 và chính quyền Liên Minh Mỹ-Vatican ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 để tiêu hủy các công trình kiến trúc thuộc các tôn giáo khác (chùa chiền, miếu đền, đình, quán và các cơ sở khác) vào những khi họ có cơ hội.

Có nhiều nơi, họ phá hủy các công trình kiến trúc của các nơi thờ tự như chùa, đình, miếu đền rồi chiếm đất xây Nhà Thờ và thiết lập các cơ sở khác ngay ở trên đó. Tòa Khâm Sứ của Tòa Thánh Vatican tọa lạc trên thửa đất số 42 Phố Nhà Chung, Hà Nội, Ngôi Nhà Thờ Đức Bà ở giữa Thành Phố Hồ Chính Minh, Đền Thờ Đức Mẹ La Vang ở Quảng Trị ở vào trường hợp này và chỉ là một vài thí dụ điển hình trong rất nhiều trường hợp tương tự như vậy. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày khá đầy đủ trong Chương 29 (Mục X, Phần III) trong bộ sách Lịch Sư và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã. Chương sách này có tựa đề là Cướp Chùa, Chiếm Đất Xây Nhà Thờ, Chiếm Đoạt Ruộng Đất của Nhân Dân và có thể đọc online trên sachhiem.net.

Có nhiều nơi, họ phá hủy các công trình kiến trúc thuộc về tôn giáo cổ hay văn hóa có truyền của dân tộc ta với mục đích duy nhất là chứng tỏ cho các đáng bề trên của họ thấy rằng họ đã tuân hành đúng theo thánh kinh (sách Leviticus 26: 1-18) đã dạy. Một trong những trường hợp phá hủy các nơi thờ tự của các tôn giáo khác xẩy ra vào mùa thu năm 1954. Lúc đó, khi rút quân vào miền Nam đám lính đạo của Linh-mục Hoàng Quỳnh đã phá hủy Chùa Một Cột ở Hà Nội. Sự kiện này được sách Lột Mặt Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị ghi lại như sau:

“Ngôi chùa lịch sử này kể từ ngày dựng chùa cho đến ngày 10/09/1954 mới bị phá hủy do toán lính công giáo của Lm Hoàng Quỳnh đặt mìn giật sập. Toán lính công giáo này từ Bùi Chu, Phát Diệm lên tạm trú tại Trường Thiếu Sinh Quân Hà Nội để chờ phương tiện vào Nam. Một nhóm lính công giáo trong đó có Cai Long đã tham dự vào việc đặt mìn giật sập Chùa Một Cột vào đêm 10/09/1954. Cai Long sau này là Thượng Sĩ thuộc Tiểu Đòan 3, Trung Đoàn 46, Sư Đoàn 25 Bộ Binh. Thượng Sĩ Long là bạn thân thừ hồi còn nhỏ với Trung Tá Nhẩy Dù Đào Văn Hùng, cựu Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3 Nhẩy Dù và Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 46 Bộ Binh. Thượng Sĩ Long đã vui miệng khoe thành tích giật sập chùa Một Cột trong lúc vui say cùng đồng đội.” [10]

Sau đó, ngôi chùa này được chính quyền miền Bắc trùng tu như cũ. Năm 2006, khi về thăm lại quê nhà, người viết có đến thăm và thấy có rất nhiều du khách đến cúng lễ và thăm viếng.

Những hành động như vậy thường xẩy ra ở bất kỳ nơi nào trên thế giới và vào bất kỳ thời điểm nào, chứ không phải chỉ ở Việt Nam mà thôi. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày đầy đủ trong Chương 8 (Mục III, Phần II) trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã, tựa đề là Hủy Diệt Nền Văn Minh Nhân Loại và Thành Tích Tàn Sát Lương Dân.

Trên đây là nói sơ về những hành động phá hủy những công trình kiến trúc của các tôn giáo cổ truyền của dân tộc và chiếm đất để xây nhà thờ và các cơ sở khác của Vatican, hoặc là chỉ phá hủy các công trình kiến trúc của các nền văn hóa và tôn giáo khác theo cái bản chất hay truyền thống dã man mà họ đã hấp thụ được qua nếp sống văn hóa Ki-tô của họ.

Nguyễn Mạnh Quang

[Source: http://www.sachhiem.net/NMQ/NMQ024.php]

CHÚ THÍCH

[1] Trần Tam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Nhà Xuất Bản Tre: 1978), tr. 15.

[2] Malachi Martin, The Decline and Fall Of The Roman Church (New York: G.P. Putnam’s Sons, 1981, p. 110-111.

[3] Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân – Tập I (Los Alamitos, CA: Nhà Xuất Bản Việt Nam, 1989), tr. 428.

[4] Vũ Tam Ích, A Historical Survey Of Educational Developments In Vietnam (Lexington, Kentucky: College of Education, Uuniversity of Kentucky, 1959), p. 27.

[5] Vũ Tam Ích, Ibid., p. 27.

[6] Nguyễn Khắc Xuyên và Phạm Đình Khiêm, Giáo Sĩ Đắc Lộ và Tác Phẩm Quốc Ngữ Đầu Tiên (Sàigòn: Tinh Việt Văn Đoàn, 191), tr 81

[7] Nguyễn Khắc Xuyên và Phạm Đình Khiêm, Sđd., tr. 83

[8] Nguyễn Khắc Xuyên và Phạm Đình Khiêm, Sđd., tr. 87.

[9] Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam 1858–1897 (Saint Raphael, Pháp: TXB, 1995), tr.17.

[10] Cửu Long, Lê Trọng Văn, Lột Mặt Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị (San Diego, CA: Mẹ Việt Nam, 1991), tr 51.

NDVN, ngày 31/10/08

nhandanvietnam.org

Categories: Chúa Dê-su | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Những Tổ chức Vũ trang và Hội đoàn, Đảng phái chống lại Công cuộc Kháng chiến dành Độc lập của Nhân dân Việt Nam

Vài lời của Giao Điểm: Để bổ túc cho bài viết “Vai trò của chính quyền trong mối tương quan Công giáo và Dân tộc’ của tác giả Charlie Nguyễn, chúng tôi công bố thêm ‘Phần đầu’ trong loạt bài sưu tầm từ tài liệu “Nghiên cứu về chiến tranh VN” của Mỹ: Những họat động của các phần tử đội lốt Thiên Chúa giáo trong thời kỳ kháng chiến 1945-1954 ở VN do chính Việt cộng xuất bản và chỉ lưu hành nội bộ. Qua nội dung của nó, chúng ta có thể hiểu được tại sao người Mỹ đã nhìn Việt cộng như những người yêu nước tiếp nối dòng lịch sử chống ngoại xâm, và những người Công giáo là những phần tử độc quyền và độc diễn chống cộng. Đó là mấu chốt lịch sử vô cùng hữu ích cho những nhà thiết kế chính sách ngoại giao trong mối thắt chặt tình hữu nghị Việt-Mỹ hiện tại và tương lai, nó cũng là những tia sáng soi chiếu vào tâm thức còn mơ màng của một số người Việt dân tộc.

  • Tài Liệu đặc biệt

Đi đôi với chính sách chống cộng, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo được sự chỉ đạo, giúp đỡ của đế quốc và tòa thánh Vatican đã tiến hành tập hợp các phần tử phản cách mạng, lôi kéo giáo dân vào các tổ chức vũ trang, các hội đoàn, đảng phái phản động của họ. Những tổ chức này mặc dù mang danh những danh hiệu khác nhau, nhưng về mặt ý thức tư tưởng, chương trình hành động thì đều chung một mục đích : chia rẽ hàng ngũ nhân dân yêu nước, phá hoại phong trào cách mạng và chống lại công cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

A. Những tổ chức lực lượng vũ trang

1. Đơn vị lưu động bảo vệ Họ Đạo (Unité mobile de défense de la Chrétienté)

Tại Nam bộ, ngay từ những ngày đầu kháng chiến, thực dân Pháp và bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo đã cho Léon Leroy tổ chức đạo binh lấy tên là “Đơn vị lưu động bảo vệ Họ Đạo” (U.M.D.C.). Đây là một đội nguỵ quân, bao gồm những phần tử lưu manh, núp dưới chiêu bài “chống cộng, bảo vệ đạo” để đi càn quét, cướp bóc, do thám cho thực dân Pháp.

Một tạp chí của thực dân Pháp đã vạch rõ những hoạt động của đạo binh đó như sau:

Tổ chức UMDC. đứng đầu là đại tá Leroy, một trong số những người tiếng tăm nhất của cái xứ sở lừng lẫy này. Hoạt động của ông trong vùng đất mà ông cai quản được đánh dấu đặc biệt bằng việc bình định … nghĩa là có thể đi lại trong khu vực đó mà không có tổn thất gì.

Khi quân viễn chinh tới, ông ta đã lập đội du kích đầu tiên của mình. Quân số những tổ chức này chẳng bao lâu đã lên tới 700 người (1). Ông nói : Với những người của tôi, tôi đã chuẩn bị sẵn sàng những đơn vị cần thiết cho sự tiếp tục cuộc bình định” (2).

Đơn vị lưu động bảo vệ Họ Đạo lúc đầu hoạt động mạnh ở Bến Tre. Năm 1949, tên bù nhìn Trần văn Hữu tìm cách phát triển đội nguỵ quân này. Ông ta tổ chức bắt lính trong đồng bào theo đạo Thiên Chúa ở Mỹ Tho, Trà Vinh, Thủ-dầu-một, Gò Công để lập các đội nguỵ quân đi càn quét giết hại nhân dân.

2. Công giáo cứu quốc – Tự vệ – Lưu động tự lực quân.

Tháng 10-1945, tại Bùi Chu, Phát Diệm, Lê hữu Từ âm mưu tổ chức cái gọi là “Công giáo cứu quốc”. Bề ngoài y tuyên bố lừa bịp “Công giáo cứu quốc đứng trong Việt Minh”, nhưng thực chất thì lợi dụng danh nghĩa “Công giáo cứu quốc” để tập hợp lôi kéo giáo dân phá hoại công cuộc kháng chiến.

“Công giáo cứu quốc” tổ chức những lớp huấn luyện cách ly gián bộ đội, cách giết người, bỏ thuốc độc, tập hợp thành những đội như “đội Thiết huyết” chuyên đi cướp bóc, phá hoại chính quyền, gây rối loạn ở địa phương.

Cuối năm 1946, Lê hữu Từ triệu tập hội nghị các linh mục bắt các xứ phải góp tiền mua vũ khí cho “Công giáo cứu quốc”. Chúng đã mua được nhiều vũ khí đưa về Phát Diệm. Sau đó, Lê hữu Từ ra thông tư cho các xứ phải chuyển “Công giáo cứu quốc” thành “Tự vệ cứu quốc”. Chúng cưỡng bức thanh niên từ 18 tuổi trở lên phải vào tự vệ, ngày đêm canh gác, ai trốn tránh thì phải vạ tuyệt thông. Chúng còn lợi dụng phong trào quần chúng rào làng chống Pháp để bắt giáo dân rào nhà xứ, nhà thờ, đắp ụ, đào hầm bí mật v.v…

Tự vệ của Lê hữu Từ thường lén lút cướp giật vũ khí của cán bộ Chính phủ ta đi công tác và gây ra những vụ ám sát, giết người.

Tháng 10-1949, thực dân Pháp nhảy dù xuống Phát Diệm và tiến đánh Bùi Chu. Bọn đội lốt Thiên Chúa giáo đội lốt cấu kết chặt chẽ với giặc và làm tay sai đắc lực cho chúng. Lê hữu Từ cử Hoàng Quỳnh tiếp xúc với quân đội Pháp, xin lập khu tự trị và tổ chức tự vệ. Sau khi thỏa thuận với Pháp, Hoàng Quỳnh ra lệnh cho các đội tự vệ :

Từ nay nhất trí theo một lập trường chung cộng tác với quân đội Liên Hiệp Pháp, ủng hộ chính phủ quốc gia do Quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu”. (3)

Chúng đổi tên “Tự vệ cứu quốc” thành “Tự vệ khu tự trị”, do linh mục Hoàng Quỳnh làm tổng chỉ huy, thiếu tá Thảo làm tham mưu trưởng. Lê hữu Từ nêu khẩu hiệu “Phúc tử vì đạo”, “Bảo vệ Chúa” để dụ dỗ thanh niên vào tự vệ và đi nguỵ binh cho Pháp. Cha phó xứ Văn Giáo là Trần Hòa liên lạc với tổng bộ tự vệ Phát Diệm và bốt Kim Đài rồi về xứ kêu gọi:

Thanh niên hãy đi vệ sĩ, bảo hoàng để bảo vệ đạo, nên có chết cũng được tòa thánh coi như là tử vì đạo, được lên thiên đàng thẳng rẵng”. (4)

Ngày 20-12-1949, theo lệnh thực dân Pháp và bù nhìn Bảo Đại, Lê hữu Từ lại thành lập thêm đội “Lưu động tự lực quân”. Đây là một đội nguỵ quân có tổ chức chính quy của vùng Bùi Chu, Phát Diệm do tên thiếu tá bù nhìn Ngô cao Tùng chỉ huy. Đội này đã cùng các đội tự vệ đi càn quét, khủng bố đồng bào và gây ra nhiều tội ác.

Đầu năm 1951, Lê hữu Từ phải giải tán khu tự trị, trao quyền hành chính lại cho thủ hiến bù nhìn Bắc bộ. Nhưng Từ vẫn giữ quyền chỉ huy 5.000 tự vệ. Thánh 5-1951, thực dân Pháp giải tán tổ chức tự vệ và lôi kéo thanh niên vào các đội nguỵ binh. Nhưng 70% tự vệ xin giải ngũ, 10% bị bắt ép sát nhập vào tổ chức Bảo chính đoàn (5) , 20% vào quân đội Liên Hiệp Pháp (6) . Lưu động tự lực quân của Lê hữu Từ cũng phải đổi ra thành Tiểu đoàn 18 nguỵ binh Việt Nam.

B. Những Hội đoàn, Đảng phái phản động.

Suốt trong thời kỳ kháng chiến, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo liên tiếp tham gia và tổ chức những hội đoàn đảng phái phản động. Những tên cầm đầu các tổ chức này hầu hết là những phần tử lưu manh, địa chủ phong kiến phản động. Hoạt động của chúng đã gây nhiều tội ác đối với đồng bào ta.

1. Những đảng phái do phần tử Việt gian tổ chức có sự tham gia của những phần tử phản động đội lốt Thiên Chúa giáo.

a. Việt Nam quốc dân đảng.

Từ khi quân đội Tưởng giới Thạch rút khỏi miền Bắc Việt Nam thì các chi bộ Việt Nam quốc dân đảng hầu như bị tan rã. Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, thực dân Pháp nâng đỡ cho Việt Nam quốc dân đảng (VNQDĐ) hoạt động trở lại. Ở vài nơi, đảng này đã tung bọn tay sai về các thôn xóm tập hợp những phần tử lưu manh, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo để tổ chức các chi bộ.

Tại Hà Nội, Việt Nam quốc dân đảng vẫn liên lạc với Nguyễn tường Tam, Nguyễn hải Thần ở Trung quốc.

Sau 1947, phần tử VNQDĐ cấu kết với bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo triệu tập cuộc hội nghị tại hội quán Nhà chung Phát Diệm để bầu ban chấp hành tỉnh bộ thay cho Mai quang Chiểu và đưa các tên ký Ban, tu sĩ Cán vào ban chấp hành. Nói chung, tại vùng tự do, nhóm VNQDĐ hoạt động bí mật, tinh vi. Ở Liên khu III, chúng thường nấp sau bọn phản động đội lốt thầy tu để thúc đẩy bọn này gây ra những hành động rối loạn (như ở Phù Lưu, Kim Động, Phát Diệm). Chúng còn âm mưu đưa bọn tay chân vào hoạt động phá hoại trong cơ quan chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Việt Minh.

Trong các vùng địch kiểm soát, VNQDĐ và bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo hoạt động công khai. Chúng thường xin tiền trợ cấp của Pháp và in giấy bạc giả phân phát cho đảng viên hoạt động chống phá kháng chiến.

b. Đảng Phục quốc.

Năm 1947, 1948, đảng Phục quốc hoạt động bí mật tại Liên khu I và III. Cầm đầu tổ chức này là tên Nông quốc Long. Thực dân Pháp hết sức mua chuộc bọn này; chúng cho đón một số đảng viên Phục quốc về Lạng Sơn quấy rối tình hình.

Năm 1948, đảng Phục quốc có 40 tên. Chúng đặt trụ sở tại Kỳ Lừa, cấu kết với bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo và tìm cách gây cơ sở tại các vùng có giáo dân, nhất là ở Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên. (7)

Cũng như VNQDĐ, một số đảng viên Phục quốc ẩn nấp ở Nhà Chung cùng với bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo hoạt động phá hoại cách mạng, khủng bố tín đồ yêu nước, cướp bóc tài sản của nhân dân.

2. Những hội đoàn, đảng phái do bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo tổ chức:

Núp dưới chiêu bài “chống cộng, bảo vệ đạo”, từ năm 1946, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo đã đứng ra tổ chức những hội đoàn, đảng phái phản lại công cuộc kháng chiến giành độc lập của Việt Nam : “đảng Dân chúng Liên hiệp” (1946), “Liên đoàn Công giáo” (1946), “Công giáo vô tổ quốc hội” (1947), “Dân tộc Cách mạng đảng”, “Mặt trận Dân tộc giải phóng” (1947), “Mặt trận vô danh chống cộng” , “Liên tôn diệt cộng” (1950), và các tổ chức lôi kéo thanh niên, công nhân, v.v…

Sau đay chúng tôi giới thiệu một vài nét về một số hội đoàn đảng phái phản động này.

a. Đảng Dân chúng Liên hiệp:

Cuối năm 1946, đầu 1947, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo tổ chức “đảng Dân chúng Liên hiệp” (DCLH) ở Liên khu III. Chúng tập hợp bọn lưu manh phản động và lôi kéo giáo dân phá hoại kháng chiến.

Trong cùng tự do, bọn này hoạt động ngấm ngầm. Từ khi Pháp nhảy dù xuống Phát Diệm (10-1949), đảng DCLH hoạt động công khai ở Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình. Trong các vùng này, bọn chúng giữ những chức vị quan trọng trong các cơ quan nguỵ quyền.

Ngày 1-9-1950, Phạm ngọc Chi, giám mục Bùi Chu, gửi chỉ thị mật cho các linh mục phải gấp rút tổ chức và ủng hộ đảng DCLH. Do đó, tổ chức này phát triển mạnh vào năm 1950, 1951.

Ở Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Giao Thuỷ (Nam Định), bọn cầm đầu đảng DCLH đều tổ chức đội trinh sát, trại giam, bắt giết, tra tấn những giáo dân nào yêu nước. Bọn chúng liên tiếp mở những lớp huấn luyện quân sự, trinh sát, trinh sát. Tên phản động đội lốt thầy tu Nguyễn quang Ân, linh mục tổng quản Thái Bình, đã cung khai trong bản thú nhận sau:

Theo tôi biết thì Dân chúng Liên hiệp thân Mỹ vì không tin ở Pháp. Đối với đảng Dân chúng Liên hiệp vì là tổ chức của người Công giáo nên tôi tán thành bằng cách tuyên truyền cho vệ sĩ gia nhập. Khi đã lập tiểu đoàn rồi, bọn Dân chúng Liên hiệp còn xin phép tôi mở hai hay ba lớp quân sự nữa về các ngành như quân báo…”. (8)

Ở Nam Định, cầm đầu đảng DCLH là tên Lê thành Nhân, trưởng ty công an nguỵ quyền Bùi Chu. Các bộ phận huyện, xã đều do các tên trong ban quân chính nguỵ quyền, đồng thời là đảng viên DCLH cầm đầu. Bọn chúng ráo riết tuyên truyền chống cộng và phá hoại kháng chiến.

Năm 1952, chính phủ kháng chiến mở rộng khu du kích ở Liên khu III, đảng DCLH bị phá vỡ hàng loạt. Nhiều nơi đảng viên đã ra thú nhận với chính quyền kháng chiến.

b. Liên đoàn Công giáo

Năm 1946, Drapier, khâm mạng tòa thánh Đông dương ra chỉ thị cho các nơi tổ chức lại “Liên đoàn Công giáo” (hội này thành lập từ năm 1941 ở Bắc bộ và năm 1944 ở Nam bộ).

Tháng 2-1949, Lê hữu Từ đứng ra tổ chức “Liên đoàn Công giáo” (LĐCG) ở Phát Diệm, Bùi Chu, và bầu ban chấp hành địa phận. LĐCG là một tổ chức phản động, lôi kéo các đoàn thể, nhất là thanh niên, trí thức, công thương, học sinh, binh sĩ theo đạo Thiên Chúa và nếu cần còn có thể liên minh với các đạo giáo khác để chống lại phong trào cách mạng.

Trong ban chấp hành của LĐCG, ngoài các linh mục làm tuyên uý chỉ đạo còn có bọn cầm đầu các đảng phái phản động khác làm cố vấn. Nhiệm vụ cụ thể mà LĐCG giao cho các hội viên là : “tổ chức tự võ trang chống cộng sản, vận động các lực lượng công giáo và các đạo giáo hoặc tôn giáo liên minh để tấn công cộng sản”. (9)

Trong vùng tự do, ngoài mặt thì LĐCG tuyên truyền kháng chiến đánh Pháp, nhưng thực chất bên trong thì ngấm ngầm chống lại chính quyền kháng chiến.

Từ 1946-1949, tại Liên khi III, LĐCG đã chuẩn bị điều kiện cho thực dân Pháp nhảy dù đánh chiếm Bùi Chu, Phát Diệm. Năm 1950, Trần văn Hữu đến thăm Phát Diệm và nói về LĐCG như sau :

Cũng vì Đức Cha (10) đã khéo lợi dụng LĐCG để chuẩn bị đầy đủ nên khi quân của Quốc trưởng tới đâu đều có liên lạc và hậu thuẫn vũng chắc” (11).

Trong vùng địch kiểm soát, LĐCG công khai hoạt động, lôi kéo giáo dân chống lại phong trào cách mạng.

c. Công giáo vô tổ quốc hội.

“Công giáo vô tổ quốc hội” (CGVTQH) xuất hiện ở xã Lâm Hiến (Nghi Lộc, Nghệ An) năm 1947. Cầm đầu tổ chức này gồm những tên cha cố phản động. Tháng 8-1947, CGVTQH triệu tập một cuộc hội họp tại thôn Mỹ Yên, xã Văn Hòa (Nghi Lộc) để bầu ban quản trị. Chúng đã đưa linh mục Quế lên làm hội trưởng. Hoạt động của chúng nhằm lôi kéo giáo dân phá hoại công cuộc kháng chiến của toàn dân.

d. Dân tộc cách mạng đảng và Mặt trận dân tộc giải phóng:

Năm 1947, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo cùng bọn Việt Quốc, Việt Cách ở Liên khu III thành lập “Dân tộc Cách mạng đảng” (DTCMĐ) . Để tập hợp những phần tử phản cách mạng, DTCMĐ, còn tổ chức “Mặt trận Dân tộc Giải phóng” (MTDTGP), gồm bọn chúng và các hội đoàn đảng phái phản động khác.

Trong đảng quy của DTCMĐ, chúng ghi những lời lừa bịp :

Việt Nam dân tộc cách mạng đảng cùng với các đoàn thể chính trị khác hợp thành một mặt trận cùng chung phụng sự một mục đích là giành lấy độc lập và thu hồi toàn thể lãnh thổ cho Tổ quốc…

Thực chất thì mục đích của DTCMĐ và MTDTGP là làm tay sai cho thực dân Pháp, chống cộng sản, phá hoại công cuộc kháng chiến giành độc lập. Trong bản “Tuyên cáo quốc dân” của chúng có ghi rõ: Chỉ còn một con đường…. diệt trừ chủ nghĩa cộng sản. hãy nhiệt liệt ủng hộ mặt trận giải phóng dân tộc, tham gia vào mặt trận để đã đảo cộng sản”.

Ban chấp hành DTCMĐ và MTDTGP ở các huyện và phủ bộ hầu hết là bọn linh mục, tu sĩ phản động. Bọn chúng đều trang bị vũ khí như súng trường, lựu đạn.

Tên Nguyễn nam Hải là phái viên của MTDTGP trung ương được cử về Nam Định cấu kết với bọn linh mục phản động khác như Nguyễn đức Vinh, linh mục Tuyên, Quang. Ở Nam Định, tháng 5-1947, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo cử tên Nguyễn nam Hải tức Bốn Trác lên làm ban chấp hành tỉnh bộ MTDTGP; đến cuối năm 1947 chúng đưa tên Mại ngọc Quỳnh tức Hoàng Thắng lên thay tên Hải.

DTCMĐ và MTDTGP thường tổ chức ăn cướp dọc đường, giết người lấy của. Năm 1948, sào huyệt của chúng bị phá vỡ ở nhiều nơi.

e. Các tổ chức lôi kéo thanh niên

Bên cạnh những tổ chức trên, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo còn thành lập những hội đoàn, đảng phái phản động để lôi kéo, xúi giục thanh niên theo đạo Thiên Chúa phá hoại công cuộc kháng chiến của dân tộc. Chúng đã thành lập “đoàn Thanh niên Công giáo” (1946), “đoàn Thanh niên Công giáo diệt cộng” (1948), “đoàn Thanh niên trí thức Công giáo”, “đoàn Thanh niên học sinh Công giáo”, “đảng Thanh niên diệt cộng” (1949) v.v….

Đoàn Thanh niên Công giáo

Trước cách mạng tháng Tám, tổ chức này gọi là “Thanh niên Thánh thể” (Jeunesse de ‘Eucharistie). Năm 1946, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo đồi tên “đoàn Thanh niên Thánh thể” thành “đoàn Thanh niên Công giáo”. Năm 1947, tại Bùi Chu, Phát Diệm, núp dưới danh nghĩa Mặt trận Việt Minh, Lê hữu Từ lại đổi tên “Thanh niên Công giáo” thành “Thanh niên Công giáo cứu quốc”.

Cơ sở đơn vị của đoàn là nhà xứ, mỗi xứ có một chi đoàn do bọn linh mục phản động cầm đầu. Năm 1947, ở các xã Xuân Phương, Trực Hòa, Nghĩa Phong, Nam Thái (Nam Định), chúng thành lập 13 ban chấp hành xứ bộ “đoàn Thanh niên công giáo cứu quốc”. Chúng phân chia thành những bộ phận chuyên môn : ban quân sự, tuyên truyền, trinh sát, giao thông…. Cầm đầu ban chấp hành “đoàn Thanh niên công giáo cứu quốc” là những tên phản động đội lốt thầy tu, địa chủ gian ác, các đảng viên MTDTGP. Trong ban chấp hành đoàn “Thanh niên công giáo cứu quốc” xứ bộ Trực Hòa gồm có hai linh mục phản động, năm địa chủ gian ác, và ba đảng viên MTDTGP.

Trong thời gian từ 1946 đến tháng 10-1949, tại Liên khu III, “đoàn Thanh niên công giáo cứu quốc” bên ngoài thì chịu sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, nhưng bên trong chúng ngấm ngầm hoạt động chống phá chính quyền dân chủ. Trong nhiệm vụ của “đoàn Thanh niên công giáo” nêu rõ mục đích : “Bài trừ cộng sản, tuyên thệ xin tử vì đạo” (12). Tổ chức phản động này đã gây ra những vụ rối loạn ở Nam Định.

Từ khi Pháp nhảy dù xuống Phát Diệm, “đoàn Thanh niên công giáo cứu quốc” lại đổi thành “đoàn Thanh niên công giáo”, võ trang thành những “tiểu đoàn dân vệ”, tham gia nguỵ quân công khai chống lại kháng chiến.

Đoàn Thanh niên công giáo diệt cộng

Năm 1948, tại Hải Dương (vùng tự do) và một số nơi khác, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo thành lập “đoàn Thanh niên công giáo diệt cộng”. Trong các nhà thờ, bọn này xây hầm bí mật, sắm vũ khí và tổ chức canh gác. Chúng thường phao tin đồn nhảm gây hoang mang trong giáo. Mục đích hoạt động của chúng là chống cộng sản, phá hoại kháng chiến.

Đảng Thanh niên diệt cộng.

Đảng này xuất hiện ở Bùi Chu vào tháng 6-1949, do linh mục phản động Điền, bí thư tòa giám mục, phụ trách. Bọn chúng tập hợp những phần tử lưu manh và lôi kéo thanh niên theo đạo Thiên chúa hoạt động bí mật, phá hoại kháng chiến. khi Bùi Chu bị địch chiếm đóng, đảng này hoạt động công khai. Chúng ráo riết tuyên truyền chống cộng và tổ chức lùng bắt khủng bố những giáo dân yêu nước, có thành tích kháng chiến.

f. Các tổ chức lôi kéo công nhân.

Bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo thấy nắm thanh niên chung chưa đủ, chúng còn âm mưu đi sâu vào các giai cấp, đặc biệt chú ý lôi kéo công nhân theo đạo Thiên Chúa vào cá hội đoàn phản động của chúng. Nghiệp đoàn lao công công giáo là một trong những hội đoàn phản động đó.

– Nghiệp đoàn lao công công giáo.

Từ năm 1949, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo thành lập “Nghiệp đoàn lao công công giáo” ở các thành phố, vùng mỏ, bến tàu. Mục đích của chúng là ngăn cấm công nhân không được đấu tranh cách mạng và cố lôi kéo họ tham gia những hoạt động phá hoại kháng chiến. Chúng ráo riết tuyên truyền lừa bịp, hô hào công nhân theo đạo Thiên Chúa vào các nghiệp đoàn phản động đó. Theo chúng, mục đích và hoạt động của “Nghiệp đoàn lao công công giáo” là : “huấn luyện cho giới lao động biết sử dụng quyền lợi, để họ đừng theo cộng sản mà thi hành giai cấp đấu tranh làm cách mạng đổ máu”. (13)

Trong tổ chức “Nghiệp đoàn lao công công giáo”, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo chia công nhân thành từng giới, mỗi giới chúng đặt một linh mục phản động cầm đầu.

Như vậy là trong thời kỳ kháng chiến, bọn phản động cầm đầu giáo hội Thiên Chúa ở Việt Nam đã liên tiếp đứng ra tổ chức những hội đoàn, đảng phái phản cách mạng. Hoạt động của các hội đoàn, đảng phái này không ngoài mục tiêu đen tối : chia rẽ hàng ngũ nhân dân yêu nước, tập hợp những phần tử phản động, và lôi kéo, bắt ép tín đồ tham dự những hoạt động phá hoại của họ. Nhưng quần chúng giáo dân ngày càng giác ngộ. Không một mưu đồ thâm độc nào, không một lực lượng đen tối nào có thể chà đạp, ngăn cản lòng yêu nước và phong trào cách mạng của giáo dân. Những tổ chức hội đoàn, đảng phái phản động kể trên dần dần bị mất ảnh hưởng trước quần chúng giáo dân và bị giáo dân vạch mặt.

Trích phần II trong : “Những Hoạt Động Của Bọn Đội Lốt Thiên Chúa giáo trong thời kháng chiến (1945-1954)” , Quang Toản – Nguyễn Hoài , nhà xuất bản Khoa học 1965

Chú thích:

(1) theo báo cáo của Hội nghị Uỷ ban khánh chiến hành chính Nam bộ, tháng 4-1950, thì năm 1950, do âm mưu của giặc, quân số của tổ chức UMDC. đã lên tới 4.000 người.

(2) bài “Việt Nam tiến tới một sự thống nhất” của Labessière, đăng trong tạp chí Pháp (La Revue Francaise năm 1952.

(3) Báo Đời Sống, số 37, gnày 22-12-1953.

(4) Theo báo Sông Đào, cơ quan của đảng bộ đảng Lao Động Việt Nam tỉnh Nam Định, số 15, ngày 8-9-1961.

(5) Quân đội bù nhìn có 2 loại:
Bảo chính đoàn: đeo phù hiệu rồng vàng, có tính chất địa phương. Nhiệm vụ là canh gác công sở. Đội quân này gồm những phần tử bất mãn phản động ở địa phương, nên rất là tàn ác.
Vệ binh đoàn: đeo phù hiệu ba gạch đỏ, là một bộ phận của quân đội Liên hiệp Pháp.

(6) Theo báo cáo của Uỷ ban kháng chiến hành chính Hà Nội, tháng 8-1951 (tài liệu của phòng lưu trữ phủ thủ tướng).

(7) Theo báo cáo của uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khi I và của Bộ Nội vụ, năm 1948 (Tài liệu của Phòng lưu trữ, Phủ Thử tướng)

(8) Bản thú nhận của Nguyễn quang Ân, viết ngày 13-5-1954

(9) K.H. Một số tài liệu nói về giáo hội Thiên Chúa, Hà Nội, 1957, trang 48, sách lưu hành nội bộ.

(10) Chỉ Lê hữu Từ.

(11) K.H., tài liệu đã dẫn.

(12) K.H., tài liệu đã dẫn.

(13) Mai Anh, Vấn đề xã hội, Bùi Chu, 1950, trang 41

giaodiem.com

Categories: Chúa Dê-su | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Giáo hội gian ác

Trên đời này chẳng có tôn giáo nào cao hơn Lẽ Thật vì Lẽ Thật là chân lý hằng cửu. Cũng chẳng có tình nào cao đẹp hơn tình người với người, chứ không phải chỉ yêu Thiên Chúa, chà đạp con người như các tu sĩ của Vatican. Cả cái hệ thống tu sĩ của Vatcian là một tổ chức vĩ đại của những kẻ đạo đức giả. Chúng dựng lên thần linh quái đản là Thiên Chúa Ba Ngôi rồi nhân danh Thần Linh để khủng bố loài người và giết hại trên 200.000.000 sinh mạng vô tội trong 16 thế kỷ qua. Họ là cha đẻ ra các tai họa khủng khiếp cho loài người qua các chế độ nô lệ, chủ nghĩa diệt chủng Do Thái, chủ nghĩa phát Xít, chủ nghĩa Quốc Xã, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa kỳ thị phụ nữ, kỳ thị tôn giáo, kỳ thị chủng tộc và thậm chí cả chủ nghĩa Cộng Sản.

Năm 1917, Vatican đã viện trợ cho đảng Bolshervik của Lenin 660 triệu đô la (trị giá bằng nhiều tỷ đô la ngày nay) để Cộng Sản lật Nga Hoàng và diệt Chính Thống Giáo cho Vatican. Người Tây Phương có quá nhiều kinh nghiệm về Vatican nên đã gọi nó bằng một danh từ rất tượng hình và nhiều ý nghĩa, đó là Con Bạch Tuộc của Đức Chúa Trời (Octopus Dei). Sở dĩ mọi tổ chức tội ác còn tồn tại trên thế giới ngày nay là vì cái đầu của con bạch tuộc là Vatican vẫn còn tồn tại. Chỉ khi nào cái đầu của con bạch tuộc chết đi thì các cái vòi của nó là các thứ chủ nghĩa tội ác mới thật sự bị tiêu diệt.

Tất cả các cuộc chiến đấu của nhân loại ngày nay chỉ qui vào một cuộc chiến đấu duy nhất, đó là cuộc chiến đấu của những người thiện lành chống lại những thế lực tội ác do Vatican ngấm ngầm lãnh đạo. Con bạch tuộc khổng lồ Công Giáo La Mã cũng là đầu não của mọi hình thức khủng bố: Tòa án dị giáo với các dàn hỏa thiêu sống con người, bắt cóc ban đêm và đủ kiểu tra tấn hết sức dã man không kể xiết. Muốn hiểu tòa án dị giáo của Vatican kinh khủng như thế nào xin hãy đọc The Inquisition, Hammer of Heresy của Edward Burman, 254 trang. Dorset Press NY. 1992. Ngay trang đầu của cuốn sách, tác giả viết: “Tòa án dị giáo đồng nghĩa với khủng bố, bắt người ban đêm và đủ thứ tra tấn”. Nó cũng được mô tả trong The Pit and The Pendulum của Edgar Poe, trong kịch Opera của Don Alhambra, trong những chuyện kinh dị của Gilber, Sullivan, Verdi và cả trong thơ của Tennyson…” The (Inquisition is synonymous with terror, noctural arrest and torture…)

Qua 16 thế kỷ gieo rắc khủng bố cho loài người, tội ác chồng chất của Công Giáo La Mã đã cao ngất như núi. Đã đến lúc cái giáo hội của tội ác này phải đền tội và phải chết. Mới đây, nữ tu sĩ Angelica là người đứng đầu hệ thống truyền hình Công Gíao Mỹ “Eternal World Television Network” có 55 triệu khán giả tại 38 quốc gia có hệ thống tiếp vận của nó, đã tuyên bố trong một talk-show rằng: Thế giới Công Giáo không thể tránh khỏi đại thảm họa. Ngày tận thế của nó chỉ trong tầm tay. (Its end times are at hand). Mọi người Công Giáo đều tin rằng thế giới này sẽ có ngày tận thế, nhưng họ đã lầm. Thế giới này vẫn muôn đời tồn tại, chỉ có cái giáo hội khốn nạn của họ phải đến ngày tận số mà thôi!

Hòn đá tảng Phêrô đang biến thành bùn và cả tòa lâu đài Vatican đang lún xuống bùn dưới sức nặng của tội ác cao như núi đang đè lên đầu nó. Cái chết vô cùng nhục nhã của nó đang đến và phải đến trong những năm của thế kỷ 21. Cả thế giới còn lại sẽ thở phào nhẹ nhõm vì đã vứt đi được cái ung nhọt cương mủ trên cơ thể nhân loại ròng rã trong hơn 16 thế kỷ qua (tính từ ngày Constantine đẻ ra nó vào đầu thế kỷ thứ tư). Cả loài người thiện lành sẽ từ đây ung dung bước đi chững chạc vào một trật tự thế giới mới trong ánh bình mình đẹp vô cùng của thiên niên kỷ thứ ba. Khi “con bạch tuộc của Chúa Trời” không còn nữa, tất cả loài người sẽ dành lại vườn địa đàng của mình là trái đất này để kiến tạo cuộc sống thanh bình hạnh phúc cho các thế hệ con cháu đến muôn đời. Hallelujah! Hallelujah!

Thượng đế [Chữ Thượng Đế nói đây không cùng nghĩa với tín đồ Kitô giáo gọi.] chứ không phải Jehovah (con bò El) đã đang và mãi mãi tiếp tục kiến tạo vũ trụ hoàn toàn trong thinh lặng. Ngài đã mặc nhiên trao trái đất này cho toàn thể loài người chúng ta với lòng yêu thương vô hạn của Ngài. Thượng đế yêu thương loài người nên chẳng bao giờ Ngài muốn làm khổ con người. Chỉ có quỉ mới muốn làm khổ con người nên đã xúi bậy con cái của nó là Công Giáo gieo rắc đủ thứ tai họa cho loài người mà thôi. Chẳng có tôn giáo nào do Thượng Đế tạo ra mà tất cả đều là sản phẩm của con người. Tôn giáo chỉ có thể là chính đáng khi nó thật sự phục vụ con người. Mọi thứ tôn giáo nhân danh Thượng Đế chà đạp con người đều là tà đạo của sa tăng rồi phải bị tiêu diệt. Thánh linh của Thượng Đế cũng như Phật tính đều có sẵn trong tâm linh của mọi người chúng ta, đúng như lời Phật dạy: “Phật tại tâm”. Các thứ Phật hay Chúa trong các chùa và nhà thờ đều là đồ giả [Vì thế nên một hôm trời lạnh, một vị thiền sư bảo đệ tử đem cái tượng Phật bằng gổ chẻ làm củi.] do các tu sĩ của các tôn giáo tạo ra để lừa bịp con người. Đỉnh cao của mọi thứ đạo đức thật sự là lòng yêu thương Sự Thật. Tình yêu thương dàn trải giữa mọi người với nhau là nguồn hạnh phúc vĩnh cửu trên cõi đời này. Đó là thiên đàng duy nhất có thật chứ chẳng có một thiên đàng nào khác. Loài người làm khổ nhau do lòng tham lam ích kỷ là địa ngục duy nhất có thật chứ cũng chẳng có một địa ngục nào khác ở ngoài thế gian này.

Các tổ chức giáo hội là nguyên nhân gây ra thảm họa cho loài người chúng ta. Giáo hội tạo ra những ốc đảo tôn giáo chia rẽ con người. Các ốc đảo tôn giáo đó tranh chấp nhau để dành tín đồ nhằm tụ bè kết đảng không ngoài mục đích củng cố quyền lực cho các tu sĩ lưu manh của nhiều tôn giáo chứ cũng chẳng riêng gì của Công Giáo La Mã.

Cả ba tôn giáo Phật Khổng Lão đều đã du nhập vào nước ta gần 2000 năm qua mà dân tộc Việt nam không hề coi ba tôn giáo đó là ngoại lai. Cả ba tôn giáo, với các chủ trương đối nghịch nhau, đã hòa làm một trong lòng dân tộc mà ta thường gọi là “TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN”. Sở dĩ cả ba tôn giáo Phật Khổng Lão đã hòa đồng một cách tốt đẹp như vậy là nhờ ở yếu tố của ba tôn giáo đều không có giáo hội. Sau 1.11.1963, các tăng sĩ Phật Giáo bắt chước Công Giáo thành lập “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất”. Như Vậy, Phật Giáo hình như đã chủ trương đi vào con đường thế tục như Vatican từ đây? [Ban biên tập xin phép tác giả bỏ một trang vì thấy thiếu sử liệu.]

Giáo Hội Công Giáo Việt Nam luôn luôn phục vụ quyền lợi ngoại bang và đàn áp tôn giáo là một động lực thúc đẩy nhiều người Phật Giáo tham gia Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất để chống lại Công Giáo. Đối với nhiều người Phật Tử thì Công Giáo nguy hiểm hơn gấp trăm lần các tổ chức Cộng Sản, Công Giáo là yếu tố khiến cho chiến tranh Việt Nam kéo dài và càng ngày càng thêm thảm khốc.

Giáo Hoàng Gioan XXIII ủng hộ việc lật đổ và tiêu diệt chế độ Ngô Đình Diệm vì cho rằng chế độ Diệm đã đe dọa phá hoại chính sách hiệp thông của Vatican. Giáo Hoàng Gioan XXII đã chính thức gửi văn thư mắng nhiết Ngô Đình Diệm năm 63 về tội đàn áp Phật Giáo. Báo chí Hoa Kỳ xác nhận: “Giáo Hoàng Gioan XXIII bí mật hợp tác với Cộng Sản để chuẩn bị cho một nước Việt Nam thống nhất dưới chế độ Mác-xít của Hồ Chí Minh”. (Pope John XXIII secretly cooperated with the Communists in preparing a future united Marxist Việt Nam under Ho Chi Minh).

Ngày 30.1.1967, báo chí thế giới loan tin về cuộc tiếp tân của Giáo Hoàng Paul VI tại Vatican long trọng chào đón thủ tướng Liên Xô Podgorny để củng cố sự hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước Chư hầu của Cộng Sản tại Đông Âu (The new policy of Paul VI of full cooperation with Soviet Russia and the Communist satellites of Eastern Europe). Báo chí thế giới cũng xác nhận Paul VI là cha đẻ ra liên minh Vatican-Moscow. Liên minh này đã phá tan chiến lược chống cộng của Hoa Kỳ ở cả hai lục địa Âu châu và Á Châu. Liên minh Công Giáo với Cộng Sản đã trở nên một yếu tố quan trọng cho cuộc thất trận của Hoa Kỳ tại Việt Nam. (Paul VI fathered the Vatican-Moscow Alliance which undermined the Anti-Russian strategy of the US in Europe and Asia. This alliance became an important factor in the final defeat of the US is Viet Nam).

Paul VI dư biết Vũ Ngọc Nhạ là gián điệp Cộng Sản qua hai đời tổng thống Công Giáo đã góp phần quan trọng trong việc làm sụp đổ VNCH ngày 30.4.1975 nhưng y vẫn ban thưởng cho tên gián điệp Cộng Sản này huy chương cao quí của Tòa Thánh là “Huy Chương Hòa Bình” có in hình của giáo hoàng . Vì thế, Việt Nam Cộng Hòa rất cay đắng không bao giờ quên mối hận này đối với hai giáo hoàng Gioan XXIII và Paul VI.

Giáo Hoàng Jean Paul II hiện nay đang lên tiếng kêu gọi nhân dân toàn thế giới tha tội cho các tội các của Công Giáo La Mã trong 16 thế kỷ qua nhưng chưa đả động gì tới các tội ác của Công Giáo đối với dân Việt Nam.

Trong chiến tranh, các cha cố đã bòn rút viện trợ Mỹ che chở cho kẻ buôn lậu, đào binh, trốn quân dịch. Nhiều giáo xứ Công Giáo là những khu an toàn lý tưởng của Việt Cộng và các tội phạm đủ loại.

Công Giáo Bùi Chu Phát Diệm do Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi lãnh đạo chỉ tôn thờ thực dân Pháp, trước cũng như sau 1954. Trước 1954, họ chống Cộng điên cuồng, lợi dụng vũ khí của Pháp đi cướp phá các làng Phật Giáo, chiếm chùa làm nhà thờ, giết hại dân lành để cưỡng bức người ngoại đạo phải “trở lại đạo Công Giáo”. Chúng chống Cộng sản do lệnh của Giáo Hoàng Pius XII, một tên đồ tể của Đức Quốc Xã tại Rome.

Sau 1954, họ trở cờ hòa hợp với Cộng Sản, các khu đông giáo dân như Hố Nai, Gia Kiệm là các trung tâm khai thác gỗ bất hợp pháp. Họ phá rừng lấy gỗ kiếm tiền lo làm giàu và đóng thuế nuôi Việt Cộng. Hoàng Quỳnh, Lê Hữu Từ liên kết với bọn Mafia Bảy Viễn chống VNCH để làm lợi cho thực dân Pháp và Vatican của John XXIII và Paul VI. Ngày 12.11.1974, tập đoàn Hoàng Quỳnh Vũ Ngọc Nhạ và các nghị sĩ Công Giáo trong liên minh Nguyễn Gia Hiến đã đến xã trung lập Củ Chi gặp gở các đại diện của MTGPMN và Cộng Sản Bắc Việt để lập chính phủ ba thành phần thân Cộng Sản (Sách Ông Cố Vấn tập 3, trang 32-33).

Tất cả các Việt gian trong thành phần thứ ba gồm các cường hào ác bá của Bảo Hoàng trong chính quyền và quân lực VNCH, cũng như các tu sĩ làm chính trị đã là các thủ phạm chính yếu dẫn đến sự sụp đổ của VNCH ngày 30.4.75.

Tất cả chúng đều bỏ chạy sau 30.4.75 và hiện đang chiếm lãnh các tổ chức cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Họ liên tục chống phá tại hải ngoại dưới các hình thức chống Cọng giả vờ như đòi Nhân quyền Dân chủ cho Việt Nam… chúng đang lớn tiếng hô hào Tự do Tôn Giáo, thực chất là để biến tôn giáo thành nơi trú ẩn an toàn cho bọn Việt gian đủ loại ngõ hầu sau này chúng sẽ xuất phát từ các giáo hội trở ra chống phá chính quyền mới của Việt Nam.
Một số ít tu sĩ Phật Giáo cũng đi vào con đường hủ hóa với lối sống xa hoa và hưởng thụ chẳng khác gì các tu sĩ Công Giáo.

Với tổ chức giáo hội, Phật Giáo Việt nam có lẽ đang đi vào vết bánh xe đỗ của Công Giáo La Mã.

Tự do tín ngưỡng (Freedom of beliefs) là một hình thức của tự do tư tưởng không có nghĩa là tự do thành lập giáo hội. Mọi người đều có thể có tín ngưỡng (niềm tin) của riêng mình nhưng không nhất thiết phải có giáo hội. Tín ngưỡng là niềm tin trong lòng, còn giáo hội là một tổ chức có hệ thống tu sĩ chỉ huy và với những đoàn thể được đoàn ngũ hóa để theo đuổi những mục tiêu nặng về thế tục hơn là tâm linh tôn giáo. Giáo hội là định chế chính trị lũng đoạn quốc gia và chia rẽ dân tộc. Muốn bảo toàn sự thống nhất quốc gia và hạnh phúc dân tộc, việc cần thiết là phải xóa bỏ mọi tổ chức giáo hội, không phân biệt là của tôn giáo nào.

Sở dĩ Công Giáo La Mã đã biến thành một tổ chức tội ác lớn nhất lịch sử loài người chính vì nó đã tiêu diệt các chi phái Kitô để thành lập một giáo hội duy nhất do đế quốc lãnh đạo. Trước thế kỷ thứ 4, Kitô Giáo đã có nhiều chi phái chủ trương không thành lập giáo hội, không xây nhà thờ mà chỉ có phòng hội, không thờ ảnh tượng và không có giáo lý cứng nhắc.
Giáo phái Macionism gọi Jehovah của đạo Do Thái là quỉ. Họ tin rằng Thiên Chúa thật phải là Thiên Chúa của Tình Thương (Real God: God of Love).

Giáo phái Gnosticism thịnh hành tại Ai Cập và Tiểu Á, phân biệt Tinh Thần là Thiện, Vật Chất là Ác. Thiên Chúa là Tinh Thần cao thượng còn Vật Chất (matter) là Satan, biểu tượng của lòng tham vật dục thấp hèn. Họ cho rằng con rắn cám dỗ Adong Evà không phải là Satan mà là vị thần của sự khôn ngoan và tinh thần cao thượng. Con rắn đó thật tâm muốn giúp tổ tiên loài người ăn trái cây hiểu biết (The Tree of Knowledge) để trở nên khôn ngoan sáng suốt ngõ hầu thoát khỏi sự thống trị độc đoán của Jehovah. Con rắn không phải là quỉ mà là một đại ân nhân của loài người. Chỉ vì lòng sợ hãi hèn yếu mà Adong Evà đã không dám ăn trái cây hiểu biết nên đã không thoát ra được kiếp sống đau khổ triền miên do sự áp chế của ác thần Jehovah. Jesus là thần Logos, hiện thân của sự khôn ngoan, dạy loài người thoát khỏi trầm luân của thế giới vật chất. Jehovah không khôn ngoan bằng Logos. Danh từ Hy Lạp Gnostic có nghĩa là sự hiểu biết (knowledge), muốn ám chỉ Jesus là sự hiểu biết đích thực.

Giáo phái thứ ba là giáo phái thịnh hành tại Pháp do Irenaeus, giám mục tại Lyon, chủ trương. Năm 185, Irenaeus viết sách Against the Heretics” để chống lại hai giáo phái Macionism và Gnostic. Iranaeus chủ trương công nhận Jehovah của đạo Do Thái là Chúa Cha. Jesus là con duy nhất của Jehovah. Ý niệm về Đức Chúa Thánh Thần rất mơ hồ. Irenaeus xác quyết Chúa Jesus thực hiện cuộc cứu thế bằng cái chết đau khổ và 3 ngày sau sống lại hiển vinh. Cuốn sách Against the Heretics đã dọn đường cho sự hình thành bản tóm lược giáo lý gọi là “Đức Tin của các tông đồ” The Creed of Apostles) được Công Đồng Nicaea do Constantine triệu tập thông qua. Đó là sự xuất hiện của bài kinh đầu tiên của Đạo Công Giáo La Mã gọi là Kinh Tin Kính. Công Giáo La Mã là tôn giáo được cấu tạo bởi quyền lực của Constantine, dựa trên giáo lý của giám mục Pháp Irenaeus và được hoàn chỉnh bởi Augustine (như có trình bày ở đoạn trước).

Tất cả mọi giáo phái Kitô khác đi ngược lại với giáo lý của Irenaeus và Augustine đều bị Constantine và đế quốc La Mã tiêu diệt bằng bạo lực khủng bố. Có thể nói Công Giáo La Mã là tôn giáo của Chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Cuộc chiến đấu của nhân loại ngày nay là cuộc chiến đấu của những người thiện lành chống lại các thế lực tội ác đã gieo rắc đau khổ cho con người từ xưa đến nay. Thế giới chỉ có thể xây dựng được một trật tự mới khi nào các thế lực tội ác, dẫn đầu là Công Giáo La Mã, phải bị tiêu tan hoàn toàn và triệt để. Lương tâm và lương tri của nhân loại nhất quyết không thể cho phép nó tồn tại lâu hơn để kéo dài thêm nữa những chuổi ngày bi thảm của nhân loại.

Mọi người Việt Nam chúng ta phải góp công sức cùng toàn thể những người thiện lành trên thế giới mau chóng đẩy con quỉ Công Giáo La Mã xuống đáy địa ngục để chấm dứt hoàn toàn cái lịch sử tội ác gần 2000 năm của nó. Cần từ bỏ ác thần Jehovah và đám con cái của ác quỉ để dành lại vườn địa đàng của chúng ta là trái đất này. Chỉ có ác quỉ chứ không phải Thiên Chúa mới xua đuổi con người ra khỏi vườn địa đàng mà thôi.

Vatican trước đây đã đạt tới đỉnh cao danh vọng do cấu kết chặt chẽ với các chủ nghĩa quân chủ phong kiến, chủ nghĩa thực dân đế quốc, chủ nghĩa phát-xít và chủ nghĩa Đức Quốc Xã. Nó cấu kết với các bố già Mafia Ý và bọn khủng bố quốc tế… Tất cả các thế lực tội ác đồng lõa với Vatican đã gần như đang bị dồn vào thế cô lập. Ngày tận thế của nó không bao xa. Xưa kia Jesus thường hăm dọa mọi người là ngày tận thế đã đến gần trong tầm tay (Doomsday is at hand). Nhưng 2000 năm qua vẫn không có tận thế và sẽ chẳng bao giờ có. Cái mà Jesus không biết tới là cái giáo hội Công Giáo La Mã đang bên bờ “tận thế”. Cái câu nói của Jesus “Doomsday is at hand” chỉ đúng cho tình trạng hiện nay của Công Giáo La Mã mà thôi. Lịch sử tội ác của Công Giáo La Mã chống loài người là một hồ sơ dầy cộm đã đến lúc phải kết thúc. Các giáo hoàng tự xưng là đại diện của Chúa Cứu Thế (Vicars of Christ) chính là một danh hiệu làm nhục Chúa Cứu Thế hơn bất cứ cái gì khác.

– Đại diện Chúa Kitô như Giáo Hoàng Innocent (but not innocent) chỉ trong một buổi chiều giết 12.000 giáo dân tại Rome vì những người này đã dám chống lại y. Giáo hoàng này vượt xa hơn bất cứ một bạo chúa nào trên thế gian về tội giết người. Y là kẻ đã phát minh ra tòa án dị giáo (the Inquisition) gieo kinh hoàng tại Âu Châu liên tiếp trong 3 thế kỷ (13-16) và tiếp tục gây tội ác cho đến giữa thế kỷ 19 mới chấm dứt. Nỗi ám ảnh của dân Âu Mỹ về tòa án dị giáo được phản ảnh trong sử sách và trong cả những chuyện ghê rợn của Allan Edgar Poe. Sullivan, Verdi, Tennyson. Muốn tìm hiểu về tội ác của Giáo Hoàng Innocent này xin hãy đọc The Inquisition Hammer of Heresy, 253 trang của Edward Burman Dorset Press NY. 1992. Tội ác của Innocent kéo dài hơn 6 thế kỷ,10 triệu sinh mạng hầu hết bị thiêu sống trên dàn hỏa. Tòa án dị giáo là hiện tượng có tầm quan trọng căn bản trong lịch sử Âu Châu. Đó là một định chế xuất hiện từ thế kỷ 13 nhưng ảnh hưởng của nó còn kéo dài đến ngày nay. (Phenonmenon of fundamental importance in the history of Western Europe. As an institution, it came into being in the thirteenth century. Its effect are still felt today).
Tuy nhiên, đề cập đến tên vô địch dâm tặc phải kể đến đấng đại diện Chúa Kitô là Rodrigo Borgia tức “Đức Thánh Cha” Alexander VI (The Bad Popes, by E.R. Chamberlin. Dorset Press NY. 1969 pages 159-205).

– Giáo Hoàng Alexander VI cai trị Hội Thánh 11 năm (1492-1503). Lên ngôi giáo hoàng không do ai bầu mà do cậu ruột là Giáo Hoàng Calistus III truyền ngôi cho. Trước khi lên ngôi giáo hoàng thì y đã có vợ và 4 con đã lớn và thêm một đứa con hoang ngoài hôn thú. Việc đầu tiên là giáo hoàng phong chức cho đứa con trai tên Ceasare 18 tuổi và đứa con hoang chức vụ hồng y giáo chủ. Năm 1497, Alexander VI định đưa con thứ tên Juan lên ngôi giáo hoàng thì bỗng nhiên Juan bị giết bằng nhiều nhát dao và bị ném xác xuống sông Tiber. Người ta vớt xác Juan đem về cho giáo hoàng coi. Giáo hoàng xúc động quá đến phát điên. Y cho rằng giới quí tộc ở Rome đã hãm hại con trai yêu quí của y. Do đó, y bèn khởi động một cuộc khủng bố đẫm máu chống giới quí tộc La Mã.

Tuy là một bạo chúa, nhưng Alexander lại là một kẻ yêu chuộng nghệ thuật. Y đã để lại một kho tàng nghệ thuật là Đền Thánh Phêrô với các bức họa và tượng điêu khắc của hai vô địch kỳ tài là Michael Angelo và Leonardo Vinci. Chỉ vì muốn tạo cảm hứng cho Leonardo Vinci có thể mô tả sự đau khổ một cách linh động, y có sáng kiến đem các nạn nhân của tòa án dị giáo ra tra tấn trước mặt nhà nghệ sĩ tài danh này. Alexander VI có cô con gái rất xinh đẹp tên là Lucrezia. Mặc dù Lucrezia đã được gã chồng nhưng hai anh của nàng đều yêu nàng nên đã sát hại chồng nàng. Lucrezia trở về sống tại Tòa Thánh với cha ruột và hai anh mình. Lucrezia làm tình với cả cha và hai anh mình. Chỉ vì quá ghen, Ceasar đã giết em là Juan chứ chẳng phải là ai khác trong giới quí tộc La Mã. Mấy cha con của Giáo Hoàng Alexander VI thích ngồi xem những người khác làm tình tập thể. Do đó, Vatican thường xuyên diễn ra các cuộc dạ tiệc hết sức sang trọng tốn kém. Mỗi buổi dạ tiệc thường được triệu tập 50 gái điếm tuyển lựa tại Rome để vũ thoát y ngay tại phòng hội của Tòa Thánh. Các tu sĩ và nhân viên Tòa Thánh sau đó làm tình tập thể tại chỗ. Giáo hoàng cho người đi hứng các tinh dịch của đàn ông làm tình để phát thưởng. Ai có khả năng làm tình nhiều lần và xuất tinh nhiều lần đều được giáo hoàng và con gái phát thưởng! Sau đó, Lucrezia sinh ra một đứa con trai, không biết là con ai. Tuy nhiên, lúc đứa bé được 6 tháng tuổi, Giáo Hoàng Alexander đã công khai cho Lucrezia bế đứa nhỏ 6 tháng ngồi bên cạnh y khi dự các buổi tiếp tân công cộng. Từ đó, dân La Mã truyền tụng nhau một câu thơ “Giáo Hoàng Alexander là cha, là chồng, là cha chồng và là cha của cô dâu xinh đẹp Lucrezia”. Alexander không chỉ loạn luân với con gái của y mà còn loạn luân với hai cô em ruột. Một trong những vợ bé của giáo hoàng nầy là Vanozza del Cantanel có con gái riêng tên Rosa. Rosa sinh cho giáo hoàng tới 5 đứa con! (Babylon Mystery Religion, page 89). Với quá nhiều oán thù, ngày 18.8.1503, Alexander VI bị đầu độc chết bằng chất bột trắng (white poison powder).

Kể chuyện tội ác và các tật dâm ô vô đạo của các Giáo Hoàng La Mã thì thật vô tận. Xin quí độc giả tự tìm kiếm lấy tài liệu để đọc thêm. Ở đây tôi chỉ muốn bày tỏ một nỗi đau buồn là đồng bào Công Giáo Việt Nam hoàn toàn bị đám tu sĩ bưng bít nên họ cứ tưởng giáo hoàng là các bậc thánh sống để họ tôn thờ. Gia đình Công Giáo nào cũng thường có hình giáo hoàng được gia chủ đóng khung kiếng và treo ở nơi trang trọng gần như ảnh thờ. Các sách kinh nguyện Việt Nam có rất nhiều bài kinh cầu cho giáo hoàng. Giáo hoàng được giáo dân tôn kính và cầu nguyện cho nhiều lần gấp bội số lần cầu nguyện cho những người thân nhất của mình. Tại Rome, thỉnh thoảng cũng có các đám rước giáo hoàng ngồi trên kiệu do nhiều người khiêng. Năm 1951, chính kẻ viết bài này cũng đi dự một đám rước kiệu tấm hình lớn của đồ tể Pio XII tại Bùi Chu! Thật là một điều mỉa mai đau xót mà tôi khó có thể diễn tả bằng lời…

Cả thế giới ngày nay người ta đã biết nhiều về bộ mặt xấu xa tội lỗi đáng ghê tởm cùng cực của cái gọi là Tòa Thánh và những kẻ được tôn xưng làm “Đại Diện của Chúa Kitô” (Vicars of Christ). Nhưng tôi vô cùng ngao ngán và phải nói rằng tuyệt đại số đồng bào đồng đạo của tôi không biết tí gì về các điều đó. Mặc dầu tôi đã kể chuyện một số giáo hoàng tội lỗi tiêu biểu ở những đoạn trên, nhưng tôi tin rằng những chuyện đó chưa đủ để làm thay đổi cái não trạng đen tối của những người đồng đạo. Đây là lý do khiến tôi phải cố gắng viết thêm nữa về Vatican và giáo hoàng. Những điều tôi kể sau đây cũng chỉ là một số rất ít trong cả một rừng tài liệu hiện có trong các thư viện. Các tài liệu hết sức phong phú lên án Vatican và giáo hội Công Giáo sẽ không có tác dụng gì nếu không có người đem nó ra trình bày bằng Việt Ngữ để giáo dân Việt Nam có phương tiện tìm hiểu. Chính sự thiếu hiểu biết của giáo dân đã làm cho các tu sĩ lộng hành và khuyến khích họ tìm mọi cách ngăn cản giáo dân tìm hiểu sự thật về giáo hội. Chính sách ngu dân luôn luôn là một phương tiện hữu hiệu nhất của kẻ thống trị xử dụng để bảo vệ thế quyền cũng như thần quyền của họ. Giáo dân có mê tín mới đem tiền đến nhà thờ xin lễ hoặc dâng cúng, các cha cố mới có nhiều tiền để xây nhà thờ to đẹp hầu phô trương uy thế của mình. Giáo dân càng ngu dốt bao nhiêu, càng khúm núm ngoan ngoãn cha cố bấy nhiêu. Giáo dân khúm núm quị lụy với cha cố bao nhiêu, càng làm cho họ lên mặt bấy nhiêu. Nếu để cho cha cố tiếp tục lộng hành lũng đoạn cả khối giáo dân, chúng có thể sẽ tạo thêm nhiều Ngô Đình Diệm cai trị đất nước. Với cương vị là tổng thống đứng đầu một quốc gia, nhưng Ngô Đình Diệm vẫn lấy tư cách giáo dân trung thành của Vatican để cúi đầu khom lưng hôn nhẫn, hôn tay các hồng y đại diện Tòa Thánh. Cử chỉ đó của Ngô Đình Diệm đã nói lên tinh thần nô lệ của Công Giáo Việt Nam và đã làm nhục quốc thể không ít.

Sự ngu đốt là nguyên nhân đầu cùng của mọi hành vi sai trái. Tất cả những hành vi sai trái nói trên của tập thể giáo dân đều xuất phát từ sự tối tăm không biết gì về thánh kinh, giáo hội và tu sĩ: Thánh kinh là sản phẩm bịa đặt tạo ra một giáo hội gian dối. Giáo hội gian dối tạo ra một hệ thống tu sĩ gian manh. Sự ngu dốt là nền tảng của tất cả những thứ đó.

Hệ thống tu sĩ Công Giáo thế giới là hệ thống tu sĩ thiếu lương thiện, đứng đầu là giáo hoàng. Chức vị giáo hoàng chẳng phải do Chúa trao cho mà thường do cướp đoạt bằng đủ mọi thủ đoạn: hối lộ, mua chuộc, vận động chính trị và rất nhiều trường hợp là do mưu sát lẫn nhau. Chỉ trong vòng 12 năm (891-903), có 10 giáo hoàng liên tục giết lẫn nhau để đoạt ngôi giáo hoàng. Chức vị giáo hoàng là mục tiêu quyền lực mà kẻ lãnh đạo cao cấp trong giáo hội luôn luôn nhắm tới để tranh đoạt. Chẳng cần nói đâu xa, đương kim giáo hoàng Jean Paul II lên ngôi giáo hoàng năm 1978 là do y đã can dự vào việc mưu sát giáo hoàng tiền nhiệm là Jean Paul I bằng chất độc vào đêm 5.9.1978. Việc sản xuất chất độc giết người là nghề của Jean Paul II. Trong thời đệ nhị thế chiến, Jean Paul II lúc đó là thanh niên Ba Lan mang tên Karol Wojtila, giữ chức vụ Saleman cho công ty Đức Farben Chemical chuyên sản xuất độc khí thủy ngân (Cyanicgas) cung cấp cho Đức Quốc Xã dùng chế tạo hơi ngạt giết 6 triệu Do Thái trong các trại tập trung. Việc xử dụng chất độc được gọi là “Lentulo”, một thứ bột trắng chết người (the lethal white powder), là một truyền thống lâu đời của triều đình Vatican. Có lẽ khởi đầu từ thế kỷ II. Sử sách giáo hội La Mã ghi nhận con gái giáo hoàng Alexander VI là Lucrezia là một chuyên viên xử dụng chất độc giết hại nhiều người. Chính giáo hoàng Alexander VI cũng chết vì bị đầu độc năm 1503. Sách “The Pope Encyclopedia” liệt kê danh sách nhiều giáo hoàng bị mưu sát bằng chất độc bột trắng: Giáo hoàng duy nhất tại Vatican có gốc Đức quốc là Utrech bị mưu sát bằng thuốc độc năm 1073. Từ đó, người Ý dành độc quyền làm giáo hoàng cho đến ngày Jean Paul II lên ngôi năm 1978 không phải là người gốc Ý. Các giáo hoàng sau đây đều đã bị người kế nhiệm đầu độc để cướp ngôi: Pio VIII (1830), Leo XIII (1903). Pio X (1914) và Pio XI (1939).

Sách Babylone Mystery Religion liệt kê các vụ giáo hoàng kế nhiệm trả thù giáo hoàng tiền nhiệm. Điển hình là vụ Giáo Hoàng Stephen VI (896-897) trả thù giáo hoàng tiền nhiệm là Formosus (891-896). Sau khi giáo hoàng Formosus chết được 8 tháng, giáo hoàng Stephen VI vẫn ra lệnh quật mồ lấy bộ xương của giáo hoàng này đặt lên ghế giáo hoàng. Stephen VI đứng phía trước bộ xương tra hỏi và chửi rủa. Stephen VI kết án bộ xương của Formosus rồi truyền vứt bộ xương ra đường phố, cuối cùng được vứt xuống sông Tiber. Stephen VI kết tội Formosus rối đạo và sai lầm.

Giáo Hoàng Honorius I, sau khi chết cũng bị Tòa Thánh họp hội nghị đem hồ sơ ra xét xử năm 680. Giáo hoàng Honorius bị kết án là sai lầm và rối đạo! Vậy mà giáo dân Việt Nam vẫn đọc kinh “Đức Chúa Trời đã đặt Đức Giáo Hoàng lên quyền rất trọng, là cai trị các giáo hữu đời này, cho nên khi Đức Giáo Hoàng truyền sự nào chung cho các giáo hữu, cùng phán dạy phải tin cùng điều nọ chẳng nên tin thì Đức Chúa Trời hằng soi sáng cùng gìn giữ Đức Giáo Hoàng cho nên chẳng có lẽ nào sai lầm được.” (Toàn Niên Kinh Nguyện Bùi Chu, trang 326).(95)

CHARLIE NGUYỄN

dongduongthoibao.net

Categories: Chúa Dê-su | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sự thật về cái gọi là “Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Cho Việt Nam”

Ngô Thị Hiền - Kẻ cầm đầu CRFV

Từ năm 1998 đến 2001, chị em Ngô Thị Hiền, lãnh đạo cái gọi là “Ủy ban tự do tôn giáo cho Việt Nam”, đã tổ chức hàng chục đợt “quyên góp” nhưng số lượng tiền “quyên góp” đã không được công khai rõ ràng. Khi thì Hiền công bố kết quả các đợt quyên góp được là 136.000 USD, khi thì là 90.000, lúc thì lại nói là 80.000.

Ngoài vai trò “ủy viên thường trực” của CRFV, Thắng còn kiêm thêm “chức” “chủ tịch” hoặc “giám đốc” của nhóm phản động “Ủy ban cứu người vượt biên”. Từ năm 1999 đến 2001, cộng đồng người Việt đã từng lên án Thắng và một số tay chân của y về hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt hơn 2 triệu USD của một số người vượt biên cuối những năm 90 đầu năm 2000. Để khuếch trương thanh thế và “làm tiền” cộng đồng người Việt ở nước ngoài, Ngô Thị Hiền tuyên truyền CRFV “tổ chức” hoạt động nhằm “hỗ trợ đấu tranh cho tự do tôn giáo” tại Việt Nam… trên cơ sở khai thác tối đa các điều khoản trong đạo luật “Tự do tôn giáo quốc tế” của Mỹ để chống phá Nhà nước Việt Nam.

Để phục vụ các “chiến dịch” chiến tranh tâm lý phản tuyên truyền, xuyên tạc về tự do tôn giáo chống phá Nhà nước Việt Nam, Ngô Thị Hiền và bọn cầm đầu CRFV đã lập 2 trang web trên mạng Internet để khuếch trương “tổ chức” và tán phát các tài liệu xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo trong nước để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, giam cầm nhiều “tù nhân tôn giáo”, “tù nhân chính trị”.

Ngày 22/7/2004, CRFV đã thiết lập thêm chương trình phát thanh trên Internet và trên làn sóng phát thanh của các phương tiện chiến tranh tâm lý của nhóm phản động người Việt để tuyên truyền, xuyên tạc về “tự do tôn giáo” ở Việt Nam tại 22 thành phố lớn của Mỹ nhằm kích động đấu tranh đòi “tự do ngôn luận” và “tự do tôn giáo” cho Việt Nam.

Ngô Thị Hiền và một số tên cầm đầu CRFV đã móc nối, lôi kéo nhiều đối tượng chống đối, lợi dụng các quyền tự do, tín ngưỡng trong nước để gửi tiền “hỗ trợ” và kích họ tiến hành các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam.

Với thủ đoạn này, Ngô Thị Hiền đã chỉ đạo số tay chân móc nối được với N.V.L., P.V.L., N.C.K., H.M.C,. Đ.N.H…. để thu thập các thông tin sai lệch về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam gửi sang Mỹ cho Ngô Thị Hiền và CRFV có “đất diễn” chúng bày ra cái gọi là “lời kêu gọi”, “bản phúc trình”, “tuyên bố”, “tuyên ngôn” và “danh sách những tù nhân tôn giáo, tù nhân chính trị”, v.v…. nhằm thực hiện mưu đồ xấu lừa gạt dư luận quốc tế và vận động chính giới Mỹ và EU tổ chức các buổi “đối thoại”, ban hành các “nghị quyết” về “tự do tôn giáo”, can thiệp đòi Việt Nam phải thả các “tù nhân chính trị”, “tù nhân tôn giáo”…

Trên cơ sở những thông tin sai sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam, Ngô Thị Hiền và một số tên cầm đầu CRFV vẽ ra cái gọi là “dự luật nhân quyền cho Việt Nam” và chạy đôn, chạy đáo khắp nơi để tổ chức các cuộc vận động một số nghị sĩ Quốc hội Mỹ (không có thiện cảm với Việt Nam) nhằm mục đích vận động Quốc hội Mỹ thông qua “dự luật” này tạo cớ chống Việt Nam, nhưng đã bị Thượng viện Mỹ phủ quyết “dự luật” sai trái này. CRFV còn kêu gọi “Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế Mỹ” (USCIRF) cử phái đoàn sang Việt Nam để thị sát tình hình tôn giáo, kêu gọi bọn phản động người Việt lưu vong thành lập “Ủy ban vận động ngày đại nghĩa”, kích động người Việt tại Mỹ, Australia, châu Âu… biểu tình phản đối Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, Việt – Trung.

Ngoài ra, Ngô Thị Hiền và một số tên cầm đầu CRFV còn tiến hành các cuộc vận động một số người trong chính giới Mỹ vận động Quốc hội Mỹ thông qua “dự luật phát huy dân chủ năm 2005” để mở đường cho CRFV thúc đẩy tiến trình đấu tranh “dân chủ”, “nhân quyền” tại Việt Nam. Cũng cần nói rằng, chính từ những thông tin sai lệch về tự do tôn giáo ở Việt Nam do CRFV cung cấp mà Bộ Ngoại giao Mỹ đã đưa Việt Nam vào danh sách “Các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo” (CPC).

Sau thời gian có đầy đủ những thông tin và từ kết quả khảo sát thực tế tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, từ cuối năm 2006, Bộ Ngoại giao Mỹ đã tự đưa Việt Nam ra khỏi danh sách này.

Như trên đã nói, để tìm kiếm sự ủng hộ trong các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam, Ngô Thị Hiền và một số tên cầm đầu CRFV đã móc nối và tạo lập những mối quan hệ với một số nghị sĩ, dân biểu Mỹ không có thiện cảm với Việt Nam như: S.Brownback, C.Smith, F.Wolf, L.Shazhen… Thực ra, những nghị sĩ, dân biểu này ủng hộ Ngô Thị Hiền và CRFV là do thiếu thông tin về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Và, khi đã “thực mục sở thị” thì “bài diễn” của Ngô Thị Hiền và CRFV không còn giá trị đối với họ nữa

Ngoài vai trò “ủy viên thường trực” của CRFV, Thắng còn kiêm thêm “chức” “chủ tịch” hoặc “giám đốc” của nhóm phản động “Ủy ban cứu người vượt biên”. Từ năm 1999 đến 2001, cộng đồng người Việt đã từng lên án Thắng và một số tay chân của y về hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt hơn 2 triệu USD của một số người vượt biên cuối những năm 90 đầu năm 2000. Để khuếch trương thanh thế và “làm tiền” cộng đồng người Việt ở nước ngoài, Ngô Thị Hiền tuyên truyền CRFV “tổ chức” hoạt động nhằm “hỗ trợ đấu tranh cho tự do tôn giáo” tại Việt Nam… trên cơ sở khai thác tối đa các điều khoản trong đạo luật “Tự do tôn giáo quốc tế” của Mỹ để chống phá Nhà nước Việt Nam.

Để phục vụ các “chiến dịch” chiến tranh tâm lý phản tuyên truyền, xuyên tạc về tự do tôn giáo chống phá Nhà nước Việt Nam, Ngô Thị Hiền và bọn cầm đầu CRFV đã lập 2 trang web trên mạng Internet để khuếch trương “tổ chức” và tán phát các tài liệu xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo trong nước để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, giam cầm nhiều “tù nhân tôn giáo”, “tù nhân chính trị”.

Ngày 22/7/2004, CRFV đã thiết lập thêm chương trình phát thanh trên Internet và trên làn sóng phát thanh của các phương tiện chiến tranh tâm lý của nhóm phản động người Việt để tuyên truyền, xuyên tạc về “tự do tôn giáo” ở Việt Nam tại 22 thành phố lớn của Mỹ nhằm kích động đấu tranh đòi “tự do ngôn luận” và “tự do tôn giáo” cho Việt Nam.

Ngô Thị Hiền và một số tên cầm đầu CRFV đã móc nối, lôi kéo nhiều đối tượng chống đối, lợi dụng các quyền tự do, tín ngưỡng trong nước để gửi tiền “hỗ trợ” và kích họ tiến hành các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam.

Với thủ đoạn này, Ngô Thị Hiền đã chỉ đạo số tay chân móc nối được với N.V.L., P.V.L., N.C.K., H.M.C,. Đ.N.H…. để thu thập các thông tin sai lệch về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam gửi sang Mỹ cho Ngô Thị Hiền và CRFV có “đất diễn” chúng bày ra cái gọi là “lời kêu gọi”, “bản phúc trình”, “tuyên bố”, “tuyên ngôn” và “danh sách những tù nhân tôn giáo, tù nhân chính trị”, v.v…. nhằm thực hiện mưu đồ xấu lừa gạt dư luận quốc tế và vận động chính giới Mỹ và EU tổ chức các buổi “đối thoại”, ban hành các “nghị quyết” về “tự do tôn giáo”, can thiệp đòi Việt Nam phải thả các “tù nhân chính trị”, “tù nhân tôn giáo”…

Trên cơ sở những thông tin sai sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam, Ngô Thị Hiền và một số tên cầm đầu CRFV vẽ ra cái gọi là “dự luật nhân quyền cho Việt Nam” và chạy đôn, chạy đáo khắp nơi để tổ chức các cuộc vận động một số nghị sĩ Quốc hội Mỹ (không có thiện cảm với Việt Nam) nhằm mục đích vận động Quốc hội Mỹ thông qua “dự luật” này tạo cớ chống Việt Nam, nhưng đã bị Thượng viện Mỹ phủ quyết “dự luật” sai trái này. CRFV còn kêu gọi “Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế Mỹ” (USCIRF) cử phái đoàn sang Việt Nam để thị sát tình hình tôn giáo, kêu gọi bọn phản động người Việt lưu vong thành lập “Ủy ban vận động ngày đại nghĩa”, kích động người Việt tại Mỹ, Australia, châu Âu… biểu tình phản đối Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, Việt – Trung.

Ngoài ra, Ngô Thị Hiền và một số tên cầm đầu CRFV còn tiến hành các cuộc vận động một số người trong chính giới Mỹ vận động Quốc hội Mỹ thông qua “dự luật phát huy dân chủ năm 2005” để mở đường cho CRFV thúc đẩy tiến trình đấu tranh “dân chủ”, “nhân quyền” tại Việt Nam. Cũng cần nói rằng, chính từ những thông tin sai lệch về tự do tôn giáo ở Việt Nam do CRFV cung cấp mà Bộ Ngoại giao Mỹ đã đưa Việt Nam vào danh sách “Các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo” (CPC).

Sau thời gian có đầy đủ những thông tin và từ kết quả khảo sát thực tế tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, từ cuối năm 2006, Bộ Ngoại giao Mỹ đã tự đưa Việt Nam ra khỏi danh sách này.

Như trên đã nói, để tìm kiếm sự ủng hộ trong các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam, Ngô Thị Hiền và một số tên cầm đầu CRFV đã móc nối và tạo lập những mối quan hệ với một số nghị sĩ, dân biểu Mỹ không có thiện cảm với Việt Nam như: S.Brownback, C.Smith, F.Wolf, L.Shazhen… Thực ra, những nghị sĩ, dân biểu này ủng hộ Ngô Thị Hiền và CRFV là do thiếu thông tin về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Và, khi đã “thực mục sở thị” thì “bài diễn” của Ngô Thị Hiền và CRFV không còn giá trị đối với họ nữa

Chính đoàn “Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế Mỹ” do Thượng nghị sĩ S.Brownback đã đến thăm Nguyễn Văn Lý vào ngày 8/1/2004, tại trại giam Nam Hà và thăm một số cơ sở tôn giáo; dự một số buổi sinh hoạt tôn giáo và đã hiểu rõ về tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Sau khi đoàn của Thượng nghị sĩ Sam Brownback về Mỹ, Nguyễn Văn Lý đã viết thư gửi Thượng nghị sĩ Mỹ Sam Brownback, bức thư có đoạn: “Tôi đã nói với ông Sam Brownback rằng, ngày 21/1/2003, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra một nghị quyết quan trọng hết sức tích cực cho tình hình tôn giáo ở Việt Nam. Và, tôi đã yên tâm mãn nguyện phần cơ bản rồi. Cuộc chiến đấu bảo vệ thống nhất Tổ quốc rất anh hùng với muôn triệu hy sinh gian khổ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã được Thiên Chúa chúc phúc và bảo vệ. Đây là một sự thật rất quyết liệt đối với tôi và hôm nay tôi muốn xác nhận. Điều quan trọng là các ngài không nên tìm hiểu về nhân quyền và các quyền tự do của nhân dân Việt Nam theo tiêu chuẩn Mỹ. Tôi không để ai lợi dụng vấn đề nhân quyền tại Việt Nam theo ý đồ chính trị nguy hại cho Tổ quốc Việt Nam yêu quý của tôi”.

Nhưng trớ trêu, ngày 17/3/2007, CRFV tiếp tục nuôi dưỡng ý đồ đen tối, xuyên tạc Việt Nam đang bắt giữ nhiều “tù nhân tôn giáo” và “tù nhân lương tâm” để tạo cớ gặp gỡ, tiếp xúc vận động một số người trong chính giới Mỹ thông qua cái gọi là “nghị quyết” đòi trả tự do cho tất cả các “tù nhân lương tâm” gồm Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Vũ Bình, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài (đây là những công dân Việt Nam vi phạm pháp luật trong thời gian gần đây).

CRFV đang bị tẩy chay

Sự thật thì CRFV chính là nhóm phản động đang lợi dụng chiêu bài “tự do tôn giáo” để lừa gạt tiền của cộng đồng người Việt ở nước ngoài với động cơ, mục đích vụ lợi cá nhân đã và đang bị cộng đồng người Việt ở Mỹ lên án, tẩy chay.

Làn sóng tẩy chay Ngô Thị Hiền và bè lũ cầm đầu CRFV bắt đầu nổ ra khi ông Hoài Thanh, với bút danh là Vân Nam, chủ tạp bút “Đại chúng” – một tờ báo phát hành trong cộng đồng người Việt ở Mỹ liên tục tố cáo chị em Ngô Thị Hiền lợi dụng “quyên góp ủng hộ đồng bào lũ lụt trong nước” để lừa đảo tiền của bà con người Việt ở nước ngoài.

Trên tờ “Đại chúng”, ông Hoài Thanh đã viết 22 bài vạch trần chân tướng chị em Ngô Thị Hiền và bè lũ tham gia CRFV, bắt đầu từ số 121 ra ngày 12/4/2000. Theo đó, trong các năm từ năm 1998 đến 2001, chị em Ngô Thị Hiền đã tổ chức hàng chục đợt “quyên góp” nhưng số lượng tiền “quyên góp” đã không được công khai rõ ràng. Khi thì Hiền công bố kết quả các đợt quyên góp được là 136.000 USD, khi thì là 90.000, lúc thì lại nói là 80.000.

Nói là tổ chức “quyên góp ủng hộ đồng bào lũ lụt trong nước” nhưng Ngô Thị Hiền không gửi tiền về cho “đồng bào lũ lụt” một “cắc”, từ số tiền “quyên góp” được, Hiền lại đi gửi cho một số đối tượng lợi dụng các quyền tự do tôn giáo để chống phá Nhà nước Việt Nam, nhưng số tiền gửi về cũng không được công bố rõ ràng. Theo ông Hoài Thanh, số tiền “quyên góp” trên Hiền chỉ gửi về cho một số đối tượng không quá 1/3.

Trong các đợt “quyên góp” khác từ năm 2000 đến 2004, chị em Ngô Thị Hiền cũng không công bố kết quả số tiền “quyên góp” được, nhưng khi bị tố cáo Hiền nói là đã gửi về cho N.V.L. là 90.000 USD, khi tiếp tục bị lột trần bộ mặt giả dối, lừa đảo Hiền ngắc ngứ nói là đưa cho N.V.L. 50.000USD, khi bắt buộc phải đưa ra “hóa đơn”, “chứng từ” thì chỉ thấy chị em Hiền gửi về cho N.V.L. số tiền 10.000 USD.

Cay cú trước kẻ dám “vuốt râu hùm”, Ngô Thị Hiền đã chụp mũ ông Hoài Thanh và kiện ông này ra Tòa Montgomery County, thuộc tiểu bang Maryland (Mỹ). Có sẵn chứng cứ trong tay ông Hoài Thanh đã hoàn thành hồ sơ vụ việc và khởi kiện chị em Ngô Thị Hiền 4 vụ kiện mang bí số: 224653-V, 235988-V, 242835-V và 240210-V, ra Tòa án Montgomery County, thuộc tiểu bang Maryland với các hành vi “phỉ báng, làm thiệt hại tài sản” của cá nhân và lừa gạt tiền của cộng đồng người Việt tại Mỹ. Và, tòa án sau khi điều tra, xem xét những nội dung tố cáo đã xử cho ông ông Hoài Thanh thắng kiện.

Ngoài ra, lợi dụng việc Nguyễn Văn Lý bị truy tố 15 năm tù về tội “Phá hoại chính sách đại đoàn kết” năm 2001, Ngô Thị Hiền đã gom thành sách về sự kiện này với nhan đề “Nguyễn Văn Lý Nguyệt Biều – An Truyền thi tập” đem rao bán ở các nơi trên đất Mỹ kiếm được hơn 12.000 USD bỏ túi.

Giờ đây, nhiều người Việt ở Mỹ đã nhận rõ bộ mặt thật của chị em Ngô Thị Hiền và bọn cầm đầu CRFV và đưa ra nhận xét: Thực chất nhóm CRFV do Ngô Thị Hiền cầm đầu là nơi tụ tập của những tên phản động người Việt lưu vong. Đây cũng là tổ chức trá hình chuyên kinh doanh mặt hàng “tự do tôn giáo” để lừa gạt tiền của cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Vì vậy, đã đến lúc cần phải xóa bỏ cái tên CRFV ra khỏi đời sống của cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Thi Nga, ANTG, ngày 25/3/07
NDVN, ngày 8/5/07

nhandanvietnam.org

Categories: Chúa Dê-su | %(count) bình luận