Chúa Dê-su

Đây Chúa Giê-su của những người theo đạo Giê-su

Lời Nói Đầu:  Trong bài trước: Đây! Thiên Chúa Của Những Người Theo Đạo Thiên Chúa,
http://giaodiemonline.com/2009/03/god.htm  tôi đã đưa ra hình ảnh thực sự của Thiên Chúa như được viết trong Cựu Ước, thuần túy từ trong Cựu Ước..  Hình ảnh này, đúng như Richard Dawkins đã nhận định trong cuốn The God Delusiontrang 51, như sau:

Thiên Chúa trong Cựu Ước là nhân vật xấu xa đáng ghét nhất trong mọi chuyện giả tưởng: ghen tuông đố kỵ và hãnh diện vì thế; một kẻ nhỏ nhen lặt vặtbất công, có tính đồng bóng tự cho là có quyền năng và bất khoan dung; một kẻ hay trả thù; một kẻ khát máu diệt dân tộc khác; một kẻ ghét phái nữ, sợ đồng giống luyến áikỳ thị chủng tộcgiết hại trẻ con, chủ trương diệt chủngdạy cha mẹ giết con cáiđộc hại như bệnh dịch, có bệnh tâm thần hoang tưởng về quyền lực, của cải, và toàn năng [megalomaniacal]thích thú trong sự đau đớn và những trò tàn ác, bạo dâm [sadomasochistic], là kẻ hiếp đáp ác ôn thất thường.

[The God of the Old Testament is arguably the most unpleasant character in all fiction: jealous and proud of it; a petty, unjust, unforgiving control-freak; a vindictive, bloodthirsty ethnic cleanser; a misogynistic, homophobic, racist, infanticidal, genocidal, filicidal, pestilential, megalomaniacal, sadomasochistic, capriciously malevolent bully.]

Đây là vấn đề nghiên cứu trong lãnh vực học thuật, chỉ có mục đích tìm hiểu sự thật về Thiên Chúa của những người theo đạo Thiên Chúa, không có nghĩa là không tôn trọng tự do tín ngưỡng của bất cứ ai.  Quyền tin và tôn thờ một Thiên Chúa mà thực chất như trên là một quyền được tôn trọng trong thế giới văn minh tiến bộ Âu, Mỹ.  Nhưng nghiên cứu trí thức về tôn giáo cũng là một quyền được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ ở trong thế giới này.  Bởi vậy chúng ta thấy trong thế giới Âu Mỹ đã xuất hiện hàng ngàn tác phẩm nghiên cứu về mọi khía cạnh của Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo nói riêng, nhiều đến độ có lẽ không ai có thể biết hết.

Chúng ta đã biết, Thiên Chúa của những người theo đạo Thiên Chúa là Thiên Chúa trong Cựu Ước, bố của Thiên Chúa trong Tân Ước, Giê-su.  Chúng ta đã có một hình ảnh thực sự về Ông Bố trong Cựu Ước.  Tôi nghĩ có lẽ chúng ta cũng nên biết đến hình ảnh thực sự của Ông Con trong Tân Ước.  Ông Con thường được ca tụng nhiều hơn là ông Bố. Có vẻ như ngày nay, trước những kết quả nghiên cứu về Ông Bố như trên, Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo nói riêng, lờ đi Cựu Ước, và chỉ nhắc đến Tân Ước, đến bốn Phúc Âm, với những câu tuyên truyền cho đám tín đồ ở dưới như “Giê-su yêu bạn”, “Giê-su đến để mang một tin vui, tin vui tình thương, tin vui tự do…”, “Giê-su mang đến Tin Mừng Phúc Âm”, Giê-su là “Chúa Trời”, là “Ông Hoàng Của Hòa Bình”, là “Ánh Sáng Của Nhân Loại” v..v…

   Thế NHƯNG, một chữ NHƯNG rất đậm nét, trước những lời ca tụng Giê-su như trên, chúng ta lại đọc được những nhận định về Giê-su như sau:

      Giám mục John Shelby Spong, sau khi nghiên cứu Tân ước, đã đưa ra một nhận định về Giê-su như sau:

    Có những đoạn trong bốn Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.

   (John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, p. 21: There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical).

   Và Jim Walker cũng viết trên Internet trong bài http://www.nobeliefs.com/jesus.htm:Chúng Ta Có Nên Kính Ngưỡng Giê-su Không? (Should We Admire Jesus?):

       Nhiều tín đồ Ki-Tô-giáo không hề biết đến là nhiều đoạn trong các Phúc Âm trong Tân Ước, Giê-su được mô tả như là một con người đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung, và đạo đức giả.

   [Unbeknownst to many Christians, many times the Gospels of the New Testament portray Jesus as vengeful, demeaning, intolerant, and hypocritical.]

   Và Russell Shorto, một học giả Ki Tô Giáo, đã tổng hợp những tác phẩm nghiên cứu về Giê-su trong vòng 200 năm nay, trong kết luận như sau trong cuốn Sự Thật Của Phúc Âm (Gospel Truth):

    Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay  rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng   họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư.  Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.

   [Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger.  So the only ones left in the dark are ordinary Christians.]

Thật là ngỡ ngàng đối với tôi.  Vì Giê-su là một nhân vật được cả tỷ người trên thế giới tôn xưng là “Chúa Trời” và tình nguyện làm tôi tớ hầu việc Chúa..  Vậy nếu những nhận định trên về Giê-su là đúng thì chẳng lẽ cả tỷ người đó ngu hay sao mà lại đi tôn thờ “một Chúa mà bản chất chẳng qua chỉ là một người thường, sống với một ảo tưởng, và bản chất chỉ là một con người đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung, và đạo đức giả.”  Trong lãnh vực học thuật, chúng ta không nên vội tin những nhận định tiêu cực về Giê-su như trên, dù đó là những nhận định của của các học giả và của một bậc lãnh đạo có uy tín trong Ki Tô Giáo, mà phải tìm hiểu kỹ xem những nhận định đó có đúng sự thực hay không, hay đó chỉ là những luận điệu chống Chúa, chống đạo?  Bài viết này không ra ngoài mục đích tìm hiểu đó.

Tuy nhiên, trong lãnh vực nghiên cứu, nghiên cứu về Thiên Chúa trong Cựu Ước thì tương đối dễ hơn, vì chỉ cần dựa hoàn toàn vào những gì viết trong Cựu Ước, vì Thiên Chúa đó là sản phẩm tưởng tượng của người dân Do Thái để giải thích phần nào lịch sử của dân tộc họ.  Trái lại, nghiên cứu về nhân vật Giê-su thì rộng hơn nhiều, vì rất có thể Giê-su là một nhân vật lịch sử có thật.  Tuy rằng tất cả những gì chúng ta biết về Giê-su là ở trong bốn Phúc Âm và Sách Khải Huyền trong Tân Ước, nhưng vì  Giê-su đã vượt trên cha ông ta về vấn đề tín ngưỡng cho nên đã có rất nhiều học giả, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô nghiên cứu về nhân vật Giê-su.  Do đó, trong bài nghiên cứu này về nhân vật Giê-su, tôi không chỉ giới hạn những điều viết trong Tân Ước mà còn sử dụng những kết quả nghiên cứu về Giê-su trong một số tác phẩm đã xuất bản.  Tôi cũng xin nhắc lại, đây là vấn đề nghiên cứu trí thức trong lãnh vực học thuật và dựa trên các tài liệu đã thành văn.  Người nào còn cho rằng sự nghiên cứu trí thức này là chống tôn giáo hay không tôn trọng tín ngưỡng tôn giáo thì người đó, ít ra phải vạch ra là tôi đã chống tôn giáo như thế nào, ở chỗ nào, và có thật đúng là chống hay không.

Để vấn đề rõ ràng hơn, tôi lấy vài thí dụ.  Nếu tôi viết: “Trong lịch sử Công Giáo, có những giáo hoàng loạn dâm, loạn luân, trụy lạc, giết người v..v..” thì không phải là tôi “chống Công giáo”, mà đó chỉ là những sự kiện lịch sử.  Nếu Giáo sư sử Nguyễn Mạnh Quang viết: “Tổng Thống Ngô Đình Diệm thuộc gia đình “Ba Đời Làm Việt Gian” (Tam Đại Việt Gian) là do Vatican toa rập với tư bản Mỹ đưa về Nam Việt Nam để chống Cộng cho Mỹ và chống Cộng cho Chúa”  thì không phải là Giáo sư Quang “chống ông Diệm” mà đó chỉ là một sự kiện lịch sử.   Mặt khác, nếu tôi viết: “Ông Hồ Chí Minh, Cộng sản hay không, đã lãnh đạo người dân kháng chiến chống Pháp đi đến chấm dứt chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam, một chế độ không thể hình thành, theo Giám mục Puginier, nếu không có sự giúp đỡ của giáo dân Công giáo Việt Nam” thì không phải là tôi ủng hộ ông Hồ Chí Minh hay Cộng sản, mà đơn giản đó chỉ là một sự kiện lịch sử.  Do đó, trong lãnh vực học thuật, chúng ta cần phân biệt những kết quả nghiên cứu với những cảm tính phe phái cá nhân.  Không hiểu được điều này thì chưa đủ tư cách để đi vào lãnh vực học thuật.  Chúng ta nhận thấy ở hải ngoại, phần lớn những luận điệu vu vơ chụp mũ hay lên án người khác là thân Cộng, hay chống đạo Thiên Chúa, là dựa trên cảm tính phe phái cá nhân, của những người, đúng như Mục sư Ernie Bringas đã nhận định, có một đầu óc khuyết tật.  Sự hiểu biết tôn giáo của họ thuộc thế kỷ 17, hoặc rất có thể họ có gốc từ Bùi Chu, Phát Diệm, Hố Nai, Gia Kiệm và đang sống trong các xóm đạo cờ vàng…

Mời bạn, nhấn (Click) con chuột vào bài viết: Chúa Cha và Chúa Con của người Ky-tô giáo Bạn sẽ hiểu thế lào Thần học Ky-tô giáo “CHÚA BA NGÔI” dựa trên một tín điều căn bản, khó hiểu và … bí mật là “Một Chúa ba Ngôi”, còn gọi là Tam Vị Nhất Thể (The mystery of the Most Holy Trinity is the central mystery of Christian faith and life). Bí mật và khó hiểu vì nó ẩn náu trong Chúa. Bí mật và khó hiểu đến nỗi chỉ người nào được chính Chúa “bật mí” mới hiểu được (one of the “mysteries that are hidden in God, which can never be known unless they are revealed by God”).Do đó, mọi khẳng định có thể giải thích “bí mật khó hiểu” nầy bằng lời và bằng chữ của các Linh mục và các Mục sư là vô ích, trừ ra bản thân họ chính là Chúa. Và như một hệ luận, có bao nhiêu người giảng thì có bấy nhiêu … Chúa ba ngôi dưới thế nầy, !…Bài viết này, chủ  yếu dựa vào Kinh Thánh và những phát biểu của một số học giả trong và ngoài Ki-tô giáo, sẽ trình bày hai trong ba thành tố (Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần) của …câu thần chú  “một là ba, ba là một nầy”: Thiên Chúa là “ai” ? Giê-su là “ai” ?.

Hy vọng, các bạn đọc và tôi thấu triệt Thần học Ky-tô giáo “CHÚA BA NGÔI” sẽ bỏ đạo Phật hay Tam giáo, để trở lại đạo và tin chắc 100%, JESUS là Cha, là Chồng, là Con của Bà Maria ĐỒNG TRINH có 5 con trai và hai gái. Và đặc biệt nhất Jesus không biết cha mình là ai? và loạn luân với mẹ là bà Maria. Đó là lời CHÚA…Phúc Cho Những Ai Không Thấy Mà Tin

VẬY THÌ, NGƯỜI VIỆT NAM THEO ĐẠO GIÊ-SU LÀ VÌ CÁI GÌ??…Vì Tự Do Tín  Ngưỡng ?? AMEN

Trần Chung Ngọc, giaodiem.online, ngày 8/2/09
NDVN, ngày 9/2/08

nhandanvietnam.org

Categories: Chúa Dê-su | Bình luận về bài viết này

Hậu quả Tổng Kiệt “Cầu nguyện đòi đất”: Dân Việt thấy rõ bản chất Công giáo Việt gian!

Dân “C” Vatican Ngô Quang Kiệt

Sau lời nói “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam” của ông Ngô truyền thông Công giáo gần như khựng lại và bị sốc. Tuy nhiên, sau khi choáng váng bởi câu nói mà chính họ cũng phải mường tượng ra một viễn cảnh tồi tệ cho vụ việc “cầu nguyện đòi đất”, thói chống chế lại xuất hiện một cách “cuồng tín” hơn. Lời chủ chăn bao giờ cũng “là vàng, là ngọc” cho dù họ hiểu rằng lời nói của ông Ngô Quang Kiệt đã bị cả xã hội lên án, dù có bao biện ở trong bất cứ ngữ cảnh nào. Những người cầu nguyện ngồi vỗ tay khi nghe lại lời ông Tổng Kiệt đã minh chứng rằng họ không còn đủ đầu óc bình tĩnh và sáng suốt để lắng nghe những gì mà cả xã hội đang nói. Đó cũng là chiến dịch thông tin mà các chủ chăn đưa ra: chỉ đọc những bài viết trên các trang nhà Công giáo thôi.

Rất đông giáo dân hành lễ tại khuôn viên Công ty may Chiến Thắng vào tối 8-9.

Đây cũng chính là những gì mà Hội đồng Giám mục Việt Nam đã bị hớ sau khi nhận được đơn đề nghị xử lý theo giáo luật của chính quyền Hà Nội đối với ông Ngô Quang Kiệt và một số giáo sĩ bên nhà thờ Thái Hà. Hội đồng Giám mục Việt Nam, dưới chữ ký của ông Nguyễn Văn Nhơn đã viết: “Chúng tôi thấy các vị này không làm bất cứ điều gì ngược lại với giáo luật hiện hành của Giáo hội”. Và cũng không kém phần thách thức tuy có khiêm nhường hơn “Đơn khiếu nại khẩn cấp” của ông Tổng Kiệt, đó là việc gửi theo một văn bản đính kèm có tên là “Quan điểm của Hội đồng Giám mục Việt Nam về một số vấn đề trong hoàn cảnh hiện nay”.

Có thể nói, phát ngôn chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng được xem là một phát ngôn “lỡ lời” không thua kém gì phát ngôn của ông Tổng Kiệt. Vì cả xã hội và chính quyền, nhà nước đang lên án những hành vi vi phạm pháp luật và câu nói có ý miệt thị dân tộc như vậy thì Hội đồng Giám mục Việt Nam lại thấy “không vi phạm giáo luật gì cả”.

Phải nói rằng chính quyền Hà Nội rất khôn ngoan khi yêu cầu Hội đồng Giám mục Việt Nam xử lý những “giáo dân” kia theo giáo luật. Vì họ hiểu rằng sẽ không có một thứ giáo luật nào lại cho phép người theo giáo luật ấy có thể vi phạm pháp luật, xuyên tạc, đe dọa, miệt thị nhà nước và dân tộc.

Hội đồng Giám mục Việt Nam đã cố tình không hiểu ý tứ này hay do vụ việc cầu nguyện đòi đất đã được họ “hiệp thông” từ trước. Nếu không có sự “hiệp thông” ấy, một mình ông Tổng Kiệt có thể ngạo mạn như vậy không?

Bất cứ ai có một chút kiến thức về pháp luật và chính trị khi đọc đơn “Khiếu nại khẩn cấp” của ông Ngô Quang Kiệt cũng có thể hiểu rằng, ông ta đang tự cho phép đặt mình cao hơn pháp luật Việt Nam. Và những lời lẽ ấy, khó ai có thể tưởng tượng rằng đó là lời nói của một công dân, bởi ai cũng nghĩ rằng hình như đó là một bản cảnh cáo của Chủ tịch nước hay Thủ tướng Chính phủ đối với một tổ chức vi phạm pháp luật thì đúng hơn:

Đài Truyền hình đã đưa tin về dự án, trong đó đã xuyên tạc nội dung và hình ảnh để dọn đường dư luận cho việc làm bất chấp luật pháp này”.

Tòa Tổng Giám mục Hà Nội đang tiến hành. Vụ việc này là hành động bất chấp nguyện vọng của cộng đồng Công giáo, bất chấp luật pháp và coi thường tổ chức Giáo hội Công giáo Việt Nam. Việc này cũng là hành động chà đạp lên đạo đức, lương tâm mọi người trong xã hội đối với tôn giáo được nhà nước công nhận”.

Chấm dứt ngay hàng động phong tỏa Tòa Tổng Giám mục và việc phá hoại tài sản

Trả lại nguyên trạng khu đất cho chúng tôi sử dụng vào mục đích tôn giáo, phục vụ cộng đồng”.

Thành phố Hà Nội phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những điều có thể xảy ra trong việc chiếm đoạt tài sản của chúng tôi. Chúng tôi có quyền sử dụng mọi khả năng có thể để bảo vệ tài sản của chúng tôi

Yêu cầu có sự can thiệp khẩn cấp của ngài Chủ tịch nước, ngài Thủ tướng Chính phủ, chính quyền Thành phố Hà Nội và các cơ quan liên quan để dừng ngay những hành động này”.

Với những lời lẽ này, hình như quan tòa đã trở thành tội phạm. Và hình như ông Tổng Kiệt đang thay thế vai trò của nhà nước thì phải. Vì sao ông Tổng này đặt mình ở thế ngang hàng, thậm chí cao hơn pháp luật như vậy? Phải chăng ông cho rằng Tòa Tổng Giám mục Hà Nội là “Bộ ngoại giao” của Vatican. Phải chăng Hội đồng Giám mục Việt Nam là “nhà nước mới” của Vatican tại Việt Nam?

Hồng y Phạm Minh Mẫn, một số Giám mục tại các tỉnh a-dua hiệp thông “cầu nguyện”. Hội đồng Giám mục Việt Nam giả bộ như ngây như điếc không ý kiến gì. Tất cả như một động lực để ông Tổng Kiệt “Thay Chúa Trời hành đạo” bằng các luật của riêng ông ta. Tức là “đòi” một mảnh đất của chính quyền thực dân cấp, không cần biết mảnh đất đó đã bị Giám mục Puginier và giáo gian bán nước Nguyễn Hữu Độ dùng thủ đoạn cướp chùa Báo Thiên, một ngôi chùa nổi tiếng nhất tại kinh thành Thăng Long. Chắc ông Tổng Kiệt cũng phải hiểu rằng một mảnh đất đi chiếm đoạt bằng đầu óc thực dân xâm lược thì vĩnh viễn không bao giờ xứng danh sở hữu chủ. Và ông phải hiểu hệ quả của việc mất di sản không phải là mất một mảnh đất đơn thuần mà là mất chủ quyền dân tộc. Chỉ khi mất chủ quyền dân tộc thì di sản mới bị ngang nhiên cướp phá như vậy.

Sau khi ông Tổng Kiệt dùng những lời lẽ hống hách trong “Đơn khiếu nại khẩn cấp” ấy, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã không đủ khả năng phân tích lá đơn một cách bình tĩnh, còn để ông Tổng Kiệt cho bắc loa công suất lớn phát đi những lời lẽ này. Và sau khi được triệu lên “làm khách” với UBND Tp. Hà Nội, ông ta vẫn giữ thái độ “Chủ tịch nước” của mình “Tôi không tranh chấp với nhà nước”, giống như một chủ thể ngang hàng. Và những lời lẽ phơi bày lòng dạ đã được phát ra: “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam”.

Những mong muốn “đất nước lớn mạnh”, “đoàn kết”, “đi đâu cũng được người ta kính trọng” của ông Tổng Kiệt luôn trái với những gì ông ta làm và kích động những “giáo dân” (trước khi làm giáo dân phải làm tốt vai trò của một công dân) cuồng tín làm.

Tuy nhiên khi câu nói của ông Tổng Kiệt được phát đi, chiến dịch truyền thông Công giáo lại vào cuộc bao biện, bào chữa cho lời Tổng Kiệt là nằm trong “ngữ cảnh” mong đất nước phát triển lớn mạnh, đoàn kết… Thế nhưng một điều chéo ngoe là trước khi câu nói của Tổng Kiệt chưa phát ra thì không có một thông tin Công giáo nào mong đất nước này phát triển, đoàn kết cả mà hình như họ đang nhìn Cộng sản và những gì liên quan đến Cộng sản là đầy dẫy tham nhũng, xấu xa, là “quỷ satan” với những ngôn ngữ đầy hằn học, bực tức, miệt thị, thậm chí còn rêu rao về một cuộc lật đổ chế độ…

Những ngôn ngữ ấy trong truyền thông Công giáo không biết đang cổ vũ cho sự đoàn kết, phát triển lớn mạnh ở nước nào vậy? Nếu ở cái nước Việt Nam này thì sao lời nói và việc làm của họ lại xa cách nhau như thế? Dù họ có cắt xén câu nói trong “ngữ cảnh” như thế nào thì họ cũng không thể cắt xén được cái dã tâm của những người cầu nguyện. Vì căn bản dã tâm đã như vậy thì ngôn ngữ phải tương đồng thôi. Không thể có một đất nước nào “đoàn kết” và “lớn mạnh” khi người ta bất chấp luật pháp và cả lương tâm lịch sử như vậy. Vì với những gì mình đã ứng xử với dân tộc, với các tôn giáo khác mới chỉ là một quá khứ không xa, chẳng lẽ cả một Giáo hội với bao nhiêu bộ óc chứa đầy tri thức lại không thể chứa nổi một chút lương tâm và lòng hổ thẹn nào sao?

Giáo hoàng Gioan Phao-lô II đã phải chính thức xin lỗi nhân loại với việc công bố 7 núi tội của đạo Công giáo với loài người, chắc chắn trong đó phải có núi tội trong ứng xử với dân tộc Việt Nam. Và một trong những điều đáng hổ thẹn nhất chính là Giáo hội của “tình yêu vô bờ” ấy đã xúi giục Mỹ bỏ bom nguyên tử tại miền Bắc.

Nếu đã có quá nhiều những thái độ chống đối như vậy thì cứ ngang nhiên làm kẻ chống đối việc gì phải vội núp vào cái “ngữ cảnh” mà rất nhiều những mong muốn hão huyền như vậy. Đó chẳng phải là lật lọng sao?

Ông Tổng Kiệt đã không làm chủ được lời nói và hành động của mình đã đành vì nó mang tính cá nhân, nhưng ngay cả Hội đồng Giám mục cũng không làm chủ được ngôn từ và hành động của mình thì những giáo dân chân chính biết đặt niềm tin vào ai để xây dựng một giáo hội “đồng hành cùng dân tộc”. Nếu nhất quyết đi theo đường lối của “Thư Chung” thì tại sao Hội đồng Giám mục Việt Nam lại vội vã viết: “Chúng tôi thấy các vị này không làm bất cứ điều gì ngược lại với giáo luật hiện hành của Giáo hội”.

Có thể họ chưa xem dư luận xã hội ra gì cả. Và để chứng minh “quyền lực thực thụ” của mình để cổ vũ cho những bộ óc hiếu kỳ về những tham vọng chính trị, Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng theo tổng Kiệt đặt “giáo luật” của mình cao hơn pháp luật nhà nước. Nếu ai đã đọc lịch sử thực dân và chính sách của đạo Công giáo thì thấy điều này có sự tương đồng kinh ngạc với lịch sử truyền giáo của họ. Không lúc nào coi pháp luật triều đình ra gì cả:

Không chối cãi được, một số Giám mục Pháp đã hùa với các nỗi ghen ghét, hận thù sục sôi ở nơi họ sống; họ làm hại các con chiên một cách nghiêm trọng khi đẩy những người này vào một cuộc nổi dậy chống lại chính phủ An Nam.Việc chinh phạt của Pháp chỉ là cái cớ bề ngoài, còn lý do căn bản là sự tranh chấp phe phái. Nên để ý là một số vụ nổi loạn do những kẻ tự xưng là con cháu nhà Lê đều có các viên chỉ huy là Thiên Chúa giáo… Cầm đầu các đám tín đồ Thiên Chúa đi cướp bóc, đốt phá các làng phi Thiên Chúa và triệt hạ chùa chiền thường là các linh mục hay các kẻ truyền đạo: họ bổ nhiệm các viên đội, tụ tập binh lính mà đa số, theo lời thú nhận đều là đầu trộm đuôi cướp” (Philastre gửi Dupré, 15-1-1874, Thư khố Trung ương Đông Dương, Đô đốc 13506 số 4 – Theo Luận án tiến sĩ của Cao Huy Thuần).

Chúng tôi thấy một số lớn làng bị thiêu rụi. Khổ thay, cứ mỗi lúc, các tín đồ Thiên Chúa giáo thấy kẻ thù của họ biến mất, hoặc họ tự thấy mình mạnh hơn thì họ lại đi hành quân, trả thù không gớm tay, rồi đến phiên họ lại đốt và giết. Hầu hết họ đều có võ trang, và tôi tin rằng, chính các nhà truyền giáo cũng không ngăn cản nổi. Đó là điều đáng tiếc, vì các quan mới từ Huế ra đều nhân cớ đó mà xác nhận rằng, chính các tín đồ Thiên Chúa gây sự, chính những người này là nguyên nhân đầu tiên của mọi đau khổ. Hơn nữa, vì những con chiên có nhiều khí giới, nên họ sẵn sàng xem những con chiên là những kẻ làm loạn” (Báo cáo của Harmand ngày 24-1-1874, Thư khố Trung ương Đông Dương, Đô đốc 11689/54 – sđd).

Tôi tin rằng Giám mục Gauthier và Giám mục Purinier nhất là ông sau này không chịu nổi ý kiến một giải pháp hòa bình cho vấn đề: giải pháp này sẽ phá tan hy vọng của họ mong muốn thấy một chính phủ riêng biệt, chính phủ này có lẽ sẽ là một chính phủ Công giáo. Các tín đồ Công giáo lại càng phóng đại hơn nữa các ý tưởng đó và xúi giục các linh mục, các người chăn dẫn họ để đưa đến một sự đổ vỡ mới giữa hai chính phủ… Suốt ngày chúng tôi nhận tới tấp các báo cáo và các lời yêu cầu đem quân chinh phạt các tỉnh đó” (Thư Philastre gửi Dupré, 15-1-1874 – sđd).

Điều 9 luôn luôn đem lại cho chúng ta các khó khăn, vì rằng các con chiên đã làm bậy khi lập nên một chính đảng chính trị muốn ở ngoài pháp luật của xứ này và tự cho là độc lập. Không có nước nào vô tư cho bằng nước An Nam về vấn đề tôn giáo, và nếu các phái bộ chỉ lo giảng đạo, họ không có gì phải lo cả” (Rheinart gửi thống sứ Le Myro de Vilers, 19-8-1879, Thư khố Trung ương Đông Dương, Đô đốc 10443/8 – sđd).

Viên Tổng đốc và các viên Tri phủ trong một tỉnh Trung Kỳ đã kể với tôi rằng các tín đồ Thiên Chúa giáo không tuân lệnh nộp thuế và làm xâu…. Tôi hỏi tại sao không dùng sức mạnh buộc họ phải theo như đã làm đối với người Phật tử, viên Tri phủ tại một phủ có nhiều người Thiên Chúa giáo sinh sống trả lời: “Chúng tôi thường cố gắng làm như thế, những nhân viên của chúng tôi bao giờ cũng được trả lời bằng những phát đạn” Hầu như khắp nơi ở Bắc cũng như Trung Kỳ, các tín đồ Thiên Chúa giáo hoặc đã ít nhiều tranh né các bổn phận mà những người Việt Nam khác phải làm, và trong việc kháng cự này, họ được các giáo sĩ khuyến khích. Kết quả tự nhiên là một mối hiềm thù sâu xa giữa hai hạng dân và là nguyên nhân của các hỗn loạn ở địa phương, nhất là tại các tỉnh Bắc, Trung Kỳ” (Văn thư về tình hình chính trị và kinh tế ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, 13-7-1887, Thư khố Bộ Pháp quốc hải ngoại, A00 (22) hộp 2 – sđd).

Trên đây chỉ là một vài dẫn chứng, nhưng phần nào cũng chỉ ra những tính chất “không thấy điều gì ngược lại với giáo luật hiện hành của giáo hội”. Vẫn còn có một thứ “giáo luật hiện hành” cho phép được vi phạm pháp luật và coi thường nhà nước như vậy ở thế kỷ 21 này. Hội đồng Giám mục Việt Nam đang muốn chơi con bài chính sách “ngoại thuộc” hay sao?

Điều đáng nói, sau thư phúc đáp này của Hội đồng Giám mục, nhiều trang nhà Công giáo đã đăng lại để một lần nữa tôn vinh “Hội đồng anh hùng” sau khi đã tôn vinh “cá nhân anh hùng – Tổng Kiệt” vì câu nói bất hủ: “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam”. Câu nói này đáng ghi vào lịch sử truyền đạo của những bậc “cha chú”: “Không có sự hộ trợ của giáo dân Việt Nam, quân Pháp như con cua bị bẻ gẫy hết càng, không có cách gì để có thể xâm chiếm nổi Việt Nam” (Giám mục Puginier); “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” (Linh mục Hoàng Quỳnh).

Khi Hội đồng Giám mục trả lời thư với Chính quyền Thành phố Hà Nội, họ được những “giáo dân” ca lên tận may xanh khi dám bày tỏ “quan điểm” trực tiếp với Chính quyền Thành phố Hà Nội và gián tiếp với Nhà nước Việt Nam (một thứ quan điểm hổ lốn và rỗng tuếch đã được Trần Điều phân tích). Tuy nhiên, họ đã sai lầm khi sử dụng từ “quan điểm” ở đây. Vì “quan điểm” thể hiện trong thời điểm này chính là đồng lõa. Mà vi phạm pháp luật nhà nước mà đồng lõa thì phạm tội giống như nhau. Cả một Hội đồng Giám mục biến mình thành “Tổng Kiệt” thứ 2. Điều này chẳng những không khôn ngoan mà còn đi ngược lại với phát biểu về một giáo hội muốn “đồng hành cùng dân tộc”.

Sau “quan điểm” này của Hội đồng Giám mục Việt Nam, người ta chú ý đến phát biểu của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Ủy viên Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Công an trên báo Công An Nhân Dân như một tuyên bố công khai ở cấp cao nhất về vụ “cầu nguyện đòi đất” của ông Tổng Kiệt và giáo phận mà ông ta đang quản nhiệm:

Với Việt Nam chúng ta, cũng như rất nhiều quốc gia lịch sử có chiến tranh khác trên khắp thế giới, quyền sở hữu, sử dụng đất đai là một vấn đề hết sức phức tạp. Thế kỷ trước, dưới chế độ thực dân xâm lược, Pháp chiếm đất đai rồi cung cấp cho các đối tượng từ những sở hữu gốc có thể là của Phật giáo, có thể là của các tổ chức, cá nhân khác. Khi đất nước độc lập, luật pháp Việt Nam qui định rõ đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý. Mọi đối tượng chỉ được quyền sử dụng khi được Nhà nước cấp phép”.

Nguyên nhân đầu tiên tôi cho rằng nhiều giáo dân chưa hiểu biết về luật pháp. Còn một nguyên nhân khác nữa là một thiểu số lãnh đạo giáo phận Hà Nội lợi dụng chính sách tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước để đòi quyền lợi không chính đáng, bất hợp pháp. Họ hy vọng nơi này, nơi kia, thế lực này, thế lực khác ủng hộ để gây mất ổn định. Nhưng họ quên mất rằng, thế giới bây giờ sống trong tinh thần thượng tôn pháp luật, vì vậy, dư luận khó có thể đồng tình với vụ việc do một số chức sắc của giáo phận Hà Nội kích động giáo dân gây ra ở Thủ đô; bởi nếu nơi nào ủng hộ thì vô hình trung tạo tiền đề cho bản xứ của họ cũng sẽ dẫn đến đòi những cái không thể giải quyết”.

Nói đến những phát ngôn và hành động của TGM Ngô Quang Kiệt, ông Nguyễn Văn Hưởng nói:

Trước hết là đối với chính bản thân ông Ngô Quang Kiệt bị mất uy tín. Bởi lẽ, một đức cha, một vị giám mục giáo phận Thủ đô phải rất am hiểu pháp luật, và hơn ai hết phải là người hành xử sao cho đúng với ý nghĩa sống phúc âm trong lòng dân tộc. Thật tiếc là ông ấy đã không làm được như vậy.

Giáo phận Hà Nội luôn có vị trí quan trọng đối với đất nước, thì việc làm của ông Tổng giám mục sẽ tạo ra sự nhìn nhận ra sao về Tòa giám mục Hà Nội. Đây không còn là câu chuyện riêng của ông Ngô Quang Kiệt, bởi vậy ông đã làm mất uy tín của giáo phận Hà Nội.

Quan trọng hơn là ông Kiệt đã làm tổn hại mối quan hệ giữa Giáo hội với chính quyền Hà Nội bằng việc bất hợp tác, vu cáo chính quyền, kích động, tổ chức cho giáo dân làm việc phi pháp… Ông làm tổn hại đến mối đoàn kết trong cộng đồng, giữa giáo dân với lương dân.

Dù muốn dù không, nhưng hình ảnh đẹp đẽ của những giáo dân ngoan đạo, hiền lành ít nhiều đã bị phai nhòa, thay vào đó là hình ảnh những con người hung hãn đập phá tài sản chung, mang những vật linh thiêng của giáo phái đặt ở những nơi nhếch nhác để thờ tự…

Cuối cùng, tôi muốn nói rằng chính Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt còn gây khó khăn cho mối quan hệ của Va-ti-căng với Việt Nam”.

Khi Thứ trưởng Bộ Công an đã lên tiếng chính thức như vậy thì việc chính quyền sẽ sử dụng đến biện pháp mạnh nếu ông Tổng Kiệt tiếp tục kêu gọi giáo dân “cầu nguyện” chiếm phá đất bằng “kinh Hòa Bình” và khẩu hiệu “công lý và hòa bình”.

Hội đồng Giám mục Việt Nam còn có một cơ hội để lên gân “quan điểm” của mình trước Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng. Và không như mong chờ ở lần “viếng thăm Tòa khâm”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mềm mỏng nhưng nghiêm khắc.

Thủ tướng Dũng khẳng định chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước Việt Nam được đảm bảo bằng pháp luật và phải được thực hiện trên cơ sở thượng tôn pháp luật, không thể chấp nhận việc lợi dụng tự do tôn giáo để có các hành vi vi phạm pháp luật, càng không nên cho rằng làm đúng giáo luật là không trái pháp luật hay chỉ làm theo giáo luật còn bất chấp pháp luật. Mọi tín đồ tôn giáo Việt Nam, trước hết là công dân Việt Nam. Một tín đồ tốt phải là một công dân tốt.

Ông cũng tỏ thái độ nghiêm khắc phê phán những thành vi vi phạm pháp luật, tập trung đông người cầu nguyện đòi đất, dựng ảnh tượng, thánh giá, làm lều bạt, phá hoại tài sản công cộng, chống người thi hành công vụ xảy ra ở giáo xứ Thái Hà, 178 Nguyễn Lương Bằng và 42 Nhà Chung Hà Nội vừa qua. Thủ tướng đánh giá cao về thái độ của Hội đồng Giám mục Việt Nam là không có chủ trương đó và yêu cầu Hội đồng Giám mục Việt Nam có những quyết định để chấm dứt cũng như không lặp lại những việc làm sai trái đó, nếu không sẽ ảnh hưởng không tốt tới quan hệ tốt đẹp giữa Nhà nước và Giáo hội cũng như tới quan hệ giữa Việt Nam và Vatican đang trên đà phát triển tích cực.

Thủ tướng Dũng tỏ ý lấy làm tiếc và bày tỏ không hài lòng về những việc làm sai trái của Tổng Giám mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt trong thời gian gần đây như chủ trương, tổ chức và ủng hộ những hành vi vi phạm pháp luật của một số giáo sĩ, giáo dân tại 42 Nhà Chung và khu vực 178 Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội, thiếu tôn trọng và hợp tác với chính quyền Hà Nội, trong đối thoại để tìm giải pháp thích hợp, có những lời lẽ thách thức Nhà nước, có những phát ngôn dù trong ngữ cảnh nào cũng thể hiện sự xúc phạm đối với đất nước dân tộc, coi thường vị thế đất nước và tư cách công dân Việt Nam trong mối tương quan với thế giới.

Ngoài ra, ông cho rằng những lời nói và hành vi của Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt đã làm giảm sút lớn uy tín của ông trong cộng đồng Công giáo Việt Nam và trong xã hội, ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ tốt đẹp giữa Tòa Tổng Giám mục Hà Nội và chính quyền Hà Nội, giữa Nhà nước và Hội đồng Giám mục Việt Nam. Thủ tướng yêu cầu Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt tự xem xét lại những hành vi của mình để có cử chỉ sửa mình và hành động thiết thực để khắc phục những sai trái vừa qua, mong muốn Hội đồng Giám mục Việt Nam với tinh thần đồng đạo và vì lợi ích chung hỗ trợ và giúp đỡ Tổng Giám mục Kiệt nhiều hơn nữa, trước hết chấp hành pháp luật.

Thủ tướng Dũng cũng giải thích thêm với các giám mục về thiện chí đối thoại chân thành hòa bình của Chính phủ và các cơ quan Nhà nước ở Trung ương và địa phương đối với việc giải quyết vụ việc ở 42 Nhà Chung và giáo xứ Thái Hà vừa qua, không chủ trương và thực hiện vũ lực, nhưng đối với các hành vi chống lại Hiến pháp và pháp luật thì quốc gia nào cũng phải sử dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ Hiến pháp và pháp luật.

Thủ tướng Dũng cũng cho rằng việc thông tin về các sự việc vi phạm pháp luật ở 42 Nhà Chung và giáo sứ Thái Hà vừa qua là cần thiết và cơ bản là chính xác, còn những ý kiến đóng góp ý về nội dung, cách thức đưa tin, các cơ quan truyền thông sẽ sẵn sàng lắng nghe và cùng trao đổi để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của công chúng và xã hội.

Tất cả những “quan điểm” của Hội đồng Giám mục Việt Nam nêu ra qua văn bản “Quan điểm của Hội đồng Giám mục Việt Nam về một số vấn đề trong hoàn cảnh hiện nay”, đều được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ ra và phê bình một cách nghiêm khắc.

Hội đồng Giám mục Việt Nam không còn cách gì hơn phải công khai đặt mình ra ngoài “chủ trương” của ông Tổng Kiệt, bằng không thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không thể “đánh giá cao” việc làm của Hội đồng Giám mục Việt Nam được.

Một bài học sâu sắc nhất mà Hội đồng Giám mục Việt Nam rút ra được sau cuộc gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đó là: “Chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước Việt Nam được đảm bảo bằng pháp luật và phải được thực hiện trên cơ sở thượng tôn pháp luật, không thể chấp nhận việc lợi dụng tự do tôn giáo để có các hành vi vi phạm pháp luật, càng không nên cho rằng làm đúng giáo luật là không trái pháp luật hay chỉ làm theo giáo luật còn bất chấp pháp luật. Mọi tín đồ tôn giáo Việt Nam, trước hết là công dân Việt Nam. Một tín đồ tốt phải là một công dân tốt”

Và Hội đồng Giám mục Việt Nam có những quyết định để chấm dứt cũng như không lặp lại những việc làm sai trái đó, nếu không sẽ ảnh hưởng không tốt tới quan hệ tốt đẹp giữa Nhà nước và Giáo hội cũng như tới quan hệ giữa Việt Nam và Vatican đang trên đà phát triển tích cực.

Thường Trung, huongsenviet, ngày 21/10/08
NDVN, ngày 24/10/08

nhandanvietnam.org

Categories: Chúa Dê-su | 1 bình luận

Hồ Sơ Tộc Ác của Hội Thừa Sai Paris và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam trong lịch sử mất nước hồi cuối thế kỷ 19

Nếu lấy năm 1533 làm cái mốc đầu tiên về sự có mặt của đạo Công giáo trên đất nước Việt Nam thì tới nay (2003), Giáo hội Công giáo Việt Nam đã có 470 năm lịch sử. Trong chiều dài thời gian gần 5 thế kỷ có khoảng hơn bốn thập niên trong nửa cuối thế kỷ 19 (1852-1884) là thời gian thăng trầm, phức tạp và ô nhục nhất trong giáo sử Công giáo Việt Nam. Đó chính là thời gian các giáo sĩ trong Hội Thừa Sai Paris và khoảng 600,000 giáo dân đã tích cực giúp cho thực dân Pháp hoàn thành dễ dàng cuộc xâm chiếm Việt Nam và mau chóng bình định lãnh thổ để áp đặt nền thống trị lên dân tộc Việt Nam trong hơn 80 năm.

Những gì đã xảy ra trước và trong quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp đã khẳng định rằng: các giáo sĩ trong Hội Thừa Sai Paris đã chủ động tạo ra cớ cho cuộc can thiệp võ trang của Pháp vào Việt Nam. Sử gia Pháp Georges Coulet đã viết trong tác phẩm của ông Cultes et Religions de l’Indochine Annamite (Saigon, p. 99) như sau: “ Thiên Chúa giáo đã mở cửa cho quân đội Pháp và đã là nguyên nhân trực tiếp của cuộc xâm lược đất nước này”.

Suốt thời gian giặc Pháp đô hộ, danh dự của tổ quốc Việt Nam đã bị xỉ nhục nặng nề, sinh mạng và tài sản của nhân dân bị quân địch xâm phạm nghiêm trọng. Đây là những vết hằn lịch sử khó có thể xóa mờ trong ký ức của mọi người Việt yêu nước. Lịch sử mất nước của dân tộc Việt Nam vào cuối thế kỷ 19 gắn liền với sự có mặt của Hội Thừa Sai Paris – một công cụ mở rộng nước Chúa của Vatican, đồng thời cũng là một công cụ mở rộng thuộc địa của thực dân Pháp. Sát cánh với Hội Thừa Sai Paris là Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vào thời điểm đó đã hiện nguyên hình là một tập đoàn Việt gian bán nước theo giặc, trắng trợn phản bội Tổ Quốc.

Việc dựng lại một cách chân xác giai đoạn thăng trầm của lịch sử mất nước ô nhục đó không phải là chuyện dễ dàng vì các sử liệu về giáo sử Công giáo Việt Nam còn lưu lại ở Việt Nam rất hiếm hoi. Nhưng một sự may mắn đã đến với chúng ta là sử gia Patrick J.N. Tuck, người Ấn Độ, giáo sư sử học tại đại học Liverpool (Anh Quốc) đã bỏ ra nhiều công sức sưu tầm các tư liệu liên quan đến các hoạt động của các giáo sĩ thừa sai Pháp và các chính sách của đế quốc tại Việt Nam từ 1857 đến 1914.

Tất cả các tài liệu lịch sử quí giá này đều là những tài liệu do chính văn khố của Hội Thừa Sai Paris cung cấp. Đây là một món quà tinh thần quí giá cho những ai hằng thao thức tìm hiểu giáo sử Công giáo Việt Nam. Bộ sưu tập tài liệu về Hội Thừa Sai Paris của sử gia Patrick J.N. Tuck được viết bằng Anh ngữ dưới tựa đề “French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in Vietnam 1857-1914” do Liverpool University Press xuất bản tại Anh Quốc năm 1987. Bản dịch Việt ngữ do UBĐKCGYNVN/TP.HCM thực hiện và phổ biến năm 1989 dưới tựa đề: “Thừa Sai Công Giáo Pháp và các chính sách của dế quốc tại Việt Nam 1857-1914”. (Mỗi khi trích dẫn tài liệu này, chúng tôi xin ghi tắt TSCG) . Ngoài tư liệu của Patrick Tuck, chúng tôi còn tham khảo thêm sách “Sự Du Nhập của Thiên Chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19” của giáo sư Nguyễn Văn Kiệm với sự hợp tác của Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo và Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam (mỗi khi trích dẫn sách này, chúng tôi xin ghi vắn tắt SDN/TCG).

Cả hai cuốn sách nói trên cung cấp cho chúng ta rất nhiều bằng chứng lịch sử về các hoạt động đầy tội ác của các giáo sĩ thuộc Hội Thừa Sai Paris trong nỗ lực vận động Vatican và hoàng gia Pháp (Napoleon III) xâm chiến Việt Nam hầu thực hiện hai mục tiêu vừa truyền giáo vừa xâm chiếm thuộc địa.

I. Sự thành lập hội Thừa Sai Paris và tiến trình tội ác của hội này đối với dân tộc Viêt Nam.

Sáng kiến đầu tiên đưa đến việc thành lập hội Thừa Sai Paris là do Alexandre de Rhôde. Vào năm 1652 và 1653, Alexandre de Rhôde về Âu châu vận động Vatican và Pháp thành lập hội Thừa Sai gồm toàn giáo sĩ người Pháp để gửi sang Viễn Đông truyền đạo và mở rộng ảnh hưởng của Pháp tại vùng này. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, ảnh hưởng của Bồ Đào Nha tại Á Châu còn mạnh. Đại sứ Bồ Đào Nha bên cạnh Vatican cực lực phản đối việc thành lập Hội Thừa Sai Pháp và hăm dọa sẽ bắt bỏ tù các giáo sĩ đến Á Châu mà không có phép của hoàng gia Bồ. Phải đợi đến năm 1658, khi hoàng gia Bồ suy yếu mọi mặt và không còn đủ sức tài trợ cho cuộc truyền giáo tại Á Châu, nên đã bị Tòa Thánh chính thức thu hồi “độc quyền truyền giáo” (Padroado).

Hội Thừa Sai Paris được chính thức thành lập năm 1663 gồm toàn các giáo sĩ người Pháp thuộc ngành triều (secular), tức là các tu sĩ chuyên việc trông coi giáo dân tại các giáo xứ. Kể từ đó, mỗi khi thiết lập một giáo phận mới tại Á Châu, Vatican đều giao các giáo phận mới cho các giáo sĩ thừa sai Pháp cai quản. Mặc dầu hoạt động của các thừa sai đều thuộc về tôn giáo, nhưng chính quyền Pháp đã ra lệnh cho bộ Ngoại Giao, bộ Thương Mại và nhất là bộ Hải Quân và Thuộc Địa phải tích cực yểm trợ cho các giáo sĩ thừa sai (TSCG, trang 27). Ông Bonifacy, tác giả cuốn “Les Debuts du Christianisme en Annam” xuất bản tại Hà-Nội năm 1930 đã viết: “Vai trò của Alexandre de Rhôde trong việc thành lập hội Thừa Sai Paris đã đưa giáo hội Công giáo Đàng Trong và Đàng Ngoài ra khỏi vòng kiểm soát của người Bồ Đào Nha, và đem lại cho người Pháp vai trò quan trọng nhất ở bán đảo Đông Dương” p. 16-17 (SDN/TCG, trang 123).

Việc thành lập hội Thừa Sai Paris năm 1663 không phải là một hành vi tôn giáo thuần túy mà là một nhu cầu cần thiết của chủ nghĩa thực dân Pháp thời đó, vì hội này do chính phủ Pháp thành lập và tài trợ để làm công cụ thực hiện tham vọng bành trướng thuộc địa ở Viễn Đông. Danh từ “giáo sĩ thừa sai” (missionaries) được định nghĩa là người được cử ra nước ngoài để thực hiện những công việc do cấp trên sai phái. Cấp trên ở đây không hẳn chỉ là Toà Thánh La Mã mà chủ yếu là quốc gia đã lập ra hội Thừa Sai. Tự Điển Bách Khoa Hoàn Vũ (Encyclopedia Universallis) của Pháp xuất bản năm 1990 cũng thêm định nghĩa Hội Thừa Sai (Mission) như sau: “Hội Thừa Sai cũng tiến hành nhiệm vụ thực dân, cũng chinh phục và tiêu diệt, tham gia các cuộc chinh phạt để đoạt lấy quyền uy vinh quang và lợi tức. Điều quan trọng nhất của Hội Thừa Sai là đồng hóa văn hóa của các xứ bản địa” (SDN/TCG, trang 302).

Gần hai thế kỷ sau ngày thành lập, đến đầu thế kỷ 19 có 3 biến cố xảy ra làm cho Hội Thừa Sai Paris trở thành hội Truyền Giáo mạnh nhất của Giáo hội Công giáo:

– Biến cố 1: Vào năm 1822, các nhà tư bản Pháp thành lập tại Lyon một tổ chức lấy tên là “Hội Truyền Bá Đức Tin”.Đây là một trung tâm tài chánh lớn lao yểm trợ các hoạt động của các giáo sĩ thừa sai tại Viễn Đông. Năm 1839, quĩ của hội lên tới hai triệu francs.

– Biến cố 2: Năm 1839, giáo hoàng Gregory XVI chính thức thừa nhận hội Thừa Sai Paris là cơ quan truyền giáo chủ lực tại Viễn Đông. Tuy nhiên, trọng tâm trách nhiệm của Hội là Việt Nam.

– Biến cố 3: Cuộc đảo chánh do các giáo sĩ Pháp chủ trương năm 1851 đã đưa Louis Napoleon lên ngôi hoàng đế (tức Napoleon III). Sự kiện này đưa đến sự liên kết mật thiết giữa hoàng gia Pháp và Vatican. Điển hình là vụ Vatican và Pháp dàn dựng màn kịch bịp bợm “Phép lạ Lộ Đức” năm 1858 (xin đọc webpage Giao Điểm tháng 8, 2003).

A. Các giáo sĩ thừa sai tích cực vận động Vatican và chính quyền Pháp xâm chiếm Việt Nam.

– Các giáo sĩ thừa sai Paris giao du thân mật với hoàng hậu Eugénie, họ đã lợi dụng hoàng hậu xúi giục Napoleon III xâm chiếm Việt Nam từ năm 1852. Do đó, Napoleon III đã đích thân ra lệnh cho phái bộ ngoại giao Pháp tại Trung Quốc phải thâu thập các tài liệu về công cuộc truyền giáo tại Đông Dương (TSCGP, trang 53).

– Đầu tháng 5/1857, giám mục Pellerin và linh mục Huc đến Paris trình bày kế hoạch đánh chiếm Đông Dương tại Ủy Ban Thuộc Địa Pháp. Ngày 21-5-1857, giám mục Pellerin và linh mục Huc được Napoleon III tiếp kiến tại hoàng cung. Sau đó, vào tháng 6 và tháng 8 năm 1857, Pellerin và Huc lại được Napoleon tiếp kiến thêm hai lần nữa. Toàn bộ kế hoạch xâm lược Việt Nam do hai giáo sĩ thừa sai này đề nghị đều được giáo hoàng Pio IX và Napoleon III tán thành (TSCGP, trang 554).

Giám mục Pellerin sinh tại Pháp năm 1813, được cử làm giám mục tại Saigon năm 1844. Năm 1857, y về Pháp vận động chiếm Việt Nam. Năm 1859, Pellerin trở lại Việt Nam trên chiếm hạm của Rigault de Genouilly, nhân dịp này, y xúi giục đô đốc Genouilly đánh chiếm Đà Nẵng, nhưng Genouilly không chịu vì y muốn chiếm Saigon trước đã. Sau đó, Pellerin được hội Thừa Sai đổi về Penang dạy học, y chết tại đó năm 1862, thọ 49 tuổi (TSCGP, trang 554).

Linh mục Huc sinh tại Pháp năm 1814. Trong các năm 1844-1846, linh mục Huc mạo hiểm đến giảng đạo tại Tây Tạng và miền Tân Cương (Trung Quốc). Năm 1850, linh mục Huc xuất bản mấy cuốn sách kể chuyện mạo hiểm giảng đạo tại các xứ huyền bí Á Châu, đồng thời viết sách kêu gọi chính quyền Pháp xâm chiếm Triều Tiên, Madagascar và Việt Nam làm thuộc địa. Napoleon III đã đọc và rất chú ý đến các sách của linh mục Huc. Do đó, sau khi tiếp xúc với linh mục Huc năm 1857 tại hoàng cung, Napoleon II đã cho thành lập “Ủy Ban Brenier” để nghiên cứu đề nghị của linh mục Huc. Trong khi đó, giám mục Pellerin đến thuyết giảng tại nhà thờ Notre Dame de Paris và vận động tờ báo L’Univers ủng hộ việc xâm chiếm Việt Nam làm thuộc địa.

Tháng 5/1857, ủy ban Brenier lập bản phúc trình đề nghị hoàng đế Napoleon III áp đặt chế độ bảo hộ lên Việt Nam để phục vụ lợi ích của nước Pháp. Ủy ban này đề nghị thực hiện một cuộc viễn chinh với một hạm đội gồm 6 tàu chiến và 2600 thủy quân, kinh phí 4 triệu quan. Quân viễn chinh sẽ được sự yểm trợ của hải quân Pháp đang đóng tại Trung Quốc và sự hỗ trợ tích cực của 600,000 giáo dân công giáo bản địa.

Hoàng đế Napoleon III chấp thuận đề nghị của ủy ban Brenier ngày 21-9-1857. Mấy tháng sau, Napoleon III giao nhiệm vụ cụ thể cho đô đốc Rigoult de Genouilly để thực hiện cuộc bảo hộ của Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam (TSCGP, trang 57-61). Cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài từ cuối 1857 đến tháng 2/1861, Pháp chiếm trọn Côn Đảo, Biên Hòa, Bà Rịa, Vĩnh Long và toàn miền Đông Nam Kỳ.

B. Quân dội viễn chinh Pháp và các giáo sĩ thừa sai tại Việt Nam có cùng mục tiêu chung.

– Cơ quan tối cao điều hành cuộc viễn chinh xâm lược Việt Nam là bộ Hải Quân và Thuộc Địa Pháp, trụ sở tại Paris, do Chasseloup Laubat làm bộ trưởng. Chasseloup Laubat công khai tuyên bố phải biến xứ Nam Kỳ thành một Philippines thứ hai tại Á Châu. Nói cách khác, biến Nam Kỳ thành một xứ Công giáo là một giải pháp tốt nhất để ổn định thuộc địa một cách lâu dài.

Như vậy rõ ràng là quan điểm của bộ Hải Quân và Thuộc Địa của chính quyền Pháp coi việc Công giáo hóa Nam Kỳ là một nhu cầu chính trị (TSCGP, trang 123). Để thực hiện mục tiêu này, bộ Hải Quân và Thuộc Địa Pháp đã đưa ra hai quyết định sau đây:

1. Chính quyền Hải Quân Pháp nhận trách nhiệm thành lập một hệ thống các giáo xứ Công Giáo tại Nam Kỳ.

2. Các giáo sĩ thừa sai Pháp được coi là những công chức phục vụ nhà nước nên họ được hưởng lương hàng năm. Năm 1864, nhà nước thuộc địa Pháp đã trả cho các giáo sĩ thừa sai 40,000 Francs; năm 1879 tăng lên 145,000 Francs. (TSCGP, trang 134-135).

C. Các giáo sĩ thừa sai tích cực giúp thực dân Pháp mau chóng bình định lãnh thổ thuộc địa.

1.- Giám mục Puginier (1835-1892): Dựa vào thế lực mạnh của hội Thừa Sai Paris đối với chính quyền Pháp, giám mục Puginier đã tỏ thái độ coi thường các quan chức thuộc địa tại Việt Nam. Vào tháng 7-1874, giám mục Puginier viết thư mắng đô đốc Dupré đã để cho thuộc hạ là Francis Garnier rút quân khỏi Bắc Việt. Tháng 8-1885, giám mục Puginier đòi tướng Courcy phải bắt Nguyễn Văn Tường bỏ tù. Giám mục Puginier đưa ra chủ trương ổn định thuộc địa bằng cách Công giáo hoá thuộc địa. Y tuyên bố: “ Khi nào Bắc Kỳ biến thành một xứ Công giáo thì nó sẽ là một nước Pháp nhỏ” (TSCGP, trang 560-562)

Puginier đòi hỏi chính quyền thuộc địa Pháp phải tiêu diệt giới nho sĩ Việt Nam (Văn Thân) vì họ được dân chúng kính trọng, họ không chấp nhận sự đô hộ của Pháp và chẳng ai trong số họ chịu theo đạo.

Năm 1886, giám mục Puginier ra lệnh cho linh mục Trần Lục ở Phát Diệm tăng viện cho Pháp 5,000 giáo dân binh để phá chiến lũy Ba Đình của Đinh Công Tráng.

Giám mục Puginier là người đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trên chính sách bình định Việt Nam của thực dân Pháp. Chính ông ta đã cung cấp cho Pháp rất nhiều tin tức tình báo do giáo dân khắp nơi thu thập báo cáo về các cuộc phản công của triều đình Huế và các cuộc binh biến của quân kháng chiến.

Puginier chết tại Hà Nội năm 1892. Hắn được chính phủ Pháp truy tặng Bảo Quốc Huân Chương và truy phong Sĩ Quan Danh Dự của quân đội Pháp để xác nhận công lao to lớn của giáo sĩ thừa sai này trong việc Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ hồi cuối thế kỷ 19.

2.- Giám mục Gauthier (1810-1877) : Gauthier lấy tên Việt là Ngô Gia Hậu, được cử làm giám mục Nam Đàng Ngoài từ năm 1846, có 66,350 giáo dân rải rác trong 346 xứ dạo (TSCGP, trg 528-530).

Trong bức thư gửi đô đốc Dupré ngày 15-1-1874, giám mục Gauthier và Puginier đã thúc giục chính quyền thuộc địa Pháp thiết lập một chính phủ Công giáo tại Bắc Việt (theo “Christianisme et Colonialisme au Vietnam 1857-1914 par Cao Huy Thuần – Paris 1960, p. 306).

Năm 1874, Gauthier khuyến khích các làng Công giáo tổ chức các đội dân quân võ trang, sau đó ra lệnh cho họ kéo quân đi đánh phá các làng bên lương ở Nghệ An và Hà Tĩnh.

Giám mục Gauthier và Puginier có nhiều tên đệ tử trung thành xuất sắc, trong số đó có Nguyễn Trường Tộ (theo hầu Gauthier 10 năm) và hai linh mục Nguyễn Hoằng và Nguyễn Điều.

II. Tội Ác bán nước theo giặc của Giáo hội Công giáo Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ 19.

Vào nửa cuối thế kỷ 19, có khoảng 600,000 người Việt Nam đã mù quáng đi theo tôn giáo lạ mang tính chất vong bản. Họ đã dễ dàng lìa bỏ nếp sống văn hóa truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên, trước khi Pháp đổ quân xâm chiếm Việt Nam, những người Công giáo được coi là những công dân lầm lạc vì nhẹ dạ và ngu dốt nên Triều Đình và nhân dân Việt Nam không nỡ ra tay tiêu diệt họ. Nhưng kể từ khi Pháp chiếm Đà Nẵng năm 1856, đa số giáo dân Công giáo đã trắng trợn ra mặt theo giặc và phản bội Tổ Quốc.

Hiện tượng đầu tiên là nhiều ngàn giáo dân rời bỏ Bắc Kỳ kéo vào Đà Nẵng xin đi lính tập cho Pháp. Đô đốc Rigault de Genouilly tiếp nhận họ tại Sơn Trà và huấn luyện họ tại đây. Sau đó, Genouilly đã tuyển chọn 6000 người trong số họ để nhập vào liên quân Pháp-Tây Ba Nha đánh chiếm Saigon.

Trong công cuộc xâm chiếm và bình định Việt Nam, thực dân Pháp đã được giáo hội Công giáo Việt Nam hỗ trợ tích cực mọi mặt. Trong số các tín đồ Việt gian, có những nhân vật rất nổi tiếng sau đây :

1, Tổng Đốc Phương, tức Đỗ hữu Phương, sinh năm 1844 tại Saigon, nguyên chủng sinh tại Penang, thông thạo tiếng Pháp, được Pháp chọn tham gia phái đoàn của Pháp trong cuộc thương lượng với triều đình Huế năm 1868. Sau đó Phương tham gia các cuộc tảo thanh chống Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá. Năm 1872, Phương được Pháp thăng chức tổng đốc Saigon.

2, Trần Bá Lộc, sinh năm 1834 trong một gia đình Công giáo tại Long Xuyên. Lộc xin vào đoàn quân Công giáo do Charner tổ chức chuyên việc lùng quét các nhóm quân kháng chiến. Sau khi tham gia nhiều trận đánh tái chiếm Rạch Giá, Lộc được Pháp phong chức tổng đốc Rạch Giá. Y là tên đại Việt gian được Pháp tín nhiệm trao nhiệm vụ triệt hạ phong trào kháng chiến từ Quảng Nam đến Phan Thiết. Với nhiệm vụ này, Trần Bá Lộc đã giết hại khoảng 25 ngàn người Việt yêu nước.

3, Trần Tử Ca, nguyên là một người bên lương, sinh trưởng tại Gò Vấp. Lúc đầu y đi theo kháng chiến, nhưng sau đó y theo đạo, rời bỏ hàng ngũ kháng chiến theo giặc chống lại Tổ Quốc. Năm 1862, Ca được Pháp bổ làm tri huyện Hóc Môn. Năm 1865, y đi theo quân đội Pháp càn quét các tỉnh miền Tây. Đêm 9-2-1885, Ca bị nghĩa quân giết chết .

4, Huỳnh Công Tấn, là một người Công giáo trong hàng ngũ nghĩa quân của Trương Công Định từ 1861. Ngày 20-8-1864, Tấn phản bội, bất thần phục kích giết chết Trương Định tại Gò Công. Ngày 19-9-1868, Huỳnh Công Tấn cùng với 127 lính tập Công giáo vây bắt Nguyễn Trung Trực tại đảo Phú Quốc. Như vậy, riêng một mình y đã sát hại được hai nhà cách mạng kháng chiến nổi tiếng tại Nam Kỳ. Y được Pháp trao tặng Bắc Đẩu Bội Tinh cho hai chiến công lớn này !

5, Tạ Văn Phụng, tức Phêrô Lê Duy Phụng, nguyên chủng sinh tại Penang, lấy danh nghĩa là con cháu nhà Lê dấy binh khởi nghĩa tại Bắc Kỳ chống triều đình Huế năm 1858. Tạ Văn Phụng nhờ các giáo sĩ liên lạc với chính phủ Pháp để xin giúp đỡ. Napoleon III đồng ý, và cử tên gián điệp Duval sang Việt Nam giúp Phụng với mục đích biến Bắc Kỳ thành một xứ Công giáo với một chính quyền Công giáo. Duval đi Macao mua vũ khí và giúp Phụng thành lập những đoàn quân gồm đa số là giáo dân. Trong các tháng 6 và 7-1863, Phụng khởi quân đánh chiếm một vùng rộng lớn ở đồng bằng Bắc Bộ gồn 3 tỉnh Quảng Yên, Hải Dương và Nam Định.Triều đình Huế cử Nguyễn Tri Phương đem quân ra Bắc dẹp loạn. Tạ Văn Phụng bị bắt đem về Huế xử tử.

Vài điều trình bày trên đây chỉ là bản phác họa một cách trung thực những giai đoạn của Việt Nam vong quốc sử hồi nửa cuối thế kỷ 19. Đây là điều cần thiết để nhắc nhở toàn dân Việt Nam phải luôn luôn đề cao cảnh giác phòng ngừa những thế lực ngoại bang cùng tay sai bản địa lấy danh nghĩa tôn giáo để xâm lăng chủ quyền và phá hoại nền văn hóa cổ truyền của dân tộc.

Riêng đối với Vatican và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, hai tổ chức này không thể phủ nhận trách nhiệm trong việc họ đã cấu kết với thực dân Pháp chống lại nước Việt Nam gần một thế kỷ (từ giữa tk 19 dến gần giữa tk 20). Gần đây, Giáo Hoàng đã thú nhận những tội lỗi của Vatican đối với nhiều quốc gia và dân tộc trên thế giới. Còn bao giờ thì Giáo hội Công giáo Việt Nam mới lên tiếng tạ tội với dân tộc về những lỗi lầm trong quá khứ đối với Tổ Quốc ?

Các bạn Công giáo Việt Nam: để tỏ tình dân tộc, các bạn cần áp lực Giáo Hội Công Giáo Việt Nam tách hẳn khỏi ảnh hưởng của Vatican (như Anh Quốc đã làm trước đây, và Trung Quốc đang làm). Tại sao các bạn không thể “hiệp thông thẳng với Chúa” mà không cần trung gian của Vatican hay cái giáo hội tay sai của Vatican ?

Charlie Nguyễn
Sept 2003

nhandanvietnam.org

Categories: Chúa Dê-su | Bình luận về bài viết này

Ngày tàn của những kẻ truyền Đạo cuồng tín

Phần trích đoạn dưới đây nằm trong Chương 92 (Vấn nạn Giáo hội La Mã), thuộc Phần V của tác phẩm “Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội Cộng giáo La Mã” của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang

Bộ sách này mới lược thảo xong (9/2006), và đang ở vào giai đoạn biên tập chót để hoàn tất. Bộ sách được chia làm 6 phần :

  • Phần I đề cập đến tổng lược lịch sử và những tội ác chống nhân loại của Giáo Hội La Mã. Phần này chia làm 6 mục (I đến VI), tổng cọng 15 chương, dài khoảng trên 900 trang.
  • Phần II nói về Giáo Hội La Mã chủ động rồi vận động đế quốc Pháp cùng liên kết đánh chiếm Việt Nam để cùng thống trị và chia nhau lợi nhuận. Phần này gồm 3 mục (VII den IX), tổng cọng 14 chuong, dài khoảng 500 trang.
  • Phần III nói về xã hội và chính tình Việt Nam trong những năm 1940-1945. Phần này gồm 3 mục (X đến XII) tổng cọng 14 chương, dài khoảng 550 trang.
  • Phần IVnói về Mặt Trận Việt Minh lãnh đạo cuộc Kháng Chiến 1945-1954. Phần này gồm 3 muc (XIII đến XV), tổng cọng 13 chương, dài khoảng tu 550 trang.
  • Phần V nói về miền Nam Việt Nam dưới ách thống trị của Liên minh Mỹ – Vatican, gồm 6 muc (XVI đến XXI), tổng cọng 32 chuong, dài khoảng 900 trang.
  • Phần VI nói về Phong Trào Nhân Dân Thế Giới Phản Kháng Giáo Hội Công Giáo La Mã. Phần này gồm 3 mục (XXII đến XXIV), tổng cọng 26 chương, dài khoảng 500 trang

Tác phẩm nghiên cứu công phu này đã được Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang chuẩn bị từ năm 1997, đến nay đã hoàn thành được trên 90%.

Tựa đề trích đoạn nầy do GĐOL đặt. Để đọc toàn bộ Chương 92 hoặc các Chương khác (83 đến 94) của tác phẩm nầy, xin link vào http://www.giaodiemonline.com/sachgd.php

Chế độ Đạo phiệt của Kitô La Mã

Những người thấu hiểu lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã đều khẳng định rằng, đạo Ki-tô, đặc biệt là hệ phái Ki-tô La Mã luôn luôn có chủ trương tôn giáo chỉ đạo chính quyền. Chủ trương này được thể hiện ra bằng việc thiết lập chế độ đạo phiệt (với bộ máy cai trị bằng các tổ chức cảnh sát, công an và mật vụ như thiên la địa võng) trong đó giới tu sĩ của hệ phái đó được coi như là giới người siêu quyền lực ngồi ở hậu trường gọi là chính quyền chìm (informal government) làm chính sách, điều khiển và ra chỉ thị cho chính quyền thế tục gọi là chính quyền nổi (formal government) phải thi hành. Chính quyền thế tục này sẽ thi hành tất cả những kế hoạch, biện pháp và các quyết định do chính quyền chìm đưa ra, trong đó đáng kể nhất là những biện pháp dưới đây:.

Biện Pháp 1: Phải đưa hệ phái tôn giáo này lên hàng quốc giáo bất kể là dưới dạng thức nào (vấn đề quan trọng là bản chất), ban hành những luật lệ, bất kể là hình thức nào, nhằm cưỡng bách nhân dân phải tuân hành những giáo luật. Tất cả những giáo luật đều có mục đích duy nhất là phục vụ cho quyền lợi của hệ phái tôn giáo này mà quan trọng nhất là việc nắm độc quyền tất cả các phương tiện sản xuất trong nước và kiểm soát hay khống chế tất cả mọi sinh hoạt trong xã hội. Đây là truyền thống trong đạo Ki-tô La Mã (xin gọi vắn tắt là đạo Da-tô). Chủ trương này đã được Giáo Hội La Mã đưa ra và triệt để thi hành từ thế kỷ 4 cho đến ngày nay. Sự kiện này được cựu giáo-sĩ Malachi Martin ghi nhận ở trong cuốn Rich Church, Poor Church với nguyên văn như sau.

Trong các vấn đề tôn giáo, trước khi Kitô giáo ra đời, các tôn giáo trên thế giới đều có đặc tính khoan dung. Một trong những thông điệp của Delphic Oracle là “Mọi người đều đúng cả. Chẳng có ai sai quấy.” Nguyên tắc của người La Mã thời bấy giờ là “Tôn giáo ở trong vùng (nơi bạn cư ngụ) là tôn giáo của bạn.” Trong tâm trí và trong cách ứng xử của người đời thời bấy giờ là không có sự liên hệ gì giữa tôn giáo và chân lý. Tôn giáo không được coi như là một sự kiện có thật. Cho nên, thời kỳ trước khi đạo Kitô ra đời, không có chiến tranh tôn giáo, không có chuyện bách hại tôn giáo, và cũng không có người nào gọi là tử đạo cho niềm tin tôn giáo của họ. Lúc bấy giờ, không có ai cố gắng áp đặt tôn giáo hay cưỡng bách người khác phải theo tôn giáo của mình. Chỉ có những người Ki-tô giáo mới sản xuất ra chiến tranh tôn giáo, gây nên những vụ bách hại tôn giáo và tạo nên những người tử đạo.

Ngay từ lúc đầu, người Ki-tô giáo đã khăng khăng cho rằng tôn giáo của họ là chân lý, rằng tôn giáo của họ nói về thực tế. Họ đưa ra lập luận rằng tôn giáo của họ là một chân lý toàn cầu, rằng chỉ có Ki-tô giáo mới là tôn giáo đích thực. Vì thế, mọi hệ thống triết lý khác và mọi hệ thống kiến thức khác – bất kỳ ngành họat động nào của con người có liên hệ với chân lý – đều phải hài hòa với tôn giáo đích thực là Ki-tô giáo. Trái lại, đó chỉ là một hệ thống triết lý giả, một kiến thức giả. Tất nhiên là mọi tính cách đạo đức đều từ Ki-tô giáo mà ra. Ki-tô giáo thấm nhập vào tất cả mọi lãnh vực trong đời sống thế tục từ kinh tế, chính trị, tài chánh, nghệ thuật, giáo dục cho đến các cơ cấu khác trong xã hội. Tôn giáo và chính trị, tôn giáo và tài sản, tôn giáo và chính quyền, tôn giáo và nghệ thuật, tôn giáo và sự học hỏi – giữa những liên hệ cơ cấu này, không có sự chống đối nào mà không hòa giải được. Những cơ cấu này không thể tách rời được và cũng không thể giữ nó ở trong tình trạng tách rời nhau. Các vấn đề như quân sự, chính trị, tài sản, nghệ thuật và chính quyền, tất cả đều phải bị tôn giáo thống trị tuốt luốt.”

Nguyên văn: “In religious matters, the pre-Christian world was ecumenical tolerant. “Everybody is right. Nobody is wrong,” was one message of the Delphic Oracle, “Whatever be the region of the earth where you find yourself,” went the Roman principle, “that region’s religion is your religion.” In men‘s minds and in the way they conducted their affairs, there was no connection between religion and truth. Religion was not considered a true thing. Hence, prior Christianity, there was no religious wars and no religious persecutions. There was no religious martyrs for their faith. No one tried to impose religion as such on anyone else. Only Christians produced such wars, persecutions and martyrs.

From their beginnings, Christians insisted that their religion was true, that it did speak about reality. They drew the logical conclusion from that: that it was universally true. That there could be only one true religion. Theirs. Hence all philosophy and all knowledge – any branch of human activity that dealt with the truth – had to be, would be reconcilable with the true religion, Christianity. Otherwise, it was a false philosophy, a false knowledge. Automatically, an all embracing morality from this Christianity. It permeated all aspects of temporal life: economics, politics, finance, the arts, education, social structures. Religion and politics, religion and wealth, religion and government, religion and art, religion and learning – between these there was no irreconcilable opposition. They were not separate or to be kept separate. Military matters, matters of politics, wealth, art, government – all became dominated by religion.”) 1

Bản văn trên đây cho chúng ta thấy rõ dã tâm của Giáo Hội La Mã là muốn nắm trọn quyền kiểm soát tất cả một phương tiện sản xuất và tất cả mọi phạm vi sinh hoạt trong xã hội. Cũng vì thế mà ở đâu có quyền lực của Giáo Hội vươn tới thì ở đó chế đô cha cố (đạo phiệt Da-tô) sẽ được thiết lập và nhân dân sẽ trở nên nghèo đói, ngu dốt, lạc hậu và chậm tiến. Bằng chứng là nhân dân các nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý Đại Lợi ở Nam Âu từ năm 1945 trở về trước ở trong tình trạng nghèo đói, lạc hậu, chậm tiến, nặng đầu óc mê tín và có nhiều tệ đoan xã hội hơn rất nhiều nếu so với các nước Âu Châu khác ở Bắc và Tây Âu. Sách Rich Church Poor Church viết:

Sự trái ngược giữa các nước nghèo khó ở Nam Âu và sự phồn thịnh của các nước ở Bắc Âu thật là quá rõ ràng. Nước Anh Tin Lành đã trở thành một cường quốc trên thế giới và đang trên đường trở thành một trong các đại đế quốc thương mại; nước Phổ Tin Lành giầu có và hùng mạnh; nước Hòa Lan Tin Lành đã khởi tiến việc ngoại thương và xứng đáng được mang danh xưng đế quốc. Một du khách đi từ Bắc và Trung Âu tới nước Pháp và bán đảo Tây Ban Nha rồi qua Ý Đại Lợi sẽ thấy sự tương phản về kinh tế, mức sống và trình đồ học vấn tổng quát của người dân trong các quốc gia này. Ở Bắc và Trung Âu, phần lớn là Tin Lành, không có quốc gia nào rơi vào tình trạng chết đói và nghèo khổ triền miên như các nước ở miền Nam Âu. Chủ nghĩa tư bản cổ điển đã lỗi thời và các quốc gia theo đạo Tin Lành, nhân dân các quốc gia này cũng đã thức thời và sẵn sàng từ bỏ nó để làm lợi cho đất nước.

Các chính khách và vua chúa ở các quốc gia Nam Âu cho rằng Tòa Thánh La Mã và chế độ giáo hoàng phải chịu trách nhiệm về sự suy thoái và thua kém của nước họ so với các nước theo đạo Tin Lành.”

Nguyên văn: “The contrast between the impoverished southern European countries and the flourishing northern European states at this time was a glaring one. Already Protestant England had become a world power and was on its way to founding one of the great commercial empires; Protestant Prussia was prosperous and powerful; Protestant Holland was already starting the overseas trade that in time would offer it the title of empire. A traveller from northern and central Europe down into France, the Iberian peninsula, and Italy would be struck by the contrast in economic well-being, standard of living, and general education of the people. The northern and the central nations, predominantly Protestant, had none of the starvation and endemic poverty exhibited down south. Classical capitalism was off on its first flight and the Protestant nations were ready to take advantage of it.

The statesmen and kings in southern Europe held Rome and the papacy primarily responsible for that degrading difference between them and their Protestant counterparts.”2

Tương tự như vậy, người dân ở các nước Châu Mỹ La-tinh nghèo đói lạc hậu, chậm tiến, nặng đầu óc mê tín dị đoan nếu so với nguời ở Bắc Mỹ như Hoa Kỳ và Canada, và người dân Phi Luật Tân nghèo đói, lạc hậu, chậm tiến, nặng đàu óc mê tín dị đoan nếu so vớ những người dân ở lục địa Á Châu như Cao Miên, Miến Điện Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Việt Nam, Trung Hoa, Triều Tiền và quốc đảo Nhật Bản.

Biện pháp 2.- Thiết lập các tổ chức cảnh sát, công an, mật vụ như thiên la địa vọng và trao cho những tín đồ Da-tô “ngoan đạo” tuyệt trung thành với Giáo Hội La Mã nắm giữ nhưng chức vụ chỉ huy. Đồng thời, tất cả những chức vụ chỉ huy các cơ quan quan trọng khác trong chính quyền và trong quân đội cũng đều được trao cho những tín đồ Da-tô đảm trách. Tất cả những việc làm này đều có mục đích duy nhất là chuẩn bị cho việc thi hành biện pháp 3: Tiến hành kế hoạch Ki-tô hóa nhân dân.

Biện pháp 3.- Thi hành kế hoạch Ki-tô hoá nhân dân bằng phương tiện của chính quyền bằng bất cứ thủ đoạn hay manh mung nào cũng được, miễn là đạt được mục đích: Hoặc là dùng một số quyền lợi vật chất hay chức vụ trong chính quyền làm miếng mồi câu nhử những phường tham lợi và háo danh chạy theo bắt mồi mà theo đạo, hoặc là bằng những thủ đoạn gian manh được ngụy trang bằng hình thức luật pháp để cưỡng bách nhân dân phải theo đạo như Đế Quốc La Mã trong thời Hoàng Đế Theodosius I (346-395), ở Tây Ban Nha trong thời Nữ Hoàng Isabella I (1451-1504) và chồng là Hoàng Đế Ferdinand V (1452-1516), ở Anh trong thời Nữ Hoàng Mary I (Bloody Mary) trong những năm 1553-1558, ở Pháp trong thời Pháp Hoàng Louis XIV (1638-1715) [rõ ràng nhất khởi đầu từ năm hủy bỏ Sắc Lệnh Nantes vào năm 1685], ở Croatia trong thời bạo chúa Ante Pavelich trong những năm 1941-1945, hoặc là dùng những thủ đoạn bất chính để dồn người dân vào thế kẹt phải theo đạo để cho thoát nợ như ở miền Nam Việt Nam trong thời bạo chúa Da-tô Ngô Đình Diệm:

Có những người cũng cho rằng họ vào đạo họ vào đạo để khỏi bị sách nhiễu về chính trị. Quần chúng ở đây, vì đã từng sống lâu năm dưới chế độ Việt Minh, nên bị tình nghi có liên hệ với “kẻ địch”, bây giờ vào đạo là gặp được con đường để tỏ lòng trung thành với chế độ, hoặc ít ra cũng tránh được những quấy nhiễu của cảnh sát.” 3

Biện Pháp 4: Phải thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để biến người dân trở thành hạng người vừa ngu xuẩn không biết sử dụng lý trị để tìm hiểu sự vật bằng phương pháp sư phạm bắt học thuộc lòng như con vẹt những bài học đã soạn sẵn và không được được hoài nghi và thắc mắc, điển hình là những lời dạy của Giáo Hội như “Niềm tin tôn giáo không cần đến sự can thiệp của lý trí hay ánh sáng của khoa học” và “phúc cho ai không thấy mà tin”, vừa dốt đặc về lịch sử loài người, giống như những đứa con hoang trong cộng đồng nhân loại, vừa dốt đặc về quốc sử và trở thành những đứa con hoang trong cộng đồng quốc gia. Lý do là vì Giáo Hội La Mà chủ trương kiểm soát chương trình học, không cho học toàn bộ những bài học lịch sử thế giới và cũng không cho học đầy đủ những bài học trong môn quốc sử vào trong chương trình học. Giáo Hội chỉ cho học sinh học một số bài học mà Giáo Hội đã kiểm soát và diễn dịch lươn lẹo theo ý muốn của Giáo Hội rồi mới đưa vào trong chương trình học. Giáo Hội cũng đã làm như vậy trong việc biên soạn các bài giảng trong các nhà thờ. Cũng vì thế mà giáo dân thường hay nói đến thánh kinh, nhưng họ lại không biết rằng ở trong đó, ngoài những chuyện hoang đường có mục đích lòe bịp và lừa gạt người đời, còn có cả hàng rừng chuyện loạn luân, dâm loàn và hàng rừng chuyện tội ác khác.

Giáo Hội có làm như vậy, thì tín đồ (nạn nhân) mới không còn khả năng thông minh để nhìn ra tính cách cực kỳ phi lý, phi nhân bản, phản khoa học và bịp bợm trong những tín lý Ki-tô. Có như vậy, tín đồ mới dễ dàng bị mê hoặc, không còn tỉnh táo để nhìn ra tính cách chuyên chế, độc đoán, phỉnh nịnh, lừa gạt và bóc lột ở trong những giáo luật, trong lời dạy, trong tập tục hay truyền thống trong Giáo Hội La Mã. Có như vậy, tín đồ mới không còn đủ thông minh để nhìn ra sự thật là Giáo Hội La Mã chỉ là một tập đoàn của những phương lưu manh buôn thần bán thánh mượn danh Thiên Chúa hay Chúa Jesus khoác áo tôn giáo để vừa phỉnh nịnh, lừa gạt vừa hù dọa người đời để lùa họ vào cái tròng Da-tô (Catholic loop) làm thế lực củng cố quyền lực cho mưu đồ bá quyền thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại.

Vì bị điều kiện hóa như vậy cho nên tín đồ Da-tô mới cho rằng NẾU KHÔNG tuyệt đối tin tưởng vào tín lý Ki-tô hay không triệt để tuân hành những giáo luật và truyền thống của Giáo Hội, THÌ SẼ BỊ Chúa trừng phạt đày xuống hoả ngục đời đời. Trái lại, NẾU cứ nhắm mắt tin tưởng tuyệt đối vào bất kỳ những gì Giáo Hội rao truyền và dạy bảo theo cái kiểu “phúc cho ai không thấy mà tin” (lời Giáo Hội dạy), THÌ SẼ ĐƯỢC Chúa (mà thực ra là Giáo Hội) cho “lên thiên đưởng hưởng nhan Chúa đời đời”.

Các nhà khoa học gọi những người bị mê hoặc và bị hù doạ như vậy là những người “bị điều kiện hóa” giống như con chó ở trong phòng thí nghiệm của nhà bác học Pavlov, vì rằng ở trong tình trạng như vậy, họ chỉ biết phát ngôn và hành động theo lệnh truyền của những người hướng dẫn mà trong đạo Da-tô gọi là những người chủ chiên hay các linh mục.

Tại sao Giáo Hội La Mã lại gọi tín đồ của Giáo Hội là con Chiên và những người hướng dẫn tín đồ là linh mục?

Chiên là một loài thú thuộc loài ăn cỏ có bốn chân mà người Việt Nam còn gọi là con cừu. Dân Việt Nam ta có thành ngữ “ngu như con cừu”. Con cừu là con vật ngu nhất trong các loài thú ăn cỏ. Người ta nuôi nó chỉ để lấy lông làm len may chăn (mền) hay quần áo, và để ăn thịt. Loài cừu không thể dùng làm những công việc chuyển vận như kéo xe, kéo cày, kéo bừa như loài ngựa và trâu bò.

Qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ, Giáo Hội đã biến tín đồ của Giáo Hội thành những người “ngu như con cừu” để cho Giáo Hội dễ bề mê hoặc và lừa bịp bằng những tín lý cực kỳ hoang đường, dễ bề bóc lột bằng những hình thức dâng lễ vật, và dễ bề sai khiến làm những việc thất nhân ác đức như kêu gọi họ tình nguyện gia nhập vào các đạo quân thập tự khi Giáo Hội phát động chiến tranh tiêu diệt các dân tộc theo các tôn giáo khác như trong thời Trung Cổ, hoặc là hô hào họ gia nhập vào đạo quân thứ 5 nằm tiềm phục tại các xóm đạo chờ khi có lệnh của Giao Hội thỉ nổi lên làm nội ứng chống lại đất nước và dân tộc gốc của họ, hoặc là thúc giục họ phải tìm đủ mọi mánh mung chèn ép hay cưỡng bách người khác tôn giáo phải theo đạo Da-tô khi họ ở vào thế thượng phong hay có quyền trong tay, v.v… . Những lời kêu gọi hay hô hào thiếu văn hóa và dã man này của Giáo Hội được thể hiện ra qua Sắc Chỉ Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas IV (1447-1455) mà chúng tôi đã nêu lên nhiều lần trước đây. Xin ghi lại đây một lần nữa để cho độc có ý niệm liên tục về vấn đề này, khỏi mất công tìm kiếm:

Sắc chỉ “Romanus Pontifex” do Đức (Giáo Hoàng) Nicholas V (1447-1455) ra ngày 8 tháng Giêng năm 1454. Theo quyền lực Chúa ban và quyền lực của Tòa Thánh, Đức Giáo Hoàng ban cho triều đình Lisbon (Bồ Đào Nha) “toàn quyền tự do xâm lăng, chinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân Sarrasins (tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của Giáo Hội, gặp bất cứ nơi nào: được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, lãnh địa, vương hầu, đất đô hộ và tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của chìm của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh viễn4.

Để duy trì tín đồ luôn luôn ở trong tình trạng ngu dốt, chỉ biết cúi đầu tuân phục, triệt để tuân hành những lời dạy và lệnh truyền của Giáo Hội, một hệ thống quyền lực được thiết lập, trong đó, linh mục được trao cho nhiệm vụ hướng dẫn họ, kiểm soát và kiềm chế họ để họ không được có tình ý riêng tư, nghĩa là không để cho tín đồ có thì giờ nhàn rỗi để suy nghĩ hay đọc những tư tưởng gì khác với tín lý Ki-tô hay lời rao truyền và dạy dỗ của Giáo Hội. Đối với Giáo Hội, các linh mục phải luôn luôn tỏ ra mẫn cán và hết sức đắc lực trong nhiệm vụ này.

Chúng ta biết rằng, trong một quốc gia mà chính quyền và tất cả mọi phạm vi sinh hoạt trong nhân dân đều do tôn giáo nắm giữ, kiểm soát, và người dân thì ngu dốt, không biết sử dụng lý trí để hành xử hay bương chải để mưu sinh, thì quốc gia đó sớm hay muộn cũng trở thành lạc hậu, chậm tiến và nhân dân tất nhiên là nghèo khổ, khốn khó điêu đứng trăm bề. Cũng vì thế, như trên đã nói, ở cùng một một lục địa (cùng một hoàn cảnh địa lý) với nhau mà người dân ở các nước Châu Mỹ La-tinh đều ở vào tình trạng nghèo khổ, lạc hậu, chậm tiến nếu so với người dân ở Bắc Mỹ như Canada và Hoa Kỳ, người dân ở Phi Luật Tân cũng ở trong tình trạng nghèo khổ, lạc hậu, chậm tiến nếu so với người dân của các nước Thai Lan, Miến Điện, Việt Nam, Đài Loan, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Nhật Bản. Tương tự như vậy, , người dân ở các nước Nam Âu như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Ý Đại Lợi (triền miên nằm dưới ách thống trị của chế độ cha cố) đều ở vào tình trạng lạc hậu, chậm tiến, mức sống thấp kém nếu so với người dân ở các nước Âu Châu khác nằm ở ngoài vòng kiềm tỏa của Giáo Hội La Mã.

Chính vì tình trạng này mà nhân dân Âu Châu, nạn nhân trực tiếp và sớm nhất của Giáo Hội La Mã, nổi lên chống Giáo Hội liên tục từ thời Trung Cổ với những phong trào như:

1, Martin, Malachi, Rich Church, Poor Church (New York: G.P. Putnam’s Sons, 1984), p. 90.
2, Malachi Martin, Ibid.,), pp 155-156.
3) Trần Tam Tình, Thập Giá và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978), tr.130..
4) Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr. 14- 15Link: http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=1296

giaodiem.com

Categories: Chúa Dê-su | 3 bình luận

Chế độ Đạo phiệt của Kitô La Mã

Phần trích đoạn dưới đây nằm trong Chương 92 (Vấn nạn Giáo hội La Mã), thuộc Phần V của tác phẩm “Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội Cộng giáo La Mã” của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang

Bộ sách này mới lược thảo xong (9/2006), và đang ở vào giai đoạn biên tập chót để hoàn tất. Bộ sách được chia làm 6 phần :

  • Phần I đề cập đến tổng lược lịch sử và những tội ác chống nhân loại của Giáo Hội La Mã. Phần này  chia làm 6 mục (I đến VI), tổng cọng 15 chương, dài khoảng trên 900 trang.
  • Phần II  nói về Giáo Hội La Mã chủ động rồi vận động đế quốc Pháp cùng liên kết đánh chiếm Việt Nam để cùng thống trị và chia nhau lợi nhuận. Phần này gồm 3 mục (VII den IX), tổng cọng 14 chuong, dài khoảng 500 trang.
  • Phần III nói về xã hội và chính tình Việt Nam trong những năm 1940-1945. Phần này  gồm 3 mục (X đến XII) tổng cọng 14 chương, dài khoảng 550 trang.
  • Phần IV nói về Mặt Trận Việt Minh lãnh đạo cuộc Kháng Chiến 1945-1954. Phần này gồm 3 muc (XIII đến XV), tổng cọng  13 chương, dài khoảng tu 550 trang.
  • Phần V nói về miền Nam Việt Nam dưới ách thống trị của Liên minh Mỹ – Vatican, gồm 6 muc (XVI đến XXI), tổng cọng 32 chuong, dài khoảng 900 trang.
  • Phần VI nói về Phong Trào Nhân Dân Thế Giới Phản Kháng Giáo Hội Công Giáo La Mã. Phần này gồm 3 mục (XXII đến XXIV), tổng cọng 26 chương, dài khoảng 500 trang

Tác phẩm nghiên cứu công phu này đã được Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang chuẩn bị từ năm 1997, đến nay đã hoàn thành được trên 90%.

Tựa đề trích đoạn nầy do GĐOL đặt. Để đọc toàn bộ Chương 92 hoặc các Chương khác (83 đến 94) của tác phẩm nầy, xin link vào http://www.giaodiemonline.com/sachgd.php

Chế độ Đạo phiệt của Kitô La Mã

Những người thấu hiểu lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã đều khẳng định rằng, đạo Ki-tô, đặc biệt là hệ phái Ki-tô La Mã luôn luôn có chủ trương tôn giáo chỉ đạo chính quyền. Chủ trương này được thể hiện ra bằng việc thiết lập chế độ đạo phiệt (với bộ máy cai trị bằng các tổ chức cảnh sát, công an và mật vụ như thiên la địa võng) trong đó giới tu sĩ của hệ phái đó được coi như là giới người siêu quyền lực ngồi ở hậu trường gọi là chính quyền chìm (informal government) làm chính sách, điều khiển và ra chỉ thị cho chính quyền thế tục gọi là chính quyền nổi (formal government) phải thi hành. Chính quyền thế tục này sẽ thi hành tất cả những kế hoạch, biện pháp và các quyết định do chính quyền chìm đưa ra, trong đó đáng kể nhất là những biện pháp dưới đây:.

Biện Pháp 1: Phải đưa hệ phái tôn giáo này lên hàng quốc giáo bất kể là dưới dạng thức nào (vấn đề quan trọng là bản chất), ban hành những luật lệ, bất kể là hình thức nào, nhằm cưỡng bách nhân dân phải tuân hành những giáo luật. Tất cả những giáo luật đều có mục đích duy nhất là phục vụ cho quyền lợi của hệ phái tôn giáo này mà quan trọng nhất là việc nắm độc quyền tất cả các phương tiện sản xuất trong nước và kiểm soát hay khống chế tất cả mọi sinh hoạt trong xã hội. Đây là truyền thống trong đạo Ki-tô La Mã (xin gọi vắn tắt là đạo Da-tô). Chủ trương này đã được Giáo Hội La Mã đưa ra và triệt để thi hành từ thế kỷ 4 cho đến ngày nay. Sự kiện này được cựu giáo-sĩ Malachi Martin ghi nhận ở trong cuốn Rich Church, Poor Church với nguyên văn như sau.

Trong các vấn đề tôn giáo, trước khi Kitô giáo ra đời, các tôn giáo trên thế giới đều có đặc tính khoan dung. Một trong những thông điệp của Delphic Oracle là “Mọi người đều đúng cả. Chẳng có ai sai quấy.” Nguyên tắc của người La Mã thời bấy giờ là “Tôn giáo ở trong vùng (nơi bạn cư ngụ) là tôn giáo của bạn.” Trong tâm trí và trong cách ứng xử của người đời thời bấy giờ là không có sự liên hệ gì giữa tôn giáo và chân lý. Tôn giáo không được coi như là một sự kiện có thật. Cho nên, thời kỳ trước khi đạo Kitô ra đời, không có chiến tranh tôn giáo, không có chuyện bách hại tôn giáo, và cũng không có người nào gọi là tử đạo cho niềm tin tôn giáo của họ. Lúc bấy giờ, không có ai cố gắng áp đặt tôn giáo hay cưỡng bách người khác phải theo tôn giáo của mình. Chỉ có những người Ki-tô giáo mới sản xuất ra chiến tranh tôn giáo, gây nên những vụ bách hại tôn giáo và tạo nên những người tử đạo.

Ngay từ lúc đầu, người Ki-tô giáo đã khăng khăng cho rằng tôn giáo của họ là chân lý, rằng tôn giáo của họ nói về thực tế. Họ đưa ra lập luận rằng tôn giáo của họ là một chân lý toàn cầu, rằng chỉ có Ki-tô giáo mới là tôn giáo đích thực. Vì thế, mọi hệ thống triết lý khác và mọi hệ thống kiến thức khác – bất kỳ ngành họat động nào của con người có liên hệ với chân lý – đều phải hài hòa với tôn giáo đích thực là Ki-tô giáo. Trái lại, đó chỉ là một hệ thống triết lý giả, một kiến thức giả. Tất nhiên là mọi tính cách đạo đức đều từ Ki-tô giáo mà ra. Ki-tô giáo thấm nhập vào tất cả mọi lãnh vực trong đời sống thế tục từ kinh tế, chính trị, tài chánh, nghệ thuật, giáo dục cho đến các cơ cấu khác trong xã hội. Tôn giáo và chính trị, tôn giáo và tài sản, tôn giáo và chính quyền, tôn giáo và nghệ thuật, tôn giáo và sự học hỏi – giữa những liên hệ cơ cấu này, không có sự chống đối nào mà không hòa giải được. Những cơ cấu này không thể tách rời được và cũng không thể giữ nó ở trong tình trạng tách rời nhau. Các vấn đề như quân sự, chính trị, tài sản, nghệ thuật và chính quyền, tất cả đều phải bị tôn giáo thống trị tuốt luốt.”

Nguyên văn: “In religious matters, the pre-Christian world was ecumenical tolerant. “Everybody is right. Nobody is wrong,” was one message of the Delphic Oracle, “Whatever be the region of the earth where you find yourself,” went the Roman principle, “that region’s religion is your religion.” In men‘s minds and in the way they conducted their affairs, there was no connection between religion and truth. Religion was not considered a true thing. Hence, prior Christianity, there was no religious wars and no religious persecutions. There was no religious martyrs for their faith. No one tried to impose religion as such on anyone else. Only Christians produced such wars, persecutions and martyrs.

From their beginnings, Christians insisted that their religion was true, that it did speak about reality. They drew the logical conclusion from that: that it was universally true. That there could be only one true religion. Theirs. Hence all philosophy and all knowledge – any branch of human activity that dealt with the truth – had to be, would be reconcilable with the true religion, Christianity. Otherwise, it was a false philosophy, a false knowledge. Automatically, an all embracing morality from this Christianity. It permeated all aspects of temporal life: economics, politics, finance, the arts, education, social structures. Religion and politics, religion and wealth, religion and government, religion and art, religion and learning – between these there was no irreconcilable opposition. They were not separate or to be kept separate. Military matters, matters of politics, wealth, art, government – all became dominated by religion.”) 1

Bản văn trên đây cho chúng ta thấy rõ dã tâm của Giáo Hội La Mã là muốn nắm trọn quyền kiểm soát tất cả một phương tiện sản xuất và tất cả mọi phạm vi sinh hoạt trong xã hội. Cũng vì thế mà ở đâu có quyền lực của Giáo Hội vươn tới thì ở đó chế đô cha cố (đạo phiệt Da-tô) sẽ được thiết lập và nhân dân sẽ trở nên nghèo đói, ngu dốt, lạc hậu và chậm tiến. Bằng chứng là nhân dân các nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý Đại Lợi ở Nam Âu từ năm 1945 trở về trước ở trong tình trạng nghèo đói, lạc hậu, chậm tiến, nặng đầu óc mê tín và có nhiều tệ đoan xã hội hơn rất nhiều nếu so với các nước Âu Châu khác ở Bắc và Tây Âu. Sách Rich Church Poor Church viết:

Sự trái ngược giữa các nước nghèo khó ở Nam Âu và sự phồn thịnh của các nước ở Bắc Âu thật là quá rõ ràng. Nước Anh Tin Lành đã trở thành một cường quốc trên thế giới và đang trên đường trở thành một trong các đại đế quốc thương mại; nước Phổ Tin Lành giầu có và hùng mạnh; nước Hòa Lan Tin Lành đã khởi tiến việc ngoại thương và xứng đáng được mang danh xưng đế quốc. Một du khách đi từ Bắc và Trung Âu tới nước Pháp và bán đảo Tây Ban Nha rồi qua Ý Đại Lợi sẽ thấy sự tương phản về kinh tế, mức sống và trình đồ học vấn tổng quát của người dân trong các quốc gia này. Ở Bắc và Trung Âu, phần lớn là Tin Lành, không có quốc gia nào rơi vào tình trạng chết đói và nghèo khổ triền miên như các nước ở miền Nam Âu. Chủ nghĩa tư bản cổ điển đã lỗi thời và các quốc gia theo đạo Tin Lành, nhân dân các quốc gia này cũng đã thức thời và sẵn sàng từ bỏ nó để làm lợi cho đất nước.

Các chính khách và vua chúa ở các quốc gia Nam Âu cho rằng Tòa Thánh La Mã và chế độ giáo hoàng phải chịu trách nhiệm về sự suy thoái và thua kém của nước họ so với các nước theo đạo Tin Lành.”

Nguyên văn: “The contrast between the impoverished southern European countries and the flourishing northern European states at this time was a glaring one. Already Protestant England had become a world power and was on its way to founding one of the great commercial empires; Protestant Prussia was prosperous and powerful; Protestant Holland was already starting the overseas trade that in time would offer it the title of empire. A traveller from northern and central Europe down into France, the Iberian peninsula, and Italy would be struck by the contrast in economic well-being, standard of living, and general education of the people. The northern and the central nations, predominantly Protestant, had none of the starvation and endemic poverty exhibited down south. Classical capitalism was off on its first flight and the Protestant nations were ready to take advantage of it.

The statesmen and kings in southern Europe held Rome and the papacy primarily responsible for that degrading difference between them and their Protestant counterparts.”2

Tương tự như vậy, người dân ở các nước Châu Mỹ La-tinh nghèo đói lạc hậu, chậm tiến, nặng đầu óc mê tín dị đoan nếu so với nguời ở Bắc Mỹ như Hoa Kỳ và Canada, và người dân Phi Luật Tân nghèo đói, lạc hậu, chậm tiến, nặng đàu óc mê tín dị đoan nếu so vớ những người dân ở lục địa Á Châu như Cao Miên, Miến Điện Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Việt Nam, Trung Hoa, Triều Tiền và quốc đảo Nhật Bản.

Biện pháp 2.- Thiết lập các tổ chức cảnh sát, công an, mật vụ như thiên la địa vọng và trao cho những tín đồ Da-tô “ngoan đạo” tuyệt trung thành với Giáo Hội La Mã nắm giữ nhưng chức vụ chỉ huy. Đồng thời, tất cả những chức vụ chỉ huy các cơ quan quan trọng khác trong chính quyền và trong quân đội cũng đều được trao cho những tín đồ Da-tô đảm trách. Tất cả những việc làm này đều có mục đích duy nhất là chuẩn bị cho việc thi hành biện pháp 3: Tiến hành kế hoạch Ki-tô hóa nhân dân.

Biện pháp 3.- Thi hành kế hoạch Ki-tô hoá nhân dân bằng phương tiện của chính quyền bằng bất cứ thủ đoạn hay manh mung nào cũng được, miễn là đạt được mục đích: Hoặc là dùng một số quyền lợi vật chất hay chức vụ trong chính quyền làm miếng mồi câu nhử những phường tham lợi và háo danh chạy theo bắt mồi mà theo đạo, hoặc là bằng những thủ đoạn gian manh được ngụy trang bằng hình thức luật pháp để cưỡng bách nhân dân phải theo đạo như Đế Quốc La Mã trong thời Hoàng Đế Theodosius I (346-395), ở Tây Ban Nha trong thời Nữ Hoàng Isabella I (1451-1504) và chồng là Hoàng Đế Ferdinand V (1452-1516), ở Anh trong thời Nữ Hoàng Mary I (Bloody Mary) trong những năm 1553-1558, ở Pháp trong thời Pháp Hoàng Louis XIV (1638-1715) [rõ ràng nhất khởi đầu từ năm hủy bỏ Sắc Lệnh Nantes vào năm 1685], ở Croatia trong thời bạo chúa Ante Pavelich trong những năm 1941-1945, hoặc là dùng những thủ đoạn bất chính để dồn người dân vào thế kẹt phải theo đạo để cho thoát nợ như ở miền Nam Việt Nam trong thời bạo chúa Da-tô Ngô Đình Diệm:

Có những người cũng cho rằng họ vào đạo họ vào đạo để khỏi bị sách nhiễu về chính trị. Quần chúng ở đây, vì đã từng sống lâu năm dưới chế độ Việt Minh, nên bị tình nghi có liên hệ với “kẻ địch”, bây giờ vào đạo là gặp được con đường để tỏ lòng trung thành với chế độ, hoặc ít ra cũng tránh được những quấy nhiễu của cảnh sát.” 3

Biện Pháp 4: Phải thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để biến người dân trở thành hạng người vừa ngu xuẩn không biết sử dụng lý trị để tìm hiểu sự vật bằng phương pháp sư phạm bắt học thuộc lòng như con vẹt những bài học đã soạn sẵn và không được được hoài nghi và thắc mắc, điển hình là những lời dạy của Giáo Hội như “Niềm tin tôn giáo không cần đến sự can thiệp của lý trí hay ánh sáng của khoa học” và “phúc cho ai không thấy mà tin”, vừa dốt đặc về lịch sử loài người, giống như những đứa con hoang trong cộng đồng nhân loại, vừa dốt đặc về quốc sử và trở thành những đứa con hoang trong cộng đồng quốc gia. Lý do là vì Giáo Hội La Mà chủ trương kiểm soát chương trình học, không cho học toàn bộ những bài học lịch sử thế giới và cũng không cho học đầy đủ những bài học trong môn quốc sử vào trong chương trình học. Giáo Hội chỉ cho học sinh học một số bài học mà Giáo Hội đã kiểm soát và diễn dịch lươn lẹo theo ý muốn của Giáo Hội rồi mới đưa vào trong chương trình học. Giáo Hội cũng đã làm như vậy trong việc biên soạn các bài giảng trong các nhà thờ. Cũng vì thế mà giáo dân thường hay nói đến thánh kinh, nhưng họ lại không biết rằng ở trong đó, ngoài những chuyện hoang đường có mục đích lòe bịp và lừa gạt người đời, còn có cả hàng rừng chuyện loạn luân, dâm loàn và hàng rừng chuyện tội ác khác.

Giáo Hội có làm như vậy, thì tín đồ (nạn nhân) mới không còn khả năng thông minh để nhìn ra tính cách cực kỳ phi lý, phi nhân bản, phản khoa học và bịp bợm trong những tín lý Ki-tô. Có như vậy, tín đồ mới dễ dàng bị mê hoặc, không còn tỉnh táo để nhìn ra tính cách chuyên chế, độc đoán, phỉnh nịnh, lừa gạt và bóc lột ở trong những giáo luật, trong lời dạy, trong tập tục hay truyền thống trong Giáo Hội La Mã. Có như vậy, tín đồ mới không còn đủ thông minh để nhìn ra sự thật là Giáo Hội La Mã chỉ là một tập đoàn của những phương lưu manh buôn thần bán thánh mượn danh Thiên Chúa hay Chúa Jesus khoác áo tôn giáo để vừa phỉnh nịnh, lừa gạt vừa hù dọa người đời để lùa họ vào cái tròng Da-tô (Catholic loop) làm thế lực củng cố quyền lực cho mưu đồ bá quyền thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại.

Vì bị điều kiện hóa như vậy cho nên tín đồ Da-tô mới cho rằng NẾU KHÔNG tuyệt đối tin tưởng vào tín lý Ki-tô hay không triệt để tuân hành những giáo luật và truyền thống của Giáo Hội, THÌ SẼ BỊ Chúa trừng phạt đày xuống hoả ngục đời đời. Trái lại, NẾU cứ nhắm mắt tin tưởng tuyệt đối vào bất kỳ những gì Giáo Hội rao truyền và dạy bảo theo cái kiểu “phúc cho ai không thấy mà tin” (lời Giáo Hội dạy), THÌ SẼ ĐƯỢC Chúa (mà thực ra là Giáo Hội) cho “lên thiên đưởng hưởng nhan Chúa đời đời”.

Các nhà khoa học gọi những người bị mê hoặc và bị hù doạ như vậy là những người “bị điều kiện hóa” giống như con chó ở trong phòng thí nghiệm của nhà bác học Pavlov, vì rằng ở trong tình trạng như vậy, họ chỉ biết phát ngôn và hành động theo lệnh truyền của những người hướng dẫn mà trong đạo Da-tô gọi là những người chủ chiên hay các linh mục.

Tại sao Giáo Hội La Mã lại gọi tín đồ của Giáo Hội là con Chiên và những người hướng dẫn tín đồ là linh mục?

Chiên là một loài thú thuộc loài ăn cỏ có bốn chân mà người Việt Nam còn gọi là con cừu. Dân Việt Nam ta có thành ngữ “ngu như con cừu”. Con cừu là con vật ngu nhất trong các loài thú ăn cỏ. Người ta nuôi nó chỉ để lấy lông làm len may chăn (mền) hay quần áo, và để ăn thịt. Loài cừu không thể dùng làm những công việc chuyển vận như kéo xe, kéo cày, kéo bừa như loài ngựa và trâu bò.

Qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ, Giáo Hội đã biến tín đồ của Giáo Hội thành những người “ngu như con cừu” để cho Giáo Hội dễ bề mê hoặc và lừa bịp bằng những tín lý cực kỳ hoang đường, dễ bề bóc lột bằng những hình thức dâng lễ vật, và dễ bề sai khiến làm những việc thất nhân ác đức như kêu gọi họ tình nguyện gia nhập vào các đạo quân thập tự khi Giáo Hội phát động chiến tranh tiêu diệt các dân tộc theo các tôn giáo khác như trong thời Trung Cổ, hoặc là hô hào họ gia nhập vào đạo quân thứ 5 nằm tiềm phục tại các xóm đạo chờ khi có lệnh của Giao Hội thỉ nổi lên làm nội ứng chống lại đất nước và dân tộc gốc của họ, hoặc là thúc giục họ phải tìm đủ mọi mánh mung chèn ép hay cưỡng bách người khác tôn giáo phải theo đạo Da-tô khi họ ở vào thế thượng phong hay có quyền trong tay, v.v… . Những lời kêu gọi hay hô hào thiếu văn hóa và dã man này của Giáo Hội được thể hiện ra qua Sắc Chỉ Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas IV (1447-1455) mà chúng tôi đã nêu lên nhiều lần trước đây. Xin ghi lại đây một lần nữa để cho độc có ý niệm liên tục về vấn đề này, khỏi mất công tìm kiếm:

Sắc chỉ “Romanus Pontifex” do Đức (Giáo Hoàng) Nicholas V (1447-1455) ra ngày 8 tháng Giêng năm 1454. Theo quyền lực Chúa ban và quyền lực của Tòa Thánh, Đức Giáo Hoàng ban cho triều đình Lisbon (Bồ Đào Nha) “toàn quyền tự do xâm lăng, chinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân Sarrasins (tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của Giáo Hội, gặp bất cứ nơi nào: được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, lãnh địa, vương hầu, đất đô hộ và tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của chìm của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh viễn4.

Để duy trì tín đồ luôn luôn ở trong tình trạng ngu dốt, chỉ biết cúi đầu tuân phục, triệt để tuân hành những lời dạy và lệnh truyền của Giáo Hội, một hệ thống quyền lực được thiết lập, trong đó, linh mục được trao cho nhiệm vụ hướng dẫn họ, kiểm soát và kiềm chế họ để họ không được có tình ý riêng tư, nghĩa là không để cho tín đồ có thì giờ nhàn rỗi để suy nghĩ hay đọc những tư tưởng gì khác với tín lý Ki-tô hay lời rao truyền và dạy dỗ của Giáo Hội. Đối với Giáo Hội, các linh mục phải luôn luôn tỏ ra mẫn cán và hết sức đắc lực trong nhiệm vụ này.

Chúng ta biết rằng, trong một quốc gia mà chính quyền và tất cả mọi phạm vi sinh hoạt trong nhân dân đều do tôn giáo nắm giữ, kiểm soát, và người dân thì ngu dốt, không biết sử dụng lý trí để hành xử hay bương chải để mưu sinh, thì quốc gia đó sớm hay muộn cũng trở thành lạc hậu, chậm tiến và nhân dân tất nhiên là nghèo khổ, khốn khó điêu đứng trăm bề. Cũng vì thế, như trên đã nói, ở cùng một một lục địa (cùng một hoàn cảnh địa lý) với nhau mà người dân ở các nước Châu Mỹ La-tinh đều ở vào tình trạng nghèo khổ, lạc hậu, chậm tiến nếu so với người dân ở Bắc Mỹ như Canada và Hoa Kỳ, người dân ở Phi Luật Tân cũng ở trong tình trạng nghèo khổ, lạc hậu, chậm tiến nếu so với người dân của các nước Thai Lan, Miến Điện, Việt Nam, Đài Loan, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Nhật Bản. Tương tự như vậy, , người dân ở các nước Nam Âu như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Ý Đại Lợi (triền miên nằm dưới ách thống trị của chế độ cha cố) đều ở vào tình trạng lạc hậu, chậm tiến, mức sống thấp kém nếu so với người dân ở các nước Âu Châu khác nằm ở ngoài vòng kiềm tỏa của Giáo Hội La Mã.

Chính vì tình trạng này mà nhân dân Âu Châu, nạn nhân trực tiếp và sớm nhất của Giáo Hội La Mã, nổi lên chống Giáo Hội liên tục từ thời Trung Cổ với những phong trào như:

1, Martin, Malachi, Rich Church, Poor Church (New York: G.P. Putnam’s Sons, 1984), p. 90.
2, Malachi Martin, Ibid.,), pp 155-156.
3) Trần Tam Tình, Thập Giá và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978), tr.130..
4) Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr. 14- 15Link: http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=1296

giaodiem.com

Categories: Chúa Dê-su | Bình luận về bài viết này

Đế quốc xâm lược Vatican phong thánh ma cho 117 tên Việt gian và giáo sĩ gián điệp Tây

Trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 cũng như trong các chương trước đây, chúng tôi đã chứng minh rằng Giáo Hội La Mã chỉ là một danh xưng bề ngoài của Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican, rằng từ năm 1533 đế quốc này đã cho những tay gián điệp thuợng thặng đến Việt Nam thâu thập các dữ kiện tình báo chiến lược về tình hình Việt Nam rồi báo cáo về Tòa Thánh Vatican. Đồng thời, họ tìm đủ mọi cách móc nối và dụ dỗ những người dân cùng khổ, những thành phần có những thành tích bất hảo hay bất mãn với chính quyền đương thời và những phần tử cặn bã của xã hội vào màng lưới gián điệp trong đạo quân thứ 5 nằm hờ chờ giờ hành động. Một phần trong các hoạt động tình báo của họ là làm đảo lộn cương thường và phá rối nền trị an của Việt Nam bằng cách phỉ báng và chế diễu các lễ nghi tín ngưỡng và tập tục cổ truyền của dân tộc, miệt thị các vị thánh tổ của đạo Phật, đạo Khổng bằng những ngôn từ của những phường “đá cá lăn dưa” như gọi Đức Phật Thích Ca là “thằng hay dối người ta”, gọi Đức Khổng Tử là người “chẳng phải hiền, chẳng phải thánh”, xúi giục giáo dân bất tuân lệnh chính quyền đương thời rằng: “người Công Giáo Việt Nam đừng thừa nhận quyền lực nhà Vua và luật pháp nước họ”, rằng “ Đức Giáo Hoàng ở Rome mới là vị vua tối cao duy nhất của họ”, rằng “họ chỉ tuân phục quyền lực Tòa Thánh Vatican”.

Nhập gia tùy tục, đáo giang tùy khúc”. Từ một một phương trời xa lạ đến Việt Nam, khác với người dân về đủ mọi phương diện mà không biết câu ngạn ngữ trên đây mà lại hành xử hỗn xược, ngược ngạo như vậy thì quả thật họ là những người ngu xuẩn đến cùng mức của ngu xuẩn. Hành xử ngu xuẩn như vậy thì làm sao tránh được những chuyện đáng tiếc xẩy ra đối với họ. Giả thử vào thời đó cũng có một nhà Nho hay một ông sư đến nước Ý, nước Pháp, nước Tây Ban Nha hay nước Bồ Đào Nha cũng làm tất cả những gì mà các ông điệp viên (truyền giáo) của Tòa Thánh La Mã đã làm ở Việt Nam, thí dụ như có một nhà Nho hay ông sư nào đó cũng đem các tập tục cổ truyền và lễ nghi về đạo Gia Tô ra phỉ báng và chế diễu, cũng đem vị thánh tổ của đạo Gia Tô là Chúa Jesus ra gọi là “thằng hay dối người ta” và bảo rằng “chẳng phải Chúa, chẳng phải thánh, chẳng phải hiền”, cũng xúi giục người dân ở các nước này rằng “đừng thừa nhận quyền lực của Đức Giáo Hoàng” rằng “Đức vua của triều đình Nguyễn ở Việt Nam mới là vị vua tối cao của họ”, rằng “họ chỉ tuân phục quyền lực của triều đình Huế tại Việt Nam mà thôi”, thì quý vị có nghĩ rằng nhà Nho hay ông sư này vẫn không bị chính quyền sở tại làm khó dễ gì cả hay là họ đã bị tóm cổ đưa ra các tòa án dị giáo của Giáo Hội La Mã để xử về tội báng bổ thần thánh và phá rối trị an, rồi đem trói vào cột và thiêu sống cho đến chết giống như Giáo Hội đã xử và thiêu sống các ông John Huss (1369-1415 ), Savonarola Girolamo (1452-1498), Giordano Bruno (1548-1600) và 11 triệu nạn nhân khác cùng một số phận như các nhà trí thức trên đây mà không được may mắn bị quản thúc tại gia cho đến ngày tàn hơi thở như nhà thiên văn học Galileo Galilei (1564-1642).

Muốn biết rõ Giáo Hội La Mã sẽ có thái độ và hành động ra sao nếu có một nhà Nho hay một nhà sư đến nước Ý hay Tây Ban vào thế kỳ thứ 17 và cũng hành động như ông Linh-mục Alexander de Rhodes đã hành động ở Việt Nam vào thời kỳ này, chúng ta hãy theo dõi đoạn văn dưới đây do Giáo-sư Trần Chung Ngọc viết trong cuốn Công Giáo Chính Sử, nguyên văn như sau:

“Thật ra, những cuộc Thánh Chiến của Gia Tô La Mã Giáo (Công Giáo) không chỉ có mục đích giết dân Ả Rập mà còn giết những người Do Thái và giết luôn cả những người Ki Tô giáo khác không có cùng quan niệm tôn giáo với Gia Tô, như chúng ta đã thấy trong cuộc Thánh Chiến Albigense mô tả ở trên. Các cuộc Thánh Chiến của Gia Tô Giáo đã nhận chìm Âu Châu trong vòng chiến tranh tàn sát suốt hai thế kỷ 11 và 12, dài gần 200 năm. Nhưng, ngoài sách lược tiêu diệt văn hóa nhân loại và các cuộc Thánh Chiến, lịch sử Gia Tô La Mã Giáo còn một vết nhơ vĩ đại khác, đó là những Tòa Án xử những người Dị Giáo (khác đạo) hay những người mà Giáo Hội kết tội là lạc đạo, nghĩa là không công nhận quyền lực của Giáo Hoàng và của hàng giáo phẩm, những người Do Thái và cả những người theo Ki Tô Giáo nhưng không cùng tín ngưỡng với Gia Tô Giáo. Những tòa án xử dị giáo này kéo dài hơn 500 năm và đã làm cho trên 11 triệu người chết vì tra tấn bởi những hình cụ khủng khiếp nhất, phát minh bởi những tín đồ Gia Tô, và thiêu sống v.v… (Zindler, p. 183: The Roman Catholic Church killed over 11 million people in the course of the Inquisition)” (1).

Trở lại chuyện 117 ông thánh của Giáo Hội La Mã, Tòa Thánh và những người Việt Nam mang quốc tịch Vatican cho rằng các ông này là những thánh tử đạo, bị sát hại trong thời kỳ các chính quyền Tây Sơn và nhà Nguyễn cấm đạo. Người viết xin đặt vấn đề là: “Trong khi ở Âu Châu, Giáo Hội La Mã không cho người dân nằm trong vòng kiểm soát của Giáo Hội được quyền tự do tín ngưỡng và Giáo Hội sát hại tới 11 triệu người thuộc các tín ngưỡng khác mà Giáo Hội lại cho người đến nước chúng tôi đòi quyền tự do truyền đạo Gia Tô và quyền tự do theo đạo Gia Tô ở Việt Nam được hay sao?”

Nếu các nhà truyền giáo chỉ lo việc truyền giáo và những người Việt Nam thích theo đạo Gia Tô chỉ lo việc thờ phượng Chúa Jesus mà không có mưu đồ cướp nước với những hành động phá rối trị an, xúi giục giáo dân bất tuân thượng lệnh và nổi loạn lật đổ chính quyền để đưa người tín hữu Gia Tô lên nắm quyền hay thiết lập một vương quốc Giáo Tô thì chắc chắn là không có ai đụng đến một sợi tóc của họ, dù rằng họ đã có những hành động lỗ mãng, vô giáo dục, xấc xược ngược ngạo gọi Đức Phật Thích Ca là “thằng hay dối người ta” và gọi Đức Khổng Tử là người “chẳng phải hiền, chẳng phải thánh”.

Thực ra, các ông truyền giáo và những người Việt Nam theo đạo Gia Tô thời đó đã hành xử một cách vô cùng hỗn xược, ngược ngạo, bất chấp cả luật pháp của chính quyền đương thời, bất chấp cả lương tâm, bất chấp cả lẽ phải, bất chấp cả tình người, và chỉ muốn quấy phá làm cho nước Việt Nam rơi vào tình trạng hỗn loạn bằng cách xúi giáo dân không tuân lệnh nhà vua mà chỉ biết tuân lệnh Giáo Hoàng ở La Mã (như đã nói ở trên) và cứ tiếp tục quấy phá để thừa nước đục thả câu. Sách Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam (1858-1897) viết:

“Hơn nữa, các vị truyền giáo còn yêu cầu người Công Giáo Việt Nam đừng thừa nhận quyền lực Nhà Vua và luật pháp nước họ. Họ nói với các “con chiên”: Đức Giáo Hoàng ở La Mã (Rome) mới là vị vua tối cao duy nhất của họ, họ chỉ phải tuân phục quyền lực của tòa thánh Vatican. Vậy, đây không còn phải là vấn đề truyền giáo nữa, mà đơn giản là một mưu đồ làm cho chính quyền của xứ sở này bị mất ổn định. Vì thế, hành động của Nhà Vua, đối với trách nhiệm làm vua của ông hoàn toàn đứng đắn khi ông chống lại các hoạt động của một giáo sĩ Kitô.” (2)

Sách Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1883-1945 (Tập 1) viết về những tác phong và hành động bán nước của một số người Việt Nam theo đạo Gia-tô và những việc làm chống lại tổ quốc Việt Nam của các tay tổ gián điệp của Vatican như sau:

“Nhờ các giáo sĩ Kitô tiềm phục trong nước làm nội ứng, Pháp tuyển mộ được nhiều cộng sự viên bản xứ đắc lực và trung thành từ buổi đầu trong việc chinh phục cũng như bình định” [trang 91]. “Ngòai ra Rigault còn nhận được tin quân Nguyễn sẽ tấn công , với 500 tù nhân mở đường. Loại tin mật báo này phần lớn do Giám-mục Pellerin cung cấp” [trang 96-97]. “Từ tháng 11/1858, Pellerin nhiều lần thúc dục Rigault đưa quân ra đánh Huế… Điều Rigault mong đợi và từng được Pellerin cùng các giáo sĩ nhiều lần hứa hẹn – tức giáo dân Kitô sẽ nổi loạn đón tiếp những nhà giải phóng tạo thành thế nội công ngoại kích..” [trang 97-98].

“Truớc tình trạng tiến thoái lưỡng nan, các giáo sĩ lại đưa ra hai giải pháp mới. Pellerin khuyên Rigault vào chiếm Gia-định làm bàn đạp, chờ ngày đánh Huế. Retord và các giáo sĩ Espania thì thúc dục kéo ngay ra Bắc Kỳ, thiết lập một vương quốc Kitô độc lập ở miền này. Vì “thanh kiếm thập tự quân, lưỡi gươm của Charlemagne và Thánh Louis, đã trở nên quá nặng trên tay con cái Voltaire,” Rigault sinh ra bực dọc, chỉ trích Pellerin nhiều lần. Rigault cũng không ngớt than phiền về thái độ lộng hành của Pellerin trong những báo cáo về Paris” (trang 98).

“Những cuộc nổi loạn liên miên của các cộng đồng giáo dân Ki-tô, tiêu biểu bằng tổ chức hải tặc Tạ Văn Phụng (Lê Duy Minh), với khẩu hiệu thiết lập một vương quốc Kitô, …” [trang 191). “Tham vọng đã âm ỉ, nung nấu từ lâu của các giáo sĩ Kitô: hoặc chiếm đóng toàn cõi Đại Nam, lật đổ Tự Đức, hoặc tách biệt Bắc Kỳ thành một vương quốc tự trị” [trang 192].

“Vua (Tự Đức) bị cô lập dần trong hoàng thành với mối lo sợ khôn nguôi về tham tâm của Pháp. Trong khi đó, tinh thần thập tự quân của các giáo sĩ Kitô ngày một lên cao. Các giáo sĩ tìm đủ cách khiêu khích hầu tạo cơ hội cho Pháp động binh. Năm 1875, chẳng hạn, Giám-mục Gauthier và Croc đòi triều đình bồi thường thiệt hại lên tới 2,146,613 lạng bạc. Với sự yểm trợ của Rheinart, Gauthier và Croc còn mưu chiếm cả ruộng đất của các làng xã bỏ hoang để trừ bớt số tiền thiệt hại tên. Nhiều nơi, giáo sĩ công khai xúi dân làm loạn. Geoffroy ở Bình Định chỉ là một thí dụ. Tại Ninh Bình, các giáo sĩ còn lộng hành hơn nữa, cho thủ hạ quấy nhiễu, ngăn chặn cả công văn” [trang 251-252] (3).

Ở Âu Châu, người ta không hề nổi loạn chống lại chính quyền mà Giáo Hội cũng lôi cổ người ta ra tòa xử người ta về tội khác tín ngưỡng, và các tòa án của Giáo Hội đã giết hại đến hơn 11 triệu người. Ấy thế mà ở Việt Nam, Giáo Hội lại đòi phải có quyền tự do truyền đạo.

Được đằng chân, lân đằng đầu, khi được phép tự do truyền đạo rồi tới khi có một số tín hữu tin theo thì Giáo Hội lại xúi giục giáo dân không tuân hành tập tục và luật pháp của chính quyền Việt Nam, mà chỉ biết tuân lệnh Giáo Hoàng ở La Mã và xúi giục giáo dân nổi loạn, lật đổ chính quyền để thiết lập một vương quốc Gia-tô giáo. Quý vị thử nghĩ xem còn có hành động nào hỗn xược, ngược ngạo hơn những hành động này không?

Quốc hữu quốc pháp, gia hữu gia quy”. Ở đâu thì cũng phải có quan trị quan nhậm. Con người ở bất kỳ quốc gia nào ở trên trái đất này cũng đều hiểu rằng “Nhập gia tùy tục, đáo giang tùy khúc”. Đến nước người ta mà không tuân hành tục lệ của nước người ta đã là một điều trái tai gai mắt, không thể chấp nhận được. Không những thế, họ lại còn không tuân hành luật pháp quốc gia nước người ta nữa. Tệ hơn nữa, họ lại còn xúi giục dân chúng nổi loạn nhằm cướp chính quyền để thiết lập một chính quyền chuyên chính độc tôn tôn giáo thì xin hỏi, những người đó có phải là những quân thổ phỉ, những phường giặc cướp, kẻ thù của dân tộc Việt Nam hay không? “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Là người dân của một nước, sống trong mảnh đất mà ông cha tổ tiên từ bao nhiêu đời kế tiếp nhau hy sinh không biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và xương máu mới tạo dựng nên được, đã không ra công bồi đắp cho đất nước ngày một khá hơn thì thôi, ấy thế mà chỉ vì bất mãn nhất thời hay sống trong cảnh cùng khổ mà ngu xuẩn đến độ đi nghe lời xúi giục của người ngoài, nhẫn tâm “rước voi về giầy mả tổ”, phá nát cơ đồ của tổ tiên để lại, thì những hạng người đó có phải là những quân Việt gian, mãi quốc cầu vinh hay không. Những người Việt Nam mang quốc tịch Vatican hãy suy cho kỹ, nghĩ cho cùng để xem 117 người được Giáo Hội La Mã phong thánh vào ngày 19 tháng 6 năm 1988 có phải là những quân “thổ phỉ” và những phường “cõng rằn về cắn gà nhà” hay không? Chúng tôi muốn trình bày với những người Việt Nam mang quốc tịch Vatican một điều như thế này: Các ông cho rằng 117 người trên đây đã được Giáo Hội La Mã của các ông phong thánh thì họ là thánh. Đó là quyền tự do của các ông. Nhưng đối với đại khối dân tộc Việt Nam, ai cũng tin rằng 117 ông thánh này là tội đồ của dân tộc, dù người đó là người Việt Nam hay người ngoại quốc.

Xin các ông đừng buồn! Chúng tôi xin nói như thế này để các ông cảm thấy thoải mái hơn. Không ai chối cãi được Vatican là một đế quốc thực dân xâm lược đã chủ động trong việc đánh chiếm và thống trị toàn cầu mà Việt Nam chỉ là một trong những quốc gia bị Đế Quốc Vatican chiếu cố. Khi cuộc chiến bùng nổ giữa một bên là Việt Nam và một bên là Đế Quốc Vatican có Đế Quốc Pháp là Đồng Minh thì các ông giống như những người dân Nhật mang quốc tịch Hoa Kỳ sống trên đất Mỹ trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Người dân Nhật mang quốc tịch Hoa Kỳ có quyền chọn Hoa Kỳ hay Nhật làm quê huơng đích thực để rồi liều chết chiến đấu cho cái quê hương mà họ đã chọn. Tương tự như vậy, trong cuộc chiến giữa một bên là Việt Nam và một bên là kẻ thù Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican và Pháp, các ông có quyền chọn Đế Quốc Vatican hay Việt Nam là quê hương đích thực của các ông để rồi liều chết chiến đấu cho cái quê hương mà các ông đã chọn. Các nhà truyền giáo người Âu Châu đến Việt Nam liều chết chiến đấu cho quê hương đích thực của họ là Đế Quốc Vatican, nếu chẳng may họ phải hy sinh vì nhiệm vụ thì đương nhiên sẽ được tổ quốc Vatican ghi ơn và phong thánh. Và các ông, những người Việt Nam mang quốc tịch Vatican, đã từ bỏ tổ quốc Việt Nam và nhận Đế Quốc Vatican là quê hương đích thực của các ông để rồi liều chết chiến đấu cho đế quốc này, nếu chẳng may mà bị chính quyền Việt Nam bắt được và bị hành hình thì tất nhiên các ông là những người đã hy sinh cho Đế Quốc Vatican và cũng được Vatican phong thánh. Phong thánh cho những người làm tay sai tai mắt cho Vatican thì Vatican có mất gì đâu. Hồng Y Silvio Oddi đã từng nói: “Vatican đã trở thành một cái xưởng chế tạo ra các ông thánh” (The Vatican has become a saint factory)” (4). Nhưng đối với đại khối dân tộc Việt Nam, những người có tên trong danh sách 117 người được tòa thánh Vatican phong thánh vào ngày 19 tháng 6 năm 1988 chỉ là những tên tội đồ của dân tộc, và nếu họ là người Việt Nam thì họ là những phường “cõng rắn về căn gà nhà” giống như Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Khôi, Trần Lục, v.v…

Có ở trong chăn mới biết chăn có rận”. Giá trị các ông thánh của Vatican như thế nào, không ai biết rõ hơn là Giáo-sư Lý Chánh Trung, một nhà trí thức đã từng mang quốc tịch Vatican. Ông viết:

“Sau bốn thế kỷ giảng đạo với những phương tiện hùng hậu, những hy sinh lớn lao, phải nhận rằng số người Á Đông theo đạo thật là ít oi… Đó là chỉ nhìn đến số lượng. Nếu nhìn đến phẩm lượng (qualité) thì có lẽ kết quả còn khiêm tốn hơn nữa: Chưa có một giáo hội Á Đông nào sản xuất được một vị thánh, và trình độ đạo đức trung bình của người Công Giáo Á Đông không có gì gọi là “cao” hơn những người không Công Giáo” (5).

Có lẽ vì thế mà sau khi cân nhắc giữa “Tôn Giáo Và Dân Tộc”, Giáo-sư Lý Chánh Trung đã dứt khoát “Tìm Về Dân Tộc” giống như quyết định của các ông Phan Quốc Đông, Nguyễn Chấn, Trương Thiện, Pham Hữu Tạo, Bác-sĩ Nguyễn Văn Thọ, Linh-mục Trần Tam Tỉnh, v.v…

Trong khi các ông nhận Đế Quốc Vatican là quê hương đích thực và liều chết chiến đấu cho Vatican thì đại khối dân tộc Việt Nam chúng tôi chỉ có mỗi một nước Việt Nam là quê hương đích thực. Khi quân thù xâm lược Vatican và Pháp đem quân đến đánh cướp nước Việt Nam thân thương của chúng tôi, chúng tôi phải liều chết chiến đấu để bảo vệ cơ đồ của ông cha để lại, nếu chẳng may phải gục ngã nơi chiến trường thì chúng tôi trở thành anh hùng của dân tộc Việt Nam. Đế Quốc Vatican, Đế Quốc Pháp và những người nhận Đế quốc Vatican hay Đế Quốc Pháp là nước tổ của họ đã gọi chúng tôi và tất cả những anh hùng dân tộc của nước tôi là những quân phiến loạn và những quân tội đồ. Chính vì thế mà những vị anh hùng của dân tộc Việt Nam chúng tôi như các cụ Nguyễn Trung Trực, Lâm Quang Ky cùng 170 nghĩa quân kháng chiến tại Kiên Giang và ông Mai Xuân Thưởng ở Bình Định đã bị người của Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican là Trần Bá Lộc đem quân đánh phá và bắt được, rồi xử tử như một tên tội đồ. Trong hoàn cảnh tương tự như vậy, cụ Phan Đình Phùng cùng các chiến sĩ nghĩa quân tại Vụ Quang đã bị người của Tòa Thánh Vatican là Ngô Đình Khả đánh tan, và đảo mả cụ Phan lấy xác, đem đốt thành tro, lấy tro trộn vào thuốc súng bắn xuống sông Lam Giang cho tiêu tan mất xác. Tướng tự như hoàn cảnh của cụ Phan Đình Phùng, chiến lũy Ba Đình dưới quyền lãnh đạo của cũ Đinh Công Tráng bị phá tan cũng chỉ vì tên Việt Gian cuồng tín Linh-mục Trần Lục đem 5 ngàn giáo dân đi tiếp viện và làm chỉ điểm cho giặc để tâng công. Sau này, các ông Đội Bình, Đội Cốc và Đội Nhân cũng bị người của Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican là Cố Ân đi báo cáo với chính quyền bảo hộ Vatican-Pháp bắt đem đi chém chết. Những người yêu nước vào những năm giữa thập niên 1920 bị tên Việt gian Ngô Đình Diệm bắt được đem tra tấn vô cùng man rợ bằng cách cột nạn nhân vào một chiếc ghế có khoét lỗ ở giữa rồi cho đốt đèn cầy (nến) ở dưới làm cháy cả hậu môn của nạn nhân; các ông Đội Cấn và Lương Ngọc Quyền đã liều thân hy sinh thân để chống lại Vatican và Pháp ở Thái Nguyên; Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí Việt Nam Quốc Dân Đảng của ông bị những người của Giáo Hội La Mã và Pháp bắt và bị đưa lên đoạn đầu đài vào ngày 17 tháng 6 năm 1930. Tất cả những vị anh hùng dân tộc trên đây cùng với những người chống lại chính sách bạo tàn của chế độ độc tôn tôn giáo của anh em nhà Ngô và đảng Cần Lao Công Giáo, tay sai của Đế Quốc Vatican, vào những năm sau tháng 7 năm 1954, trong đó có những người đã tham dự vào cuộc chính biến 11/11/1960 và cuộc Cách Mạng 1/11/1963 đều bị Đế Quốc Vatican và người Việt Nam mang quốc tịch Vatican coi như là một thứ tội đồ nguy hiểm, nguyền rủa họ và mạt sát họ. Trong khi đó thì đại khối dân tộc Viêt Nam chúng tôi lại coi họ là những vị anh hùng dân tộc như một thứ quốc bảo của đất nước, và đem hết lòng ngưỡng mộ, trân quý và tôn vinh họ. Họ là các vị thánh của dân tộc Việt Nam của chúng tôi. Bài thơ “Những Người Ở Lại Với Non Sông” dưới đây của nhà thơ Trần Trung Đạo chứng tỏ dân tộc Việt Nam chúng tôi tôn thờ những người mà Vatican và giặc Pháp thù ghét họ và coi họ như những tên tội đồ phản loạn. Bài thơ đó như sau:

Người ở lại Hoàng Hoa Cương lịch sử,
Ngàn thông reo ru giấc ngủ anh hùng.
Tiếng bom rền rung động khắp non sông
Đời anh ngắn, nhưng tên dài vô tận.

Người ở lại mang theo niềm thống hận
Nắm xương tàn trắng lạnh đất Long Châu,
Mộng Cần Vương theo tóc bạc trên đầu,
Hờn vong quốc ghi sâu vào lịch sử.

Tôn Thất Đạm giữa núi rừng Tân Sở
Một thanh gươm chống đỡ mạch sơn hà.
Không làm tròn nguyện ước với vua, cha
Thà tự sát cho tròn câu hiếu đạo.

Người ở lại bên cổng thành Hà Nội,
Thành mất rồi, ta sống với ai đây?
Thăng Long ơi, xin ở lại nơi này
Sinh vi tướng, tử vi thần cho vẹn.

Người ở lại với sông Hương núi Ngự
Mộng chưa thành, chí cả mỏi mòn trôi
Phan Bội Châu lưu lạc bốn phương trời
Hoen máu lệ những tờ thư yêu nước.

Người ở lại rừng Thái Nguyên xuôi ngược
Hai chân què nên chẳng thể nào theo.
Anh Trịnh ơi, tôi giữ trọn lời thề
Lương Ngọc Quyến đã về cùng đất mẹ.

Trần Quý Cáp với tinh thần bất diệt
Ngẩng cao đầu chịu chém ở ngang lưng.
Trời Nha Trang chim chóc cũng đau buồn,
Trời đất Quảng một màu tang mới nhuốm.

Phan Đình Phùng kể những lời tâm nguyện:
Mộ của ta là tổ quốc Việt Nam,
Anh em ta là bao triệu đồng bào
Dù phải chết, chẳng thể nào bỏ được.

Người ở lại bên bến đò Cần Giuộc
Mắt đâu cần để thấy được niềm tin.
Chúng bay dù bẻ gẫy được bút nghiên,
Không bóp được trái tim này yêu nước.

Phan Thanh Giản trải lòng trong di chúc:
Dặn các con đừng mãi quốc cầu vinh.
Ta chết đi cho vẹn chữ trung trinh
Khi sáu tỉnh đã rơi vào tay giặc.

Dù cay đắng nhưng vô cùng diễm tuyệt
Tổ tiên ơi con nhớ mãi ơn người.

Ngược lại, chúng tôi cũng gọi tất cả những người anh hùng hay các ông thánh của đế quốc Vatican và Đế Quốc Pháp đã chết trong cuộc chiến xâm lăng và thời kỳ thống trị nước Việt Nam của chúng tôi là những quân thổ phỉ hay những tên tội đồ. Riêng những người Việt Nam tóc đen, da vàng mũi tẹt, ăn cơm gạo Việt Nam, lớn lên ở Việt Nam mà lại đứng về phía kẻ thù xâm lược là Đế Quốc Vatican hay Pháp để chống lại tổ quốc Việt Nam, dù sống hay chết, dù cho sau khi chết được Vatican phong thánh đi nữa, thì chúng tôi cũng vẫn gọi họ là những phường “rước voi về giầy mả tổ” như trường hợp Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống và không thể nào thoát khỏi được cái nhìn khinh bỉ và ghê tởm của dân tộc Việt Nam. Bài thơ dưới đây của nhà thơ Lương Nhân (được ông Giuse Phạm Hữu Tạo ghi lại trong bài viết “Hai Mẹ Con”, đăng trong tờ trong Đông Dương Thời sô 73, ngày 1-8-1999, phát hành tại Houston, Texas) nói lên sự thật này:

Người thì xưng cố, kẻ xưng cha,
Gián điệp tay sai hại nước nhà,
Mãi quốc cầu vinh, phường quốc tặc,
Thương luân bại lý, bọn gian tà.
Tội đồ dân tộc tôn vinh “thánh”.
Ác bá dâm tà lãnh chức “cha”.
Tà đạo thực dân chung một Chúa.
Nhân nào quả ấy chẳng còn xa.

Bọn người cuồng nô vô tổ quốc này đã bị đại khối dân tộc Việt Nam ta đời đời nguyền rủa:

Sống chỉ mặt, chết chỉ mồ,
Xương dù chôn nát, mặt mo hãy còn.

Chính vì vậy mà người tín đồ Thiên Chúa La Mã Giuse Phạm Hữu Tạo, sau khi tỉnh ngộ và quyết tâm trở về với dân tộc, đã dõng dạc và thẳng thắn tuyên bố rằng: ”Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm thánh của Đại Công Ty Rôma”, như đã ghi ở trong Chương 9. Ngày xưa, Trần Bình Trọng sợ bị lịch sử lên án và hậu thế khỉnh rẻ là một “ông vua Việt gian”, đã lớn tiếng mắng thẳng vào mặt tên tướng giặc Thóat Hoan rằng “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Và ngày nay, sợ rằng hậu thế sẽ đời đời khinh rẻ là “một tên thánh Việt gian”, ông Giuse Phạm Hữu Tạo đã công khai và lớn tiếng nói cho Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican và những người Thiên La Đắc Lộ biết rằng ông “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm thánh của Tòa Thánh Vatican”.

oOo

Cũng nên biết rằng, dân tộc Việt Nam vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền đạo lý tam giáo cổ truyền, lấy nhân ái, từ bi hỉ xả và đại lượng làm phương châm hành động. Vì thế cho nên người dân Việt Nam chúng tôi rất là khoan dung, nhân từ và đại lượng. Chứng cớ là ông cố đạo Alexandre de Rhodes đến Việt Nam tìm đủ mọi cách để phỉ báng và chế diễu các lễ nghi tín ngưỡng và tập tục cổ truyền của dân tộc, miệt thị các vị thánh tổ của đạo Phật, đạo Khổng bằng những ngôn từ của những phường “đá cá lăn dưa” như gọi Đức Phật Thích Ca là “thằng hay dối người ta”, gọi Đức Khổng Tử là người “chẳng phải hiền, chẳng phải thánh” mà ông ta vẫn không bị một người Việt Nam lôi ra hạch sách hay đánh đập về tội ngu xuẩn, ngu xuẩn đến nỗi không biết tùy cơ ứng biến theo như châm ngôn “In Rome, we must act as Romans” đã dạy mà lại hỗn láo mang tội báng bổ thần thánh như vậy. Nền đạo lý tam giáo cổ truyền của dân tộc Việt Nam khác hẳn với nền đạo lý bất khoan dung (intolerant) của Giáo Hội La Mã là ở chỗ đó. Một trường hợp khác nữa là tên tướng giặc Sầm Nghi Đống trong đạo binh xâm lược của nhà Thanh tràn vào Thăng Long vào cuối năm 1788 bị quân dân Việt Nam giết chết trong Trận Đống Đa vào ngày 5 Tết Năm Kỷ Dậu 1789, mà sau đó người Việt Nam chúng tôi vẫn để cho người Trung Hoa lập đền thờ ở Hà Nội giống như những vị anh hùng khác của dân tộc Việt Nam. Về chuyện này, ông Thái Bạch viết:

“Sầm Thái Thú là một vị quan Tàu theo Tôn Sĩ Nghị sang xâm lấn nước ta, nhưng bị quân Tây Sơn đánh cho một trận thua xiểng liểng, Sầm phải kéo quân chạy từ Khương Thượng đến Gò Đống Đa rồi bị tử trận tại đó giữa hôm 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789). Sau Sầm được người Tàu lập đền thờ… cái “khí phách anh hùng” của Sầm thái thú chỉ có bấy nhiêu thôi mà người ta dám lập đền thờ bắt dân Nam khói hương sùng bái” (6).

Hồ Xuân Hương có làm bài thơ 4 câu để mỉa mai tên tướng giặc họ Sầm này, nguyên văn như sau:

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,
Kìa đền Thái Thú đứng cheo-leo.
Ví đây đổi phận làm trai được,
Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu?

Ít ra Sầm Nghi Đống là người Trung Hoa, ông ta chiến đấu cho nước Trung Hoa và chết trong cuộc chiến cho Trung Hoa thì tất nhiên ông ta xứng đáng là anh hùng của nước Trung Hoa. Vì thế mà người Trung Hoa ở Việt Nam lập đền để thờ ông ta. Giả dụ như ông ta là người Việt Nam mang quốc tịch Trung Hoa và chiến đấu cho nước Trung Hoa mà chết như vậy thì đại khối dân tộc Việt Nam chúng tôi gọi là một tên tội đồ, một tên Việt gian phản quốc, giống như trường hợp những người Việt Nam mang quốc tịch Vatican trong số 117 người được Vatican phong thánh vào ngày 19-6-1988 vậy.

Nguyễn Mạnh Quang (“Thực Chất của Giáo Hội La Mã”, tập I, chương 10)

Chú thích:

1. Trần Chung Ngọc, Sđd., trang 98-99.
2. Nguyễn Xuân Thọ, Sđd., trang 17.
3. Vũ Ngự Chiêu. Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1883-1945 – Tập 1. Houston, TX: Văn Hóa, 1999.
4. Trần Chung Ngọc, Sđd., trang 268.
5. Lý Chánh Trung, Sđd., trang 77.
6. Thái Bạch. Thơ Hồ Xuân Hương. San José, CA: Nhân Văn, 1983, trang 68.

NDVN, ngày 10/2/09

nhandanvietnam.org

Categories: Chúa Dê-su | Bình luận về bài viết này

Những mưu đồ đen tối núp bóng tôn giáo đã lộ nguyên hình

ND- Như đã chuẩn bị từ trước, sau khi phiên tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân TP Hà Nội xét xử vụ án gây rối trật tự công cộng và hủy hoại tài sản tại số 178 phố Nguyễn Lương Bằng công bố y án sơ thẩm đối với các bị cáo, thì lập tức một số hãng thông tấn nước ngoài và trên internet đã vội đưa ra các thông tin thất thiệt, kèm theo bình luận với dụng ý xuyên tạc, bóp méo việc làm đúng đắn của Nhà nước Việt Nam nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của luật pháp.

Rồi, nếu ai đã tới nhà thờ Thái Hà – Hà Nội vào tối 27-3-2009 để nghe bài giảng của linh mục Nguyễn Văn Khải về vụ xử án phúc thẩm, hẳn sẽ kinh ngạc, khó tin đó là bài giảng của một vị “chăn chiên”. Thật đáng xấu hổ khi người ta cố tình lợi dụng niềm tin Thiên chúa để tiến hành những hành vi mà đức Chúa lòng lành chắc chắn không chấp nhận. Chấp nhận sao được khi có những công dân theo Thiên chúa giáo bất chấp luật pháp, bất chấp tinh thần “sống phúc âm trong lòng dân tộc”, bị sự kích động của một số linh mục kéo nhau gây sức ép với chính quyền, làm trái pháp luật? Chấp nhận sao được khi người ta nhân danh Thiên chúa để “con chiên” bỏ bê công việc ra đứng giữa vườn hoa trời nắng chang chang để hô theo lời linh mục: “Thái Hà vô tội” và hát thánh ca dưới sự hướng dẫn của linh mục phó Bề trên Thái Hà Giuse Nguyễn Văn Thật và linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong? Nhìn gương mặt chất phác của các công dân theo Thiên chúa giáo (trong đó phần lớn là người già, phụ nữ và trẻ em nông thôn), người có lương tri không khỏi đau xót, bất bình.

Cuối năm 2007, khi ông Ngô Quang Kiệt – Tổng Giám mục Giáo phận Hà Nội, cùng một số linh mục ở Giáo xứ Thái Hà rục rịch khởi động kế hoạch “đòi quyền sở hữu đất đai” ở 42 phố Nhà Chung và 178 phố Nguyễn Lương Bằng, những người quan tâm tới sự kiện này đều nhận thấy dấu hiệu bất thường. Bởi cái gọi là cơ sở pháp lý mà ông Ngô Quang Kiệt và một số linh mục dựa vào, trên thực tế đã không còn giá trị từ hơn nửa thế kỷ trước. Cũng từ thời điểm đó, hình ảnh vị Tổng Giám mục từ ngày nhậm chức (19-2-2005) tỏ ra thân thiện đã dần lu mờ. Ðứng bên ông Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt, còn có một số vị chức sắc Thiên chúa giáo như Vũ Khởi Phụng, Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Ngọc Nam Phong,… Họ phụ họa với nhau, “kẻ xướng, người tùy”. Họ lợi dụng sự khoan dung của Nhà nước để từng bước lấn tới. Họ cố tình đẩy một sự việc thuần túy dân sự sang lĩnh vực chính trị, từ đó vừa tìm cách khuếch trương thanh thế, vừa vu cáo Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, “vi phạm nhân quyền”(!)

Ðể thực hiện được ý đồ, người ta đã có vô số thủ đoạn như xưng xưng gán cho hai mảnh đất ở 42 Nhà Chung, 178 Nguyễn Lương Bằng danh nghĩa là “linh địa Ðức Bà”; tung ra tin đồn “Ðức Mẹ chảy nước mắt”, “Ðức Mẹ hiển linh” để mê hoặc niềm tin ngây thơ của một số người. Trên nhiều diễn đàn và qua hành động thực tế, một số chức sắc Thiên chúa giáo còn tỏ ra thành thạo trong việc sử dụng thủ đoạn nói một đằng làm một nẻo. Trả lời phỏng vấn trên vietcatholic ngày 19-9-2008, Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt nói: “Nếu có cái gì chưa nhất trí thì có thể đối thoại, có sức thuyết phục để tạo nên cái sự đồng cảm”, nhưng trong đơn khiếu nại khẩn cấp gửi Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, ông ta lại thách thức chính quyền: “Chúng tôi có quyền sử dụng những khả năng có thể để bảo vệ tài sản của chúng tôi”. Trả lời phỏng vấn trên RFA ngày 23-9-2008, linh mục Nguyễn Văn Khải lớn tiếng: “Chúng tôi vẫn muốn đối thoại với nhà nước trên các cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề một cách hòa bình, hợp với đạo lý, hợp với luật pháp, hợp theo lẽ công bằng. Như vậy mới mang lại sự ổn định bền vững cho xã hội, mới tốt cho mọi người”. Nhưng thử hỏi, ngày 15-8-2008, sau khi kết thúc buổi lễ tại nhà thờ Thái Hà, ai là người đã xúi các công dân theo Thiên chúa giáo ra khu đất thuộc Công ty cổ phần may Chiến Thắng để cầu nguyện, đòi lại đất, sau đó dùng kìm cắt dây thép gai, dùng cuốc và đá xẻ, ván gỗ để đập phá, đẩy đổ một đoạn tường rào rồi tràn vào? Trong bài giảng tại Giáo xứ Thái Hà tối 27-3-2009, linh mục Vũ Khởi Phụng nói: “Ðã có một lần tôi thưa với một vị cao cấp rằng có những điều mà chẳng có ông giáo sĩ nào, chẳng có ông linh mục nào bảo mà người ta làm đâu bởi vì đó không phải là điều Chúa bắt buộc”. Nhưng sự thật đã bác bỏ điều này, vì nhiều sự kiện đã diễn ra ở 42 Nhà Chung và 178 Nguyễn Lương Bằng đi đầu là các linh mục, tu sĩ trong áo thụng đen và đoàn thánh giá, nến giơ cao. Theo lý lẽ của các chức sắc tôn giáo kể trên, đó là hành động “đối thoại”, là “hợp với luật pháp”, là “mang lại sự ổn định bền vững cho xã hội” hay sao?

Vậy nhưng, sau khi Nhà nước nhắc nhở thì linh mục Vinh Sơn Phạm Trung Thành – Giám tỉnh Dòng Chúa cứu thế Việt Nam, lại bao biện trên RFA ngày 18-12-2008 rằng: “về phương diện giáo luật, về phương diện mục vụ, chúng tôi thấy những người này không sai”(!) Cho nên, lúc ông Ngô Quang Kiệt tuyên bố: cầu nguyện không phải chỉ để đòi lại mảnh đất, mà là để đòi công lý và sự thật, thì ai cũng hiểu, hai mảnh đất ở 42 Nhà Chung, 178 Thái Hà chỉ là cái cớ để mấy chức sắc Thiên chúa giáo thực hiện ý đồ của họ. Ðến khi hành vi đi quá giới hạn của luật pháp thì họ “trưng” giáo luật, mục vụ ra làm bình phong che chắn. Song, chính cái sự “trưng” ra kia lại cho thấy họ là người không trung thực. Họ đang sinh sống và hành đạo trên đất nước Việt Nam nhưng lại coi thường kỷ cương phép nước, bất chấp luật pháp Việt Nam. (qua những sự việc trên, mong nhà nước Việt Nam hãy tống cổ trên ba triệu giáo dân và giáo sĩ công dân nước CHÚA MỸ – CHÚA VATICAN, qua thiên đàn Mỹ-Vatican bằng Nghe thuyền trôi theo dòng nước Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, như đã làm trong thập niên 80, NDVN) Như thế có thể nói, cái gọi là “đòi quyền sở hữu đất đai” chỉ là một ngụy tạo để họ dấn sâu vào sự phi pháp, âm mưu “chính trị hóa” vấn đề. Ðã không trung thực về mục đích thì phải bao biện bằng hành vi cùng lời nói dối. Thật nực cười, khi họ coi sự kiện do họ khuấy lên có liên quan tới “nhân quyền”, cố gắng đưa sự việc ra ngoài địa phận để kêu gọi “hiệp thông”. Thậm chí ở hải ngoại, có người soạn sẵn văn bản, lấy chữ ký để có thể gửi tới lãnh đạo một số quốc gia nhằm “quốc tế hóa” một sự việc hoàn toàn có tính nội bộ của một địa phương. Còn gì đáng nói hơn, khi chính linh mục Vinh Sơn Phạm Trung Thành trong Thư gửi “anh em toàn tỉnh” ngày 2-9-2008 khẳng định: “sự kiện Thái Hà là dấu chỉ quan trọng mà Chúa gởi đến cho chúng ta, chúng ta phải đọc được dấu chỉ đó”. Nhân danh Chúa để thực hiện hành vi không liên quan gì tới Chúa, nhân danh “chăn chiên” để tổ chức gây rối trật tự công cộng và hủy hoại tài sản, nhân danh Chúa để biến vườn hoa Hà Ðông thành nơi tụ tập hát thánh ca, gây ách tắc giao thông, làm ảnh hưởng tới cuộc sống hằng ngày của người khác,… các sự kiện đó, phải chăng là kết quả của việc đã “đọc được dấu chỉ” của Chúa?

Nhận rõ bản chất của sự kiện, vào tối 17-9-2008, bà Phùng Tuệ Châu – người Mỹ gốc Việt theo đạo Thiên chúa, trước năm 1975 làm luật sư sống tại Sài Gòn, hiện là Trưởng ban biên tập Ðài phát thanh Tiếng quê hương (trụ sở tại quận Cam, Califonia – Hoa Kỳ) đã trả lời phỏng vấn trên VTV1 rằng: “Tôi đã gặp rất nhiều người theo đạo Thiên chúa ở hải ngoại, họ không đồng ý, họ quý trọng sự yên bình của đất nước và họ nói rằng tại sao cha Phụng lại không làm sáng danh Chúa… Nếu cho rằng Giáo xứ Thái Hà đã đòi hỏi, điều kiện thế này thế kia nhưng không được đáp ứng, thì mình phải đặt câu hỏi trở lại là những điều kiện mà Giáo xứ Thái Hà đòi hỏi có hợp pháp hay không. Nếu hợp pháp, tôi tin Nhà nước Việt Nam sẽ trả lời, còn nếu Giáo xứ Thái Hà đòi hỏi những quyền lợi do thực dân Pháp ban ơn huệ, thì bây giờ thực dân Pháp đã buộc phải trả lại chủ quyền cho Nhà nước Việt Nam thì mảnh đất đó thuộc chủ quyền của Nhà nước Việt Nam, không thể nói đây là đất của cha, cha có chủ quyền”. Trên BBC, bạn Quang Minh viết: “Qua những hình ảnh được đưa lên mạng YouTube cho thấy, Giáo xứ Thái Hà đã chuẩn bị rất kỹ để tuyên truyền cho giáo dân… Họ kích động giáo dân bằng các tin tức, thông tin tại các bản tin. Họ đưa lên các bản tin trong giáo xứ các website chống nhà nước cho giáo dân truy cập tin tức, xem thông tin. Các hình ảnh đưa lên mạng cho thấy các giáo dân rất quá khích, họ chửi bới, mạt sát rất dữ dội… Các giáo dân biểu tình cũng đã bố trí sẵn các camera để quay lại hình ảnh của cuộc biểu tình, nhưng không có hình ảnh nào cho thấy rõ ràng là công an đàn áp người biểu tình, mà chỉ thấy hình ảnh sau cùng là chảy máu mà như vậy thì ai mà tin được, chắc chắn là vu cáo”… Người bình thường cũng nhận rõ bản chất của sự kiện.

Hơn một năm qua, các sự kiện chung quanh 42 Nhà Chung và 178 Thái Hà đã nhận được sự tiếp tay của một số thế lực đã và đang rắp tâm gây mất ổn định xã hội, phá hoại quá trình phát triển của nước Việt Nam. (nói trắng ra đế quốc xâm lược Mỹ-Vatcan, cho nên nhân dân ta luôn luôn tay súng tay cày bắn vào đầu quân xâm lược Mỹ-Vatican, và không bao giờ, không bao giờ trang bị cho QĐND một viên đạn M16, tập trận chung hay liên quân với Mỹ trong đoàn quân hòa bình LHQ tức là hợp thứ hóa quân xâm lược Kytô da trắng do Mỹ lãnh đạo đi xâm lăng đô hộ cướp nước mà thôi, NDVN) Thậm chí mấy “nhà dân chủ cuội” ở trong nước cũng xăng xái tham gia vào trò vè này bằng các lời lẽ ngây ngô, thể hiện mưu đồ “đục nước béo cò”. Sự phối hợp trong – ngoài diễn ra thật trắng trợn và lộ liễu, mọi thông tin đều được nhanh chóng đưa lên một số phương tiện truyền thông nước ngoài, hay công bố trên internet với mục đích là càng bóp méo sự kiện càng tốt, càng reo rắc hoang tin càng hay. Trong những văn bản này, người ta dựng đứng ra rất nhiều sự kiện, trắng trợn xuyên tạc thái độ nghiêm túc của Nhà nước Việt Nam; các từ ngữ phỉ báng, thiếu văn hóa, có màu sắc đe dọa bạo lực được tung ra bất chấp sự thật, bất chấp chất ôn hòa của ngôn ngữ tôn giáo. Trong “bản hợp xướng” của các mưu ma chước quỷ về thông tin, đài RFA (RFA/NED, trực thuộc ngân sách tình báo quốc hội Mỹ, tên Việt gian Thông ngôn Petrús Key Nguyễn Ngọc Bích được NED/Mỹ trả lương giám đốc ban Việt ngữ RFA/NED đầu tiên “start” là $75,000.00/ mỗi năm, đài RFA bắt đầu hoạt động vào tháng 1, năm 1997) click đọc: Nhân đọc bài viết của Râu Cáo chống Cộng Nguyễn Ngọc Linh ủng hộ việc làm của Giáo phận Hà Nội và Giáo xứ Thái Hà xăng xái nhất, qua các bài viết, bài phỏng vấn với nhiều câu hỏi có giọng điệu kích động… Và trong “chiến dịch truyền thông đen” này, trang tiếng Việt của website đài Vatican cũng hung hăng hiếm thấy. Hình như họ bất chấp vị thế của mình bằng việc cho đăng bài Quốc gia trên bờ vực thẳm, khi lợi nhuận và bạo lực chà đạp công lý, tôn giáo, đạo đức, chính nghĩa và lương tâm con người – một bài viết hằn học, đầy luận điệu vu cáo và xuyên tạc. Vì thế, càng bộc lộ mưu đồ sâu hiểm khi tổ chức “Năm thánh Thái Hà” tại một địa điểm mà hơn một năm qua, là “điểm nóng” của hành vi vi phạm pháp luật do một số công dân theo Thiên chúa giáo tiến hành.

Năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Ðức Giê-su hy sinh vì muốn loài người được tự do hạnh phúc, đồng bào ta cả lương và giáo cũng vì tự do hạnh phúc cho toàn dân mà hy sinh phấn đấu” (Hồ Chí Minh – Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị Quốc gia, H.1996, tr.50). Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, số đông đồng bào theo Thiên chúa giáo đã làm tốt điều này. Nhiều vị hồng y, giám mục, linh mục như cụ Võ Thành Trinh, cụ Trịnh Văn Căn, cụ Phạm Ðình Tụng, cụ Nguyễn Văn Nhơn, cụ Sơn Lâm, cụ Nguyễn Văn Sang,… đã nêu cao lòng yêu nước, hết lòng chăm lo việc đạo, được giáo dân và đông đảo nhân dân quý trọng. Vậy mà, ngày nay, khi cả dân tộc đang xây dựng cuộc sống tự do, hạnh phúc trong điều kiện hòa bình, một số chức sắc ở Giáo phận Hà Nội và Giáo xứ Thái Hà, trong đó có những người còn rất trẻ như Nguyễn Ngọc Nam Phong, lẽ ra phải giúp các công dân theo Thiên chúa giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”, không làm bất cứ điều gì ảnh hưởng tới công cuộc xây dựng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc của mọi người, thì họ lại nuôi dưỡng mưu đồ xấu, kích động giáo dân phá hoại cuộc sống yên bình của đất nước. Dù thế nào thì trước khi là tín đồ, họ đã là công dân, nên trách nhiệm và nghĩa vụ công dân phải đặt lên hàng đầu. Vì thế, chớ nên lạm dụng sự khoan dung của luật pháp và chính sách tín ngưỡng – tôn giáo cởi mở của Nhà nước để thực hiện những hành vi trái pháp luật, cản trở sự phát triển của xã hội. Không làm tốt trách nhiệm của công dân thì không thể thực hành đức tin, đó là điều mà bất cứ công dân theo tín ngưỡng – tôn giáo nào cũng phải tự ý thức trong việc đời, việc đạo của mình.

Núp dưới súng ống của quân xâm lược, gây ra bao tội ác với đất nước, với nhân dân, rốt cuộc, những kẻ phản dân hại nước, dù đội lốt tu hành, đều thân bại, danh liệt, nỗi nhục để đời. Bài học đó đáng để cho những ai muốn mượn tay các thế lực thù địch, thiếu thiện chí ở bên ngoài phá rối sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam phải chiêm nghiệm mà dừng tay lại. Còn như họ nhắm mắt làm ngơ, cố tình vi phạm pháp luật, xúi giục những người nhẹ dạ cả tin phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, cản trở sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sáng ngời chính nghĩa của nhân dân ta, thì nhất định họ sẽ bị pháp luật trừng trị đích đáng. Bất kể họ là ai, khoác áo nào. Không một thế lực bên ngoài nào cứu nổi họ, như đã từng tháo chạy không cứu vãn nổi!

TRẦN QUANG HÀ, nhandanonline, ngày 31/3/09
NDVN, ngày 3/5/09

nhandanvietnam.org

Categories: Chúa Dê-su | Bình luận về bài viết này

Khuyển sinh Việt gian RômaGiáo – TinLànhGiáo rất nguy hại cho dân tộc Việt Nam (Phần cuối)

3. Người Việt Nam Và “Ơn Cứu Rỗi”

~ O ~

Từ những tài liệu trong phần trên, hiển nhiên những người theo Tin Lành là vì bị lừa dối để ham hố một sự cứu rỗi của Chúa để có một cuộc sống đời đời trên một thiên đường giả tưởng của Ki Tô Giáo.  Họ bị lừa dối và mê hoặc mà không biết, vả chăng, nếu họ không phải là người Do Thái thì không làm gì có chuyện Chúa Giê-su cứu rỗi họ, giả thử Giê-su có được quyền năng thần thánh mà Ki Tô Giáo ban cho để thực hiện cái gọi là “cứu rỗi”, một cái bánh vẽ mà ngay cả những bậc lãnh đạo trong Ki Tô Giáo đã bác bỏ..  Thật vậy:

Giám Mục Tin Lành John Shelby Spong đã cho rằng vai trò Chúa Cứu Thế của Chúa Giê-su cần phải dẹp bỏ, xin đọc bài “Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ”   http://sachhiem.net/TCNtg/TCN37.php .  Giám mục Spong viết một bài dài trong đó có một câu sau đây:

“Không có bất cứ một hình ảnh nào dùng để giải thích về nhân vật Giê-su đáng được tồn tại. Hình ảnh hiển nhiên nhất để loại bỏ trong đầu óc tôi có lẽ cũng là cái hình ảnh cổ xưa nhất về mọi diễn giải về Giê-su. Đó là cái hình ảnh của Giê-su như là “đấng thần linh cứu thế” (the divine rescuer).”.

Và Linh mục James Kavanaugh cho rằng “ơn cứu rỗi” chỉ là một huyền thoại , xin đọc bài “Huyền Thoại Cứu Rỗi”:http://sachhiem.net/TCNtg/TCN36.php . Linh mục Kavanaugh viết:

“Nhưng đối với con người hiện đại. chuyện hi sinh của Giê-su chẳng có ý nghĩa gì mấy, trừ khi hắn đã bị reo rắc sự sợ hãi và bị tẩy não từ khi mới sinh ra đời (But to modern man, it makes far less sense unless he has been suitably frightened and brainwashed from birth). Đối với tôi (Linh mục James Kavanaugh), đó là một huyền thoại “cứu rỗi” của thời bán khai, miêu tả một người cha giận dữ, chỉ nguôi được cơn giận bằng cái chết đầy máu me của chính con mình. Đó là một chuyện độc ác không thể tưởng tượng được của thời bán khai (It is a primitive tale of unbelievable cruelty).

Tôi chấp nhận sự kiện là Giê-su đã chết, và ngay cả đã bị đóng đinh trên thập giá. Nhưng tôi không thể chấp nhận cái huyền thoại là cái chết của ông ta là để chuộc tội cho tôi. Huyền thoại “cứu rỗi” (The salvation Myth)trong Tân ước chỉ là một cách diễn giải. Đó là một huyền thoại của thời bán khai, bản chất của nó giống như những huyền thoại của các dân tộc bán khai ở khắp nơi, nhưng nó hoang đường và độc ác hơn hầu hết các huyền thoại khác. (But it is more unbelievable and more cruel than most myths).”

Như vậy, “ơn cứu rỗi của Chúa Giê-su” chẳng qua chỉ là một cái bánh vẽ trên trời  (A pie-in-the-sky = từ của Mục sư Ernie Bringas) mà Ki Tô Giáo vẫn còn dùng làm mồi để nhử những đầu óc ngu muội.  Nhưng vấn đề chính đối với các tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam, Ca-tô cũng như Tin Lành, là ngay cả cái bánh vẽ trên trời, alias “cứu rỗi”, nếu có, thì họ cũng không bao giờ có thể ăn được.  Lý do rất đơn giản.  Tân ước viết rất rõ:  Giê-su không bao giờ có ý định cứu những người không phải là Do Thái.  Chứng minh?

Trước hết, đọc Tân Ước chúng ta thấy rõ là cả 4 Phúc Âm: Matthew 16: 27-28, 24:34; Mark 9:1, 13:30; Luke 21:27, 32;  và John 14:3, đều viết rõ là Giê-su tin rằng Ngày Tận Thế đã sắp tới, và ông ta sẽ trở lại ngay khi một số tông đồ của ông còn sống.  Do đó ông ta không có ý định thành lập bất cứ một giáo hội nào như các giáo hội Ki-tô ngày nay.  Vì tin như vậy cho nên khi Giê-su bảo 12 tông đồ đi rao giảng đạo của ông ta thì ông ta dặn: Matthew 10: 5-6, “Không được đi đến nơi nào có dân Gentiles, và không được vào thành phố nào của dân Samaritan, mà chỉ đi đến những con dân Do Thái bị lạc” (nghĩa là chỉ đi rao truyền đạo Chúa trong dân Do Thái mà thôi) và câu tiếp theo trong Tân Ước, Matthew 10:7 : “Trong khi đi hãy rao truyền tin Nước Trời đã gần đến rồi”, vàMatthew 10: 23: “Ta bảo đảm với các ngươi, các ngươi chưa đi hết các thành phố của Do Thái thì Con của Người (nghĩa là Ta: Giê-su) đã đến rồi”. Tân Ước còn viết rõ: Giê-Su sẽ chỉ cứu dân Do Thái ra khỏi tội lỗi(Matthew 1: 21: for He will save His people from their sins) và sẽ ngự trị trên dân Do Thái đời đời mà thôi (Luke 1: 33:  And He will reign over the house of Jacob for ever).  Một đoạn khác còn nói rõ hơn nữa:  Matthew 15:24:“Ta được phái xuống trần chỉ để cứu đàn chiên Do Thái bị lạc mà thôi”

Ngoài ra, đọc Tân Ước, chúng ta cũng còn thấy là Giê-su rất ghét những người không phải là Do Thái (Matthew 15: 21-28) và còn gọi một người phụ nữ phi-Do Thái là “chó”.  Và Thánh Paul khẳng định, theo lời mạc khải của Thiên Chúa: Hebrew 13: 8: “Giê-su Ki Tô luôn luôn như vậy, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới mãi mãi.”(Jesus Christ is the same yesterday, today, and forever).  Điều này có nghĩa là nhiệm vụ xuống trần, chủ trương chỉ cứu chuộc người Do Thái mà thôi v.. v.., và thái độ bộc lộ ghét người phi-Do Thái của Giê-su, không bao giờ thay đổi.

Hơn nữa, sách khải huyền, Khải Huyền 7,  còn khẳng định là đến ngày tận thế chỉ có 144000 thuộc 12 bộ lạc Do Thái là được Chúa cho lên thiên đường mà thôi, và đó là những người có dấu ấn của Thiên Chúa đóng trên trán.  Kinh Thánh viết rõ “Nhiều người được kêu gọi nhưng chỉ có ít người được chọn” và Chúa cũng đã phán, Matthew 7: 21-23: “Không phải người nào gọi Ta là Chúa cũng được vào nước trời… Trong ngày phán xét sẽ có nhiều người kêu nài: “Thưa Chúa, chúng tôi đã giới thiệu Chúa cho nhiều người, đã dùng danh Chúa để đuổi quỷ và làm nhiều phép lạ [như một linh mục mít ở Úc làm cho tượng bà Mary chảy dầu].  Nhưng ta sẽ đáp: “Ta không hề biết các ngươi! Hãy cút đi cho khuất mắt ta, vì các ngươi chỉ làm việc gian ác” [Có vẻ như các nhà truyền giáo hăng say đi truyền đạo cũng như các tín đồ Ki-tô cố gắng dụ người khác vào đạo chưa bao giờ đọc đến câu này]

Vậy thì những sắc dân phi – Do Thái, trong đó có Việt Nam,  mong cái gì ở Giê-su?  Tôi không hiểu các trí thức Việt Nam, không phải là người Do Thái, theo Ca-Tô Rô-ma Giáo cũng như Tin Lành, có biết đến những điều này hay không. Quý vị có bao giờ được nghe những đoạn này giảng trong nhà thờ hay không? Cho nên tôi thật thương hại những người không phải là dân Do Thái mà cứ sống trong ảo vọng, mơ tưởng rằng sẽ được Giê-Su cứu rỗi và cho mình một cuộc sống đời đời trên Thiên Đường trước nhan thánh Chúa, một luận điệu bịp bợm của Giáo hội với câu ngụy tạo trong Tân Ước, John 3: 16, mà tôi đã phân tích và vạch ra những điều mê hoặc trong đó.

Người Việt Nam hiển nhiên không phải là người Do Thái, câu này nghe có vẻ ngớ ngẩn nhưng thực ra lại rất quan trọng, vì vấn đề chính tôi muốn đặt ra cho đồng bào Việt Nam của tôi là:  Người Việt Nam có hi vọng được Giê-su cứu chuộc hay cứu rỗi không?  Câu trả lời là một chữ “KHÔNG” quyết định.  Đây không phải là tôi nói mà là khẳng định của Giê-su trong Tân Ước, qua vài dẫn chứng ở trên.

Đọc Thánh Kinh, Cựu Ước cũng như Tân ước, chúng ta thấy tất cả những chuyện trong đó đều viết về dân tộc Do Thái, các tên Do Thái, và một vài vùng đất trong miền Trung Đông.  Do nền thần học Ki Tô Giáo ngụy tạo, nên các tín đồ Ki Tô Giáo tin rằng Giê-su là Chúa Cứu Thế có thể ban phát ơn “cứu rỗi” cho những người nào tin ông ta.  Nhưng vì không đọc Tân ước, chỉ nghe những lời giảng lừa dối của các Linh mục, mục sư nên những người phi – Do Thái trong đó có người Việt Nam vẫn tin là mình có thể được cứu rỗi, trong khi thực chất “cứu rỗi” chỉ là một cái bánh Ki Tô Giáo vẽ trên trời.

Vì thiếu hiểu biết, vì chỉ nghe và tin theo những lời rao giảng dối trá của giới linh mục, mục sư, quý vị rơi vào vòng mê tín mà không biết.  Đúng như định nghĩa về mê tín như sau:

www.godonthe.net/dictionary/s.htmlNền tảng của mê tín là thiếu hiểu biết, kiến trúc thượng tầng là đức tin và cái mái vòm của nó là một niềm hi vọng hão huyền.  Mê tín là con đẻ của sự thiếu hiểu biết.[ The foundation of superstition is ignorance, the superstructure is faith and the dome is a vain hope. Superstition is the child of ignorance.]  Đức Phật cũng đã dạy: Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là thiếu hiểu biết. 

Qua phần trình bày ở trên chúng ta có thể tóm tắt những nét chính về Ki Tô Giáo nói chung, Tin Lành nói riêng:

1) Cuốn Bible của Ki Tô Giáo là loại sách tục tĩu, khiêu dâm, tàn bạo, loạn luân, và cuốn Bible phải bọc kỹ và bên ngoài phải khuyến cáo độc giả về nội dung, và không được bán cho trẻ em dưới 18 tuổi. [Ủy Ban Đạo Đức Hồng Kông]

2) Vatican đã công nhận Big Bang là nguồn gốc vũ trụ. [GH John Paul II]

3) Vatican đã công nhận Tiến Hóa là nguồn gốc loài người. [GH John Paul II]

4) Vatican đã thú nhận là không làm gì có thiên đường trên các tầng mây [GH John Paul II]

5) Vatican đã thú nhận là không làm gì có hỏa ngục dưới lòng đất [GH John Paul II]

6) Vai trò “Chúa Cứu Thế” cũng như cái gọi là “cứu rỗi” chỉ là những huyền thoại cần phải dẹp bỏ. [Linh mục James Kavanaugh; Giám mục John Shelby Spong]

7) Dù tin vào huyền thoại “cứu rỗi” thì người Việt Nam và những người không phải là Do Thái cũng không bao giờ được Chúa cứu rỗi.  [Tân Ước.]

8)  Ca-tô Rô-ma Giáo còn tồn tại vì quần chúng thì ngu muội và các linh mục thì xảo quyệt.  Tin Lành còn tồn tại vì quần chúng thì mê tín và các mục sư thì ngu muội. [Robert G. Ingersoll]

9)  Kết luận: toàn bộ nền thần học Ki-Tô Giáo với những quan niệm về Thiên Chúa, thuyết Sáng Tạo, huyền thoại Adam và Eve, thiên đường và hỏa ngục, vai trò “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su v..v.. đều là những luận điệu mê hoặc của những tổ chức buôn thần bán thánh của Ki Tô Giáo ở Tây phương.

Trần Chung Ngọc (Phần I), trích giaodiemonline
Ngày Rằm Tháng Giêng
Năm Tân Mão, NDVN, ngày 18/2/2011

nhandanvietnam.org

Categories: Chúa Dê-su | Bình luận về bài viết này