Dân cờ vàng

CON CHIÊN “ĐẠO THỜ MỸ”

Trung Quốc, nước dân số hơn tỷ, nền văn hoá xấp xỉ 6000 tuổi và có thành tích đô hộ Việt Nam ngàn năm. Ấy thế mà Trung Quốc vẫn không tạo ra một đám người Việt Nam sùng bái họ, sẵn sàng làm nô lệ cho họ.Và khi không được làm nô lệ nữa thì tiếc nuối như Pháp – Mỹ dù Pháp chỉ độ hộ ta 100 năm, Mỹ 20 năm. Một giảng viên Đại Học quốc gia Hà Nội than thở “sai lầm của chúng ta là đánh đuổi Pháp – Mỹ”. Và trên thế giới internet này đầy rẫy những kẻ suốt ngày lo chạy tội cho Mỹ. Đại khái Mỹ không có xâm lược nước ta, Mỹ đến để ngăn cộng sản…Mỹ giúp Pháp chống Việt Minh thì ai cũng biết nhưng nhiều người vẫn cố biện hộ rằng Mỹ miễn cưỡng làm vậy để đổi lấy sự cộng tác của Pháp với Mỹ ở Tây Âu trong kế hoạch chặn Cộng Sản ở Tây Âu. Có thật vậy không?

Không có gì là miễn cưỡng ở đây cả. Vừa đặt chân lên ghế Tổng Thống thì Eisenhower đã thành lập ngay “uỷ ban đặc biệt về Đông Dương “. Ngày 30-7-1953 là một ngày đáng nhớ với dân Mỹ khi Quốc Hội Mỹ duyệt ngay một khoản chi 400 triệu USD cho Pháp dùng vào chiến tranh Đông Dương. Đúng hai tháng sau lại thêm một cục 385 triệu USD.

Một nghiên cứu cho biết: Năm 1953, viện trợ của Mỹ, cả kinh tế và quân sự cho Pháp đã lên tới 2,7 tỉ đôla trong đó viện trợ quân sự là 1,7 tỉ đôla và năm 1954 Mỹ viện trợ thêm 1,3 tỉ đôla nữa.

Tổng cộng Mỹ đã cung cấp cho Pháp trên 40 vạn tấn vũ khí, gồm 360 máy bay, 347 tàu thuyền các loại, 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 16.000 xe vận tải, 17,5 vạn súng cá nhân. Tới năm 1954,78% chiến phí của Pháp ở Đông Dương là do Mỹ chi trả.

Mỹ không ném ra cục tiền khủng để Pháp làm gì thì làm. Họ muốn làm ông chủ đích thực của cuộc chiến này. Để chứng tỏ vai trò “ông chủ”, Mỹ đã can thiệp sâu vào tác chiến của quân đội viễn chinh Pháp. Trong hai năm 1953-1954 tất cả các cấp bộ trong quân đội viễn chinh Pháp đều có cố vấn Mỹ. Và mấy ông “Khâm sứ” Mỹ này đi lại nghênh ngang, muốn đi đâu kiểm tra thì đi không cần Tổng chỉ huy quân đội Viễn Chinh Pháp ở đây gật đầu. Sau này, lúc về già, Henri Navarre than thở trong hồi ký “Địa vị của chúng ta đã chuyển thành địa vị của một kẻ đánh thuê đơn thuần cho Mỹ”. Thế nhé, Cao Văn Viên, Nguyễn Văn Thiệu …không hề cô đơn nhé, có cả mấy ông tướng Tây lừng lẫy cùng chung cảnh ngộ mà. Tây nó văn minh thế, vĩ đại thế còn đánh thuê cho Mỹ cơ mà, nói dân Việt Nam da vàng mũi tẹt. Nhiều người biết đến sự khóc liệt của chiến tranh Việt Nam qua chiến dịch ném bom Miền Bắc năm 1972 nhưng ít ai biết trong đầu năm 1954 cho đến lúc Pháp đầu hàng, không quân Mỹ hoạt động như điên tại Việt Nam. Ngày 20/2/1954 Mỹ viện trợ thêm cho Pháp 40 máy bay (B26, C47, C119) và 200 lính kỹ thuật. Trước đó, Mỹ đã cho Pháp “mượn” 12 chiếc C119 và cả 37 Phi Công, 12 chiếc C119 chính chủ được sơn phù hiệu Pháp cho dân Mỹ khỏi chửi. Hoạt động của 37 ông Mỹ và lính không quân Mỹ tại Đông Dương là một bí mật được giấu kín cho tới hồi 2005 khi nước Pháp trao “Bắc đẩu bội tinh” cho phi công Mỹ. Phi công Mỹ đã thực hiên 700 phi vụ bí mật trong 57 ngày Pháp bị vây tại điện Biên Phủ. Giữa tháng 3-1954, khi tình cảnh quân Pháp tại Điện Biên trở nên bi đát, Mỹ đã giúp Pháp làm “cầu hàng không” để tiếp viện cho quân Pháp bị vây. Quy mô của cầu hàng không này được báo US.NEWS and WORLD report mô tả như sau:

“Mỗi ngày, gần 100 máy bay vận tải DC-3 đã hạ cánh xuống sân bay trong tầm súng cối của Cộng sản, vận chuyển từ 200 đến 300 tấn hàng tiếp tế. Thêm vào đó là 30 máy bay vận tải cỡ lớn C-119 mỗi sáng thả dù từ 100 đến 150 tấn hàng tiếp tế khác. Tất cả các máy bay của “cầu hàng không” này đều do Mỹ giúp”.

Chúng ta đều biết chuyện Giáo Hoàng xúi Mỹ ném bom nguyên tử xuống Việt Nam “cho cộng Sản chết hết” nhưng ít ai biết rằng chính nước Mỹ cũng có ý định này từ năm 54 mà chẳng cần ông Vatican nào xúi cả.

Đô đốc Athur W.Radford, chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ là người đẻ ra ý tưởng đó. Kế hoạch tuyệt mật này mang tên Operation Vulture. Theo kế hoạch này không quân Mỹ sẽ dùng 60 máy bay ném bom B-29 cất cánh từ Phillippine, mỗi đợt sẽ dội xuống đầu Bộ đội Việt Nam 450 tấn bom, 150 máy bay chiến đấu của hạm đội 7 trong Vịnh Bắc Bộ sẽ bảo vệ 60 chiếc ném nom kia. Ngoài số bom thường, Radford đề nghị sử dụng thêm 3 quả bom nguyên tử. Và chỉ cần 3 quả ném trúng chỗ thì sẽ quét sạch Việt Minh.

Operation Vulture được Tổng thống Eisenhower, phó Tổng Thống Nixon và tham mưu trưởng không quân Mỹ nhiệt liệt tán thành. Rất may là Operation Vulture bị Quốc Hội Mỹ bác bỏ. Đọc tới đây các con chiên “đạo thờ Mỹ” sẽ thổn thức vì tấm lòng nhân đạo, bác ái của Mỹ quốc thần thanh. Xin thưa, kế hoạch ấy bị bác bỏ chả liên quan gì đến chuyện nhân đạo cả, chả phải Mỹ thương tiếc gì Việt Nam đâu.

Thứ nhất, quốc Hội Mỹ sợ nước này dây dưa vào cuộc chiến tranh quy mô và dai dẳng như chiến tranh Triền Tiên.

Thứ hai, quốc Hội Mỹ không muốn nước Mỹ tốn máu một mình, họ muốn nước Anh a dua theo. Lúc này Anh lại muốn chiến tranh kết thúc bằng một cuộc đàm phán.

Thứ ba: 3 trái bom nguyên tử này có thể thổi bay cả quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ, không ai tính toán được còn bao nhiêu lính Pháp sống sót.

Viện trợ Mỹ, can thiệp quân sự của Mỹ và cả cái kế hoạch phi nhân tính kia đã quá đủ để giải thích mục đích của Mỹ sau năm 1954 khi đổ vào chiến trường Việt Nam tới 300 tỷ USD và nửa triệu lính để làm chủ Việt Nam. Họa chăng chỉ có những kẻ não nằm dưới mông và những con chiên “đạo thờ Mỹ” mới tin vào lý do “bảo vệ Đồng Minh VNCH” hay “chặn Cộng Sản”.

TÁC GIẢ: Quốc Anh

Nhân dân Việt Nam

Categories: Dân cờ vàng | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nhìn vào nền Đệ Nhất Cộng Hòa ở VN

Nguyễn Tiến Hưng
Cựu Tổng trưởng VNCH, gửi cho BBC từ Mỹ.

Ông Ngô Đình Diệm cùng Thứ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Donald Quarles tại Washington hồi năm 1957

Bầu không khí trong phòng họp thật nặng nề. Các thành viên đến họp đều đã biết rõ sẽ có những tranh luận hết sức gay go.

“Ông Diệm không phải là một giải pháp tốt. Pháp và Mỹ đã cố gắng chứng minh ngược lại, nhưng chúng ta đã thất bại.

“Lợi dụng lúc (Đại sứ Mỹ) Collins đi vắng, ông ta đã cho nổ súng và đã thắng thế nhưng cũng chẳng đóng góp gì được cho một giải pháp lâu dài. Quan điểm chống Pháp của ông ta là cực đoan, Diệm không những bất tài mà còn là một người điên (Fou).”

Đây là lời phát biểu của Bộ Trưởng Các Quốc Gia Liên Kết, ông Henri Laforet. Chỉ trích việc Mỹ luôn luôn thay đổi lập trường đối với ông Diệm, Laforet tiếp tục: “Hai bên Mỹ-Pháp chúng ta đã đồng ý với nhau là chỉ ủng hộ ông Diệm một thời gian cho tới tháng giêng vừa qua (tháng 1, 1955), lúc đó nếu ông Diệm vẫn cứ thất bại thì ta phải kín đáo tìm người thay thế. Nhưng điều này đã không xảy ra,” Mỹ đã không tìm người thay thế ông Diệm.

“Vấn đề là trước tình thế hiện nay ta phải làm gì,” Ngoại trưởng Foster Dulles trả lời, “và tình hình hiện nay là đang có một phong trào cách mạng dấy lên ở Việt Nam.”

“Cách mạng gì đâu, Laforet cãi lại, “Chính cái gọi là ‘Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng Quốc Gia’ lại đang bị Việt Minh chi phối vì Phó Chủ tịch Hồ Hán Sơn là một sĩ quan cũ của Việt Minh.”

Dulles phản biện: “Nếu ông cho rằng một người trước đây đã cộng tác với Cộng sản thì bây giờ vẫn là Cộng sản thì chưa đủ lý do để kết luận…vì nếu lý luận theo kiểu ấy thì chính ông Bảo Đại cũng có thể là Cộng sản.”

Thấy hai bên căng thăng quá, Ngoại trưởng Anh Harold MacMillan xen vào và đề nghị ‘Thôi ta hãy hoãn cuộc họp lại để nghỉ ngơi đã rồi sẽ bàn tiếp.” Đó là đối thoại trong một cuộc họp tay ba Pháp-Mỹ-Anh ở Paris bắt đầu từ ngày 7 tháng 5, 1955 sau khi Ủy Ban Cách Mạng họp tại Dinh Độc Lập ngày 29 tháng 4 ủng hộ Thủ tướng Diệm.

Tới lúc này, sau khi ông Diệm ổn định được tình hình ở Sàigòn thì Mỹ mới dứt khoát ủng hộ.

Trước đó, ngay từ khi ông Diệm vừa về nước, Pháp đã thuyết phục được Mỹ cũng đồng ý để loại trừ ông đi.

Chỉ một tuần lễ trước cuộc họp này, Đại sứ Mỹ ở Sàigòn còn làm áp lực để Ngoại trưởng Dulles ký mật điện dẹp ông Diệm (như đề cập dưới đây). Pháp muốn bám víu vào Miền Nam nhưng lại gặp phải một ông thủ tướng có tinh thần siêu quốc gia nên chắc chắn là phải tìm mọi cách loại bỏ để thay thế bằng một người lãnh đạo thân Pháp.

Hoàn cảnh ở Miền Nam thì lại thuận lợi: Quốc trưởng Bảo Đại vẫn còn ở Cannes, quân đội Việt Nam còn nằm trong Liên Hiệp Pháp, và Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội, Tướng Nguyễn Văn Hinh (con trai của cựu Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm) là một sĩ quan cũ trong Không quân Pháp. Cảnh sát thì do Bình Xuyên nắm giữ; ngay cả lực lượng an ninh ‘Sureté’ cho văn phòng phủ Thủ Tướng Diệm cũng do Cảnh sát gửi đến. Như vậy là ông Diệm đang ở trong hang cọp rồi.

Pháp, Mỹ và Ngô Đình Diệm

Trong một tài liệu mật ghi số 1691/5 (ngày 15 tháng 4, 1955), Bộ Quốc Phòng Mỹ thẩm định là có hai yếu tố làm căn bản cho tất cả những tính toán của Pháp ở Việt Nam, đó là Pháp nhất quyết:

Giữ vai trò lịch sử lâu dài của mình tại Việt Nam; vàBảo vệ những đầu tư quá lớn của Pháp về kinh tế, tài chính tại nơi đây.

Bởi vậy, Bộ nhận xét rằng: vấn đề quyền lợi của Pháp là yếu tố quyết định cho tất cả những diễn tiến chính trị tại nơi này. Pháp toan tính hành động ra sao?

Bằng hai biện pháp:

Tìm cách loại trừ ông Diệm hoặc bằng một cuộc đảo chính, hoặc bằng cách thuyết phục ông Bảo Đại truất chức ông Diệm; và bất hợp tác với Mỹ trong việc huấn luyện quân đội Quốc Gia Việt Nam

Pháp ‘lobby’ Đại sứ Mỹ tại Paris và Sàigòn

Muốn dẹp ông Diệm thì cũng không khó vì lực lượng của Pháp rút từ Miền Bắc vào Nam còn rất hùng hậu. Chỉ có một trở ngại, đó là chính sách của Mỹ đối với ông này.

Tuy nhiên, vào lúc ấy thì sự ủng hộ của Mỹ đối với ông Diệm cũng chưa có gì là rõ ràng. Bởi vậy, Pháp tin rằng mình có thể tìm cách hạ uy tín ông Diệm. Dễ nhất là ‘lobby’ với Đại sứ Mỹ ngay tại Paris và Sàigòn.

Tại Paris

Ông Diệm chấp chính tháng 7 thì tháng 8, Đại sứ Mỹ ở Paris là Douglas Dillon đã đánh điện về Washington báo cáo về cuộc họp với ông Guy La Chambre, Bộ trưởng Các Quốc Gia Liên Kết. La Chambre nêu ra ba đặc điểm sau đây để phê phán ông Diệm. Đại sứ Dillon báo cáo:

Paris, Ngày 4 tháng 8, 1954

Kính gửi: Ngoại Trưởng

“Cuối tuần qua tôi có nói chuyện với ông La Chambre một cách hết sức thẳng thắn. Ông ta cho rằng tương lai của chính phủ Việt Nam sẽ tùy thuộc vào ba yếu tố sau đây:

Chính phủ ấy phải thực sự đại diện nhân dân; Phải tổ chức cải cách điền địa cho sớm; và Phải sửa soạn truất phế ông Bảo Đại để thành lập một nước Cộng Hòa trong mấy tháng tới.

“Ông La Chambre nghĩ rằng chính phủ Diệm không (“tôi xin nhắc lại là không”) đủ khả năng để thi hành bất cứ điểm nào trong ba điểm này…”

Dillon

Phủ Tổng thống với hình ông Diệm trong ảnh chụp hồi đầu thập niên 60

Dillon báo cáo thêm: (i) về điểm thứ nhất: ông La Chambre lưu ý Hoa Kỳ là theo thông tin nhận được thì ông Diệm sẽ không thể có khả năng đại diện nhân dân vì ông ấy không có được sự cộng tác và ủng hộ của các phe phái Miền Nam; (ii) về điểm thứ hai và thứ ba: “vì quá trình của ông Diệm là quan lại, nên ông ta sẽ phản đối cả việc cải cách điền địa cả việc truất phế ông Bảo Đại.”

Bởi vậy, La Chambre đề nghị “Để Miền Nam có được một cơ may thắng thế trong kỳ tổng tuyển cử toàn quốc thì cần phải có ngay một chính phủ mới.” Đề nghị này là ‘gãi đúng chỗ ngứa’ của Mỹ vì Mỹ đang lo ngại về cuộc tổng tuyển cử Bắc-Nam (1956) theo như Hiệp Dịnh Geneva 1954. Ông La Chambre đề nghị ông Nguyễn Văn Tâm làm Thủ Tướng.

Tại Sàigòn

Ngày 26 tháng 8, Đại sứ Mỹ Donald Heath được mời dùng bữa tiệc tại nhà một người triệu phú Pháp tên là Jacques Raphael-Leygues. Tới nơi ông ta mới biết rằng thực ra đây chỉ là một cuộc hội họp chính trị.

Tham dự, ngoài Tướng Nguyễn Văn Hinh, có lãnh đạo của các lực lượng giáo phái và một số quan chức Pháp. Trong bữa tiệc, mọi người tố cáo ông Diệm là người bất tài lại không chịu điều đình với các giáo phái.

Một người đã hỏi thẳng ông Đại sứ Heath: “Nếu chúng tôi xúc tiến để thay thế chính phủ Diệm thì ông có đồng ý hay không?” Ngay ngày hôm sau, ông Heath đánh điện về Washington: “Chúng ta phải để ý theo dõi tìm một lãnh đạo khác.”

Tổng Tham Mưu Trưởng công khai chống Thủ Tướng

Tháng 8 thì như vậy, tới tháng 9 thì ‘hầu như ngày nào cũng có tin đồn về đảo chính.’

Cơ quan tình báo Hoa Kỳ CIA báo cáo liên tục là có dư luận tại Việt Nam là Pháp đang đứng đằng sau một âm mưu lật đổ ông Diệm.

Tướng Hinh công khai chống lại Thủ Tướng Diệm, và còn khoe “Tôi chỉ cần nhấc cái ống điện thoại lên là có thể dẹp được Diệm rồi.”

Nghe vậy, ngày 11 tháng 9 ông Diệm đi tới một quyết định táo bạo: chỉ thị cho Tướng Hinh ‘đi nghỉ để nghiên cứu’ trong sáu tuần và phải xuất ngoại nội trong hai mươi tư giờ.

Mặc dù đã có lệnh, Tướng Hinh bất chấp, ‘ông mặc áo sơ-mi đi chiếc xe môtô thật bự ngang nhiên chạy vòng quanh đường phố Sàigòn.’

Một tuần sau, ông cho phổ biến lời tuyên bố về việc ông bất tuân lệnh ông Diệm và một điện tín ông đã gửi thẳng cho Quốc trưởng Bảo Đại yêu cầu can thiệp.

Cùng ngày, ông Diệm tuyên bố là ông Hinh đã nổi loạn. Ông Hinh cho xe thiết giáp bảo vệ tư dinh của mình, đồng thời phái một lực lượng tới bao vây Dinh Độc Lập. Trong thời gian sáu tuần tiếp theo, tình hình đi tới chỗ bế tắc.

Ngày 20 tháng 9, có tới 15 ông Bộ Trưởng trong nội các ông Diệm đồng loạt từ chức. Quân đội của ông Hinh cũng đã sẵn sàng chờ lệnh để tấn công.

Trước sự cương quyết của ông Diệm, Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ gửi một công điện chỉ thị cho Đại sứ Heath và Tướng O’Daniel là phải “nói không úp mở (với Pháp và Tướng Hinh) rằng Hoa Kỳ sẽ không dự trù hoặc triển hạn những viện trợ lâu dài cho quân đội Việt Nam nếu còn một chút nghi ngờ gì về sự trung thành của vị Tổng Tham Mưu Trưởng và các sĩ quan cao cấp.”

Tướng Hinh ra đi ngày 13 tháng 11, 1954.

Đại sứ Mỹ: “Chỉ ủng hộ ông Diệm vài tuần nữa thôi”

Nhưng chưa xong. Tướng Hinh ra đi tháng 11 thì tháng 12, Tổng Thống Eisenhower cử ông Joseph Lawton Collins (một danh tướng trong Đệ Nhị Thế Chiến) làm Đặc sứ tại Việt Nam.

Vừa tới Sàigòn, ông Collins đã được Tư lệnh Pháp là Tướng Paul Ély thuyết phục chống ông Diệm. Collins là chiến hữu của Ély trong thế chiến.

Tổng thống Eisenhower cử danh tướng Collins tới làm Đặc sứ ở Nam Việt Nam

Bây giờ hai ông tướng lại gặp nhau trên chiến trường Miền Nam. Ngày 6 tháng 12, 1954, Collins gửi công điện ‘Sàigòn 2103’ về Washington nói về sự “nản lòng của tôi đối với tình hình đen tối tại nơi đây.” Ông cho rằng “khả năng của ông Diệm yếu kém” và đề nghị “Mỹ chỉ nên ủng hộ ông ta thêm vài tuần nữa thôi, sau đó nếu tình hình không tiến bộ, Mỹ nên có những biện pháp khác.”

Đề nghị năm bước để loại bỏ ông Diệm.

Ngày 9 háng 4, 1955 ông Collins gửi Ngoại Trưởng Dulles một điện văn dài, đề nghị giải quyết toàn bộ cuộc khủng hoảng tại Sàigòn.

Đề nghị này: thứ nhất, sắp xếp việc ông Diệm ‘từ chức;’ thứ hai, thẩm định hậu quả của việc từ chức, được tóm tắt như sau:

Mật Điện số 4448

Ngày 9 tháng 4, 1955

…..

Thứ nhất, việc sắp xếp cho ông Diệm từ chức gồm 5 bước đi:

Giải quyết vấn đề rút Cảnh sát và Công an ra khỏi tay Bình Xuyên, hoặc bằng một nghị định do ông Diệm ký rồi ông Bảo Đại, Pháp, Mỹ ủng hộ; hoặc cho ông Bảy Viễn một cơ hội để chính ông ta tự nguyện đề nghị như vậy;

2. Thuyết phục ông Diệm từ chức, và nếu ông này không chịu thì yêu cầu ông Bảo Đại truất chức; Tìm người thay thế ông Diệm làm Thủ tướng, rồi ông Bảo Đại gọi người này sang Paris để tham khảo.

Khi trở về Sài Gòn, người này sẽ tham khảo với mọi phía để thành lập tân chính phủ;

Đi tới một thỏa thuận về một giải pháp đối với các giáo phái; và sau cùng,Vận động để các giáo phái chấp nhận giải pháp trên.

(Vì giới hạn của bài này, chúng tôi không viết về phần thứ hai, “thẩm định hậu quả của việc ông Diệm từ chức”).

Đề nghị xong, ông Collins lên đường về Washington để thuyết phục TT Eisenhower và Ngoại trưởng Dulles dẹp ông Diệm.

Ai thay ông Diệm

Ngày 22 tháng 4, 1955 ông Collins dùng bữa ăn trưa với Tổng thống. Sau đó ông gặp Ngoại trưởng Dulles cùng với các đại diện Bộ Quốc Phòng và Trung Ương Tình Báo để thuyết phục.

Tổng thống Diệm duyệt binh mừng độc lập hồi năm 1962, một năm trước khi ông bị ám sát

Ông nhắc lại quan điểm của ông một cách mãnh liệt và cứng rắn hơn trước là Mỹ phải thay thế ông Diệm và phải có kế họach hành động ngay tức khắc. Collins đề nghị ông Phan Huy Quát lên thay thế ông Diệm. Trước áp lực mạnh mẽ của Collins, vừa là đặc ủy của Tổng Thống, vừa là đại sứ, lại là chứng nhân có mặt tại chỗ để nhận xét, nên sau cùng ông ta đã thắng thế.

Mật điện thay thế Thủ Tướng Diệm

Không phải đợi tới ngày 24 tháng 8, 1963 mới có mật điện ủng hộ các tướng lãnh đảo chính mà ngay từ tám năm trước đó cũng đã có mật điện sắp xếp việc dẹp ông Diệm:

Bộ Ngoại Giao

Ngày 27 tháng 4, 1955

“Tướng Collins và Ely phải thông báo cho ông Diệm biết rằng vì lý do ông không thành lập được một chính phủ liên hiệp có cơ sở rộng rãi và ông bị người Việt chống đối, chính phủ Hoa kỳ và Pháp không còn đủ tư thế để ngăn ngừa việc ông phải từ chức. Những đức tính yêu nước của ông vẫn có giá trị tiềm năng lớn đối với Việt Nam, và chúng ta hy vọng rằng ông sẽ hợp tác với bất kỳ chính phủ mới nào được chỉ định…

“ Chúng tôi tạm đề nghị một tân chính phủ như sau:

1) Về Nội Các: quyền hành pháp đầy đủ sẽ được trao cho ông [Trần Văn] Đỗ hoặc ông [Phan Huy] Quát làm thủ tướng và phó thủ tướng;

2)Thành lập một Hội Đồng Tư Vấn từ 25 tới 35 người đại diện cho các phe nhóm gồm cả các Giáo Phái…và

3)Thành lập một Quốc Hội Lâm Thời, một cơ chế gần như một Quốc Hội Lập Pháp….”

Dulles

Nhưng với sự may mắn lớn lao, mật điện này lọt ra ngoài, Thủ tướng Diệm biết đuợc nên trong khoảnh khắc đã cho lệnh tấn công Bình Xuyên (lúc ông Collins còn đang trên đường về Sài gòn), và đã lật ngược được thế cờ.

Tháng 5, 1955: cuộc họp nảy lửa tại Paris

Giải quyết được vấn đề Bình Xuyên cũng chưa xong.

Tình hình tiếp tục căng thẳng. Ba cường quốc quyết định họp lại ở Paris để bàn tính như trích dẫn ở phần đầu.

Tranh luận thật là gay go, kéo dài tới 5 ngày ( từ 7 tới 12, tháng 5, 1955). Để kết thúc, đến lượt Thủ tướng Pháp Edgar Faure hỏi thẳng Ngoại trưởng Dulles: “Ngài nghĩ thế nào nếu Pháp rút hết và triệt thoái Quân đội viễn Chinh ra khỏi Đông Dương sớm nhất có thể?”

Để xoa dịu, ông Dulles bình luận rằng “Việt Nam không đáng để Hoa kỳ cãi nhau với Pháp, cho nên nếu như rút lui và cắt bỏ viện trợ cho Việt Nam mà giải quyết được vấn đề thì Hoa kỳ sẵn lòng.”

Mỗi ngày họp xong, ông Dulles đánh điện tín về Washington để thông báo kết quả. Ông viết cả việc Thủ tướng Faure gọi ông Diệm là người điên, và mở ngoặc chữ “Fou”.
Ông Diệm về sau này bị ám sát dưới thời Tổng thống Kennedy, người sau đó cũng bị ám sát

Về việc ông Faure hăm dọa sẽ rút hết quân đội Pháp khỏi Việt Nam, trong lúc nghỉ giải lao ông Dulles gọi điện thoại về Washington để tham khảo ý kiến.

Ông cho rằng “Ông Faure đã đưa ra một tối hậu thư, và như vậy, bây giờ Mỹ phải lựa chọn giữa việc tiếp tục ủng hộ ông Diệm và việc Pháp rút quân sớm.”

Lúc ấy quân đội Quốc Gia Việt Nam còn non yếu, vậy nếu Pháp rút hết và Bắc Việt tấn công thì làm sao đây? Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ trả lời: “Chính phủ Diệm có khả năng lớn nhất để có thể thiết lập được ổn định nội bộ, một điều cần thiết cho an ninh Việt Nam. Bởi vậy, việc Pháp rút lui tuy tuy rằng sẽ làm cho Miền Nam bớt ổn định, nhưng rồi các biện pháp của Mỹ trong khuôn khổ SEATO sẽ giúp cho Miền Nam được an toàn cũng không kém gì sự có mặt tiếp tục của quân đội Pháp.”

Ủy Ban Kế Hoạch của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia bình luận thêm “Việc Pháp rút lui lại giúp cho Hoa Kỳ hết bị dính vào dấu vết của thực dân (‘taint of colonialism’) và chấm dứt khả năng nguy hiểm là Pháp sẽ làm một sự đổi chác với Việt Minh.”

Khai sinh nền Cộng Hòa

Như vậy, nếu như tháng Tư năm 1975 đã thật đen tối thì tháng Tư năm 1955 cũng hết sức gay go (cách nhau đúng 20 năm).

Về thời điểm này, tác giả nổi tiếng Joseph Buttinger là người có mặt tại chỗ đã viết lại: “Kể cả trong những tuần lễ trước cuộc đảo chánh và ám sát ông vào năm 1963, TT Diệm cũng đã không bị gian lao, cay đắng bằng trong tháng 4, 1955.”

Ngoài khủng hoảng Bình Xuyên và sự việc là cả hai tư lệnh Pháp – Mỹ đã cấu kết để dàn dựng loại bỏ ông, Thủ tướng Diệm còn trăn trở hơn nữa về một vấn đề lương tâm.

Quốc trưởng Bảo Đại muốn thay thế ông Diệm nhưng bất thành

Khi Quốc trưởng Bảo Đại ra lệnh cho ông sang Pháp để tường trình thì ông đã sửa soạn ra đi nhưng mọi người ủng hộ ông đã nhất quyết can ngăn.

Theo một báo cáo của Đại tá Edward Landsdale (sau này lên Tướng), người cố vấn và rất gần gũi Thủ tướng Diệm thì có ba lần chính Landsdale đã chứng kiến cảnh đau đớn dằn vặt của ông Diệm (“he cried over my shoulder”).

Một trong ba lần đó là khi ông Diệm phải miễn cưỡng chấp nhận việc truất phế Quốc trưởng Bảo Đại. Theo như Tướng Trần Văn Đôn (người trong cuộc) thì ông “Bảo Đại dự định khi Ngô Đình Diệm ra khỏi nước thì cách chức liền, đưa Lê Văn Viễn, tư Lệnh Bình Xuyên lên làm Thủ tướng” (Việt Nam Nhân Chứng, trang 124).

Sau cuộc họp quan trọng tại Paris, quân đội Pháp bắt đầu rút khỏi Việt Nam. Sự chiếm đóng của quân lực Pháp từ Hiệp ước Patenôtre năm 1884 tới đây đã hoàn toàn chấm dứt.

Sang Thu 1955 Thủ tướng Diệm ở vào cái thế mạnh. Đối nội, ông đã chấm dứt được sự đe dọa của Cảnh sát, và Quân đội Quốc Gia đã tuân lệnh ông quét sạch lực lượng Bình Xuyên. Sau đó ông được Đại Hội các đoàn thể chính đảng bầu ra nhất mực ủng hộ.

Thêm nữa, ông có hậu thuẫn mạnh mẽ của gần một triệu người di cư. Đối ngoại thì ông Diệm đã cương quyết chống trả và khuất phục được kế hoạch dẹp tiệm của cặp Ély-Collins, bây giờ lại được Washington nhất mực ủng hộ.

Ngày 26 tháng 10, Thủ tướng Diệm tuyên bố thành lập một chế độ ‘Cộng Hòa,’ và trở thành Tổng Thống đầu tiên.

Tên chính thức của nước Việt Nam đổi từ ‘Quốc Gia Việt Nam’ sang ‘Việt Nam Cộng Hòa,’ nhưng bài quốc ca và quốc kỳ không thay đổi. Sau này, chính TT Eisenhower còn nhắc lại về những gian lao trước lúc khai sinh Nền Cộng Hòa Việt Nam:

Thưa Tổng Thống,

“Chúng tôi đã chứng kiến sự can đảm và táo bạo mà Ngài và nhân dân Việt Nam đã biểu dương để đạt tới độc lập trong một tình huống nguy hiểm đến độ mà nhiều người đã coi như là vô vọng. Chúng tôi còn ngưỡng mộ khi tình trạng hỗn loạn ở Miền Nam đã nhường chỗ cho trật tự, và tiến bộ đã thay thế cho tuyệt vọng, tất cả với một tốc độ quá là nhanh chóng…” (Thư TT Eisenhower gửi TT Diệm ngày 22 tháng 10, 1960).

***

[Trong khuôn khổ hạn hẹp, bài này không thêm phần ghi chú]

Tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng cũng là tác giả cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy.

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/forums/topic/nhin-vao-nen-de-nhat-cong-hoa-o-vn/#sthash.YFwNbFg1.dpuf

Amaritx

Categories: Dân cờ vàng | Nhãn: | %(count) bình luận

Chính phủ bù nhìn

Chính phủ bù nhìn: Nguồn ảnh nendanchu2012


Chính phủ bù nhìn là chính phủ tại một nước này do một nước khác dùng vũ lực lập ra và điều khiển chứ không phải do dân nước đó lập ra. Nhìn chung, khi xảy ra chiến tranh, các lực lượng bên ngoài đều cố gắng thiết lập các Chính phủ bù nhìn bản xứ, nhằm tạo điều kiện thuận lợi khai thác lực lượng bản xứ theo mục đích của mình, xoa dịu sự chống đối của người bản xứ, cũng như tránh những tranh cãi hoặc sự lên án của dư luận chính quốc.

Một chính phủ bù nhìn có vẻ ngoài độc lập giống như một quốc gia thông thường, cũng có quốc kỳ, quốc ca, hiến pháp, pháp luật, nhưng thực tế bên trong bộ máy của nó bị chi phối bởi quyền lực từ một quốc gia bên ngoài.[1]. Thuật ngữ này là một phép ẩn dụ, so sánh một chính phủ như một con rối được giật dây bởi kẻ múa rối bên ngoài.[2] Tùy theo cách đánh giá và quan điểm cá nhân của mỗi nhà sử học mà một chính phủ trong điều kiện một quốc gia bị lực lượng quân đội nước ngoài chiếm đóng có được xem là bù nhìn hay không.

Thời Thế chiến thứ hai

Có quan điểm cho rằng một số chính phủ sau đây là chính phủ bù nhìn:

Việt Nam thời phong kiến

Theo đánh giá của các nhà sử học thời Quân chủ và các nhà sử học hiện đại Việt Nam, các vị vua và lãnh chúa dưới đây là bù nhìn:

Sử gia Ngô Sĩ Liên nhận xét: “Than ôi, người làm tôi trung với nước tuy chết vì nghĩa không có tội gì, mà để lại tiếng thơm mãi mãi, còn bọn bất trung phản quốc, vẫn không tránh khỏi chết, lại còn để tiếng xấu ngàn năm, thực đúng như thế.”

Chiến tranh Triều Tiên

Rất khó xác định được đâu là chính quyền bù nhìn trong thời gian này (19501953) vì cả hai bên đều buộc tội bên kia là “Chính quyền bù nhìn”. Nhà nước tại Nam Triều Tiên là do các chính trị gia theo chủ nghĩa dân tộc lập ra dưới chế độ quân quản của Hoa Kỳvà Liên Hợp Quốc, còn Bắc Triều Tiên là do những người cộng sản từng hoạt động du kích chống Đế quốc Nhật Bản lập ra dưới chế độ quân quản của Liên Xô. Cả hai đều chưa từng có thực quyền trên toàn lãnh thổ Triều Tiên, chưa từng lãnh đạo nhân dân Triều Tiên trước đó và đều hình thành dưới chế độ quân quản của nước ngoài. Khi Đồng minh tiến vào Triều Tiên, nước này vẫn chưa có tư cách của một quốc gia độc lập, nên rất khó xác định nhà nước nào có tính chính danh.

Chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam

Người biểu tình phản chiến Mỹ với sự châm biếm “Con rối Sài Gòn”

Khác với Chiến tranh Triều Tiên, trước khi chiến tranh Đông Dương nổ ra thì Việt Nam đã tuyên bố độc lập. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, vua Bảo Đại tuyên bố “Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước Bảo hộ ký kết với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia Độc lập.“.[4] Sau đó vua Bảo Đại giải tán nội các cũ và thành lập Đế quốc Việt Nam. Tranh thủ thời cơ Quân đội Đế quốc Nhật Bản án binh bất động chờ giải giới và sự ủng hộ của đông đảo quần chúng, Mặt trận Việt Minh (trước đó vốn được OSS hỗ trợ trong việc cung cấp vũ khí, tuyên truyền quần chúng và đào tạo sĩ quan, binh lính để chống Nhật) đã tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám giành chính quyền trên cả nước từ tay Đế quốc Việt Nam, trước khi các lực lượng quân sự nước ngoài cũng như các tổ chức chính trị khác, trong đó một số được sự hậu thuẫn từ nước ngoài, kịp phản ứng, lập nên chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Ngày 23 tháng 8 năm 1945, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị để trao quyền cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[5]

Trong thời gian trước khi quân đồng minh vào Việt Nam giải giáp quân đội Nhật, chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa do Việt Minh lãnh đạo đã kịp thực hiện tuyên bố độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Nhà nước này đã ban hành nhiều sắc lệnh, tổ chức chính quyền các cấp và thực hiện tuyển cử Quốc hội trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Dù các chính trị gia đối lập với Việt Minh cáo buộc cuộc tuyển cử là không công bằng (xem thêm Quốc hội Việt Nam khóa I), nhưng đây có thể được xem là chính phủ dân cử đầu tiên do người Việt Nam tự thiết lập và được đánh giá mang tính chính danh.

Sau đó, bằng việc ký kết Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946) ngày 6 tháng 3 năm 1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Pháp công nhận là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng.[6] Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp tiếp tục đàm phán tại Hội nghị Fontainebleau 1946 về nền độc lập của Việt Nam trongLiên hiệp Pháp và việc thống nhất Việt Nam. Hội nghị Fontainebleau thất bại nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn ký với Pháp Tạm ước Việt – Pháp về quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp trên các phương diện văn hoá, tiền tệ, thuế quan,… và đảm bảo tôn trọng các lợi ích kinh tế, văn hóa của Pháp tại Việt Nam.

Năm 1945, nhằm thành lập Liên bang Đông Dương theo những ý tưởng đã được nêu trong Tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 của chính phủ Charles de Gaulle, người Pháp cho phép thành lập một nhà nước tại Nam Kỳ với tên gọi Cộng hòa tự trị Nam Kỳ(République autonome de Cochinchine), còn được gọi là Nam Kỳ Quốc, vào tháng 6 năm 1946, do bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng. Những người ủng hộ Việt Minh đã kết án chính phủ Nam Kỳ Quốc là một chính phủ bù nhìn vì trên thực tế chính phủ này phụ thuộc Pháp về tài chính, và quân sự. Ngoài ra Cao ủy Pháp tại Đông Dương còn có quyền phê chuẩn hoặc bác bỏ mọi bổ nhiệm của Thủ tướng Nam Kỳ quốc. Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol đã ký với cựu hoàng Bảo Đại Hiệp ước Elyséecông nhận Việt Nam là nước độc lập nằm trong Liên hiệp Pháp. Sau đó, ngày 22 tháng 5 năm 1949, Quốc hội Pháp bỏ phiếu thông qua quyết định trả thuộc địa Nam Kỳ cho Quốc gia Việt Nam.

Quốc gia Việt Nam (hậu thân là Việt Nam Cộng Hòa) do Bảo Đại đứng đầu cũng được thành lập thông qua đàm phán giữa Pháp và các chính trị gia có lập trường chống Việt Minh, được Pháp coi là “Giải pháp Bảo Đại”. Kỳ thực Pháp coi giải pháp Bảo Đại chỉ là do tình thế thúc ép, họ không tin tưởng và tôn trọng chính phủ này. Năm 1949, Tổng tham mưu trưởng lục quân Pháp, đại tướng Revers sau chuyến khảo sát tình hình Đông Dương đã có bản tường trình mật trong đó viết: “Vấn đề điều đình với Việt Nam thì tìm những người quốc gia chống cộng để điều đình. Giải pháp Bảo đại chỉ là một giải pháp thí nghiệm, nhưng chế độ Bảo Đại là một chế độ ung thối với sự tham nhũng, buôn lậu đồng bạc, buôn lậu giấy phép nhập cảng, những khu chứa cờ bạc đĩ điếm…” (Trung tâm du hí Đại thế Giới ở Chợ Lớn được chính phủ Bảo Đại cho phép công khai sòng bạc và chứa mại dâm để kiếm chác). Bản tường trình sau đó bị lộ khiến chính phủ Pháp “muối mặt”, và Revers bị cho về hưu non sau khi ra khai trình tại Hội đồng tối cao quân lực. Bản thân Bảo Đại cũng nhận xét rằng: “Cái được gọi là giải pháp Bảo Đại thực ra là giải pháp của người Pháp.”[7]

Sau khi Pháp thất bại, Quốc gia Việt Nam theo Pháp tập trung vào miền Nam Việt Nam. Dưới sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ, Bảo Đại bịNgô Đình Diệm phế truất thông qua một cuộc bầu cử bị tố cáo là gian lận (Ví dụ tại Sài Gòn, Ngô Đình Diệm được 605.025 lá phiếu trong khi khu vực này chỉ có 450.000 cử tri)[8][9]. Sau đó, chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức bầu Quốc hội lập ra nền Đệ Nhất Cộng hòa và Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Việt Nam Cộng Hòa. Hoa Kỳ hậu thuẫn mạnh mẽ cho Việt Nam Cộng Hòa nhằm mục tiêu bảo vệ các chính phủ thân Mỹ ở Đông Nam Á trước sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản. Tài liệu được giải mật của Lầu Năm Góc vào năm 2010 cũng viết: “Không có sự yểm trợ của Hoa Kỳ, Diệm hầu như chắc chắn không thể đứng vững được ở miền Nam… Nam Việt Nam về bản chất là một sáng tạo của Hoa Kỳ”[10].

Năm 1963, các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm với cam kết của Hoa Kỳ sẽ không cản trở cuộc đảo chính vì lực lượng đảo chính và Hoa Kỳ không bằng lòng với cách điều hành và thái độ bất hợp tác của ông ta. Ngày 1-2-1966, Tổng thống Mỹ Johnson đã gọi điện thoại cho Thượng Nghị Sĩ Eugene McCarthay, nhắc lại chuyện chính quyền Kennedy đã tham gia cùng“bọn du côn” (phe đảo chánh) để hạ sát Ngô Đình Diệm vì ông ta đã trở nên suy đồi.[11]

Tại Hiệp định Paris, chỉ có Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa họp kín với nhau để thỏa thuận chi tiết Hiệp định Paris, Việt Nam Cộng Hòa không tham gia. Sau đó Mỹ đã gây sức ép buộc Việt Nam Cộng hòa ký kết Hiệp định Paris dù Việt Nam Cộng Hòa phản đối do hiệp định có các điều khoản bất lợi cho họ. Tổng thống Mỹ Nixon gửi thư ngầm cảnh báo Nguyễn Văn Thiệu nếu không chấp nhận thì sẽ có kết cục như Ngô Đình Diệm. Ông còn nói với ngoại trưởng Henry Kissinger rằng: “Không thể để cái đuôi chó phản lại cái đầu con chó được”[12].

Trong khi đó, đối với Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, các đường lối chiến lược về quân sựngoại giao và việc đàm phán với Hoa Kỳ đều do họ tự hoạch định và tiến hành, không chịu sự điều khiển từ cả Liên Xô và Trung Quốc. Họ không từ bỏ các kế hoạch của mình dù cho Liên Xô và Trung Quốc gây sức ép[13] Thực tế chỉ 4 năm sau chiến tranh, Việt Nam đã có các cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc, mà Trung Quốc tuyên bố là để “dạy cho Việt Nam một bài học”, Theo Edward C. O’dowd, đó là do Việt Nam không chấp nhận yêu cầu của Trung Quốc là phải chấm dứt quan hệ ngoại giao với Liên Xô, cũng như từ bỏ việc tuyên bố chủ quyền tại 2 quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa[14].

Tham khảo

  1. ^ Raič, D (2002). Statehood and the Law of Self-determination. Martinus Nijhoff. tr. 81.
  2. ^ Shapiro, Stephen (2003). Ultra Hush-hush. Annick Press. tr. 38. ISBN 1-55037-778-7. “Puppet state: a country whose government is being controlled by the government of another country, much as a puppeteer controls the strings on a marionette”
  3. ^ Lebra, Joyce C. Japan’s Greater East Asia Co-Prosperity Sphere in World War II: Selected Readings and Documents. New York: Oxford University Press, 1975, trang 157, 158, 160
  4. ^ <Hà Thúc Ký. Sống còn với Dân tộc, hồi ký chính trị, Nxb Phương Nghi, 2009. trang 83
  5. ^ Bảo Đại, Con Rồng Việt Nam, Nguyễn Phước Tộc Xuất Bản, 1990, trang 186-188
  6. ^ Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 4. NXB Chính trị Quốc gia. 2000. trang 324 – 326
  7. ^ H. R. McMaster (1998). Dereliction of Duty: Johnson, McNamara, the Joint Chiefs of Staff, and the Lies That Led to Vietnam. New York, New York: HarperCollins Publishers, Inc.
  8. ^ Tucker, Spencer C. (2000). Encyclopedia of the Vietnam WarABC-CLIO. tr. p. 366. ISBN 1-57607-040-0 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp).
  9. ^ Karnow, Stanley (1997). Vietnam: A historyPenguin Books. tr. p. 239. ISBN 0-670-84218-4.
  10. ^ The Pentagon Papers, The Defense Department History of United States Decisionmaking on Vietnam. tr. 25
  11. ^ http://www.wnd.com/?pageId=20931, LBJ: Kennedy White House killed U.S. ally. Nguyên văn: They started on me with Diem. “He was corrupt and he ought to be killed.” So we killed him. We all got together and got a goddam bunch of thugs and assassinated him. Now, we’ve really had no political stability [in South Vietnam] since then
  12. ^ Henry Kissinger, Những năm tháng ở Nhà Trắng, Nxb Fayard, Paris, 1979
  13. ^ Liên Bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam. Ilya V.Gaiduk. Nhà xuất bản Công an Nhân dân 1998. Chương XI: Kẻ chiến thắng duy nhất. Trích: Khôn khéo vận dụng giữa trung Quốc và Liên Xô, Hà Nội đã giữ được vị trí độc lập trong các mục tiêu chính trị… Các nhà lãnh đạo Mỹ không thể hiểu được tại sao Liên Xô, một nước đã viện trợ đủ thứ về kinh tế và quân sự cho Việt Nam dân chủ cộng hoà, lại không thể sử dụng sự giúp đỡ này như là một động lực thuyết phục Hà Nội từ bỏ các kế hoạch đối với miền Nam của họ để rồi đồng ý đi tới một sự thương lượng.
  14. ^ (2007). Chinese Military Strategy in the Third Indochina War, tr. 44. Trung Quốc yêu cầu Việt Nam phải chấm dứt quan hệ ngoại giao với Liên Xô, cũng như từ bỏ việc tuyên bố chủ quyền tại 2 quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa

Theo: Wikipedia

Categories: Dân cờ vàng | Nhãn: | %(count) bình luận

Ba que xỏ lá

(Bạn đọc) – Dân gian thường hay dùng “Ba que xỏ lá” hoặc “bọn ba que” để chỉ những người lừa lọc, bịp bợm, đểu cáng.

Ba que xỏ lá...Ba que xỏ lá…

Thời Pháp thuộc, có một số người chuyên tổ chức các trò đỏ đen mà bây giờ nhân dân hay gọi là “trò chơi có thưởng”. Chỉ có mỗi hai dụng cụ đơn giản là một chiếc que và ba chiếc lá, mỗi chiếc lá có đính một vòng nhỏ ở cuống. Người chơi cầm que nhỏ xỏ vào ba cái vòng này và mỗi người chỉ được xỏ một lần. Người nào có thể xuyên chiếc que qua cả ba vòng tròn nhỏ đó sẽ lĩnh thưởng. Nếu chỉ chạm vào bất kỳ một trong ba chiếc vòng sẽ bị mất tiền đặt cược. Cách thứ hai, chúng cho người chơi nhìn ba chiếc que rồi giấu đi, trong đó chỉ có một chiếc xỏ một cái lá và người chơi đặt cược để đoán xem chiếc que nào là có lá. Cả hai cách này đa phần chủ trò đều có thể dùng các thủ đoạn gian lận để khiến người chơi chẳng bao giờ thắng được tiền. Do vậy, câu thành ngữ “ba que xỏ lá” mới ra đời.

Thời nay, ba que xỏ lá để chỉ lũ “rận” lừa lọc người nhẹ dạ tụ tập, biểu tình chống lại Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đó là bọn người lấy cờ ba que làm biểu tượng!

Không cần que, chả cần lá, chỉ có cái lưỡi lắt léo và ít nước bọt, lũ “rận” lừa phỉnh mọi người bằng những luận điệu phản động.

Vụ án Phương Uyên giãy đành đạnh trên một số trang mạng chẳng hạn. Nhỏ to vận động con bé đi biểu tình chống Trung Quốc, thực ra là chống lại Nhà nước. Nào là rải truyền đơn in cờ ba que, chống Cộng, nào là kêu gọi lật đổ… Phạm tội thì rõ ràng rồi, nhưng điều muốn nói là cái sự ba que xỏ lá của lũ “rận”.

Phương Uyên có ngây thơ khi rải truyền đơn in cờ vàng ba sọc?Phương Uyên có ngây thơ khi rải truyền đơn in cờ vàng ba sọc?

Lúc thì chúng rêu rao rằng: Phương Uyên là sinh viên đại học, nhận thức hẳn hoi… nên đấu tranh vì đất nước…

Và lúc thì chúng lại thẽ thọt ra điều “hai đứa trẻ con trói gà không chặt” làm sao biết chuyện lớn đất nước…

Ba que xỏ lá còn ở chỗ, chúng cố kiết tung hô, lừa phỉnh để Phương Uyên sau khi nhận tội thành khẩn lại phải cố làm một anh hùng ảo. Trẻ con trói gà không chặt mà chúng lợi dụng đến tận cùng vậy đấy.

>> Xem thêm: “Cờ vàng” và những trò lừa bịp đen tối

Thời nào cũng vậy, ba que xỏ lá là loại người mất dạy, lừa đảo, cần loại bỏ.

Thăng Long
(Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả)

Tin liên quan:
Tổng hợp tất cả thông tin bài viết, hình ảnh, video clips về Nguyễn Phương Uyên – Thành viên Tổ chức phản động “Tuổi trẻ Yêu nước”.

Xem tiếp

Xem thêm: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thông tin Giá vàng, Biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Sức mạnh quân sự Việt Nam

Nguồn: http://nguyentandung.org/ba-que-xo-la.html

Categories: Dân cờ vàng | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

“CÔNG HÀM BÁN NƯỚC”

Việc những người chống cộng lấy công thư năm 1958 của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng rồi rêu rao như là bằng chứng chính quyền VN bán biển bán đảo cho Tàu cho thấy đến nay mà vẫn còn có quá nhiều người ngu trong hội cờ vàng. Ngu là vì quá xem thường quần chúng, cho nên mới diễn dịch công hàm này thành văn kiện bán nước để tố cộng họ hy vọng đánh vào lòng yêu nước của người dân để mong kích động chống lại chính quyền. Tuy nhiên nguời ít học nhất cũng hiểu được việc chuyển sở hữu tài sản giữa cá nhân với nhau cũng phải có những bước đàm phán và ký kết rất chặt chẽ buộc chặt bằng những văn bản có tính pháp lý chứ đừng nói chi chuyển nhựợng tài sản đất đai quốc gia mà không có ông thủ tướng nào trên thế giới có quyền hạn.

Công thư của Thủ tướng Việt Nam dân chủ cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi cho thủ tướng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai vào năm 1958 (Nguồn internet)

Cũng chỉ vì muốn gỡ gạc cái tội bán nước cho ngoại bang, dẫn giặc vào nhà cho nên họ phải tìm mọi cách tố CS cũng bán nước như họ. Khi vớ được công thư của thủ tướng Phạm Văn Đồng thì họ như vớ đuợc vàng. Dù rằng nó không hề có giá trị pháp lý nào để TQ áp đặt chủ quyền lên các quần đảo nhưng lòng thù hận nó làm cho họ mất cả lý trí ra sức suy diễn nhào nặn công thư này thành một văn kiện bán nước.

Cứ đơn giản hóa các quần đảo là một tài sản có chủ sở hữu thì việc chuyển nhượng phải có sự đồng thuận của chủ sở hữu và người mua. Một công văn của một cá nhân dù cá nhân đó là thủ tướng không có một chữ nào nói đến chủ quyền, không có chữ nào nói đến đảo, lại không phải là chủ sở hữu, không có đàm phán không có ký kết mà gọi là một công hàm bán nước mà cả bầy cờ vàng nghe rồi lải nhải theo thì quả không gọi là ngu thì không biết gọi là gì.

Trường Sa Hoàng Sa Năm 1958 do VNCH nắm quyền chủ sở hữu thế mà thủ tướng VNDCCH lại có thể nhượng bán cái mà mình không sở hữu và thằng Tàu ngu hơn, ngu đến nỗi chỉ mua trâu vẽ bóng. Thế mà cũng xuyên tạc rồi hùa nhau tố cộng được thì đúng là não lợn.

Bán một miếng đất ruộng cũng phải có bản đồ ghi rõ nó ở đâu, chủ nó là ai, có được quyền bán hay không hay đang tranh chấp, rồi phải có hàng xóm xác nhận ranh giới thực. Thế mà bán cả quần đảo chỉ cần vài chữ là xong, thế mà họ cố mà nghĩ ra. Suy nghĩ như thế chỉ có ở cái đầu nô lệ. Phận nô lệ thì chưa từng làm chủ đất nước bao giờ chỉ là tay sai, mọi thứ đều do ngoại bang quyết định cả , ngay cả cái hiệp định Paris Mỹ nó cũng viết sẵn cho mà ký vào thì làm gì có ý thức gì về chủ quyền. Ngô Đình Diệm đã từng tuyên bố biên giới nước Mỹ kéo dài đến vĩ tuyến 17 đủ thấy cái tư tưởng nô lệ nó ăn sâu như thế nào, và thực tế cả miền Nam VN hoàn toàn lệ thuộc Mỹ đó mới chính là sự thật.

Nếu cho văn thư của thủ tướng Đồng là “công hàm bán nước” có giá trị đối với Tàu thì còn gì để nói, làm gì phải đợi đến năm 1974 Tàu nó mới đánh chiếm Hoàng Sa. Thực tế từ năm 1956 Tàu nó đã chiếm đảo Phú Lâm và Linh Côn mà không cần đến cái “công hàm” nào cả.

Đó hoàn toàn chỉ là một tuyên bố ngoại giao có tính cách song phương không liên quan đến lãnh hải của nước thứ ba và chỉ đề cập đến phần lãnh hải trước kia của VNDCCH theo đúng giá trị giới hạn tồn tại của nước VNDCCH.

Lãnh hải của VNDCCH năm 1958 và lãnh hải VNCH hoàn toàn khác xa nhau và có chủ quyền riêng . Sau khi giải phóng miền Nam, VN đã ngay lập tức chiếm giữ 21 đảo trên quần đảo Trường Sa, lúc đó thì VN mới chính thức tiếp quản chủ quyền trên quần đảo này khi Tàu chưa kịp ra tay cướp. Năm 1988 hải quân VN đã hy sinh 74 chiến sĩ để bảo vệ đảo và kiên quyêt bảo vệ đến nay. Thực tế đó đã chững minh ngược lại tất cả những gì bọn phản động cáo buộc. Nếu công thư có giá trị chuyển nhượng lãnh thổ thì ngày nay không có vấn đề tranh chấp biển Đông mà Tàu chỉ việc lấy cái “công hàm” ra mà chiếm cứ hợp pháp.

Chỉ có “ngu chính danh” mới không biết đến những việc nêu trên. Lưu manh Tàu cũng không thể sừ dụng công hàm như một bằng chứng để yêu sách về lãnh thổ thế mà lưu manh cờ vàng cứ cố ra sức ngụy biện mà bẻ cong cái lý lẽ về chủ quyền về phía Tàu thế mới khốn nạn.

Ngậm máu phun người lu loa tố cộng để che đậy tội ác bán nước là sách lược cờ vàng. Không lấy cái mồm, không xuyên tạc tố cộng thì chẳng còn lấy cái gì mà chống. Nhưng chống cộng bằng cách cố bới móc tìm cách bẻ cong lịch sử xuyên tạc sự thật có lợi cho Tàu, gán ghép chủ quyền đất nước cho Tàu thì chỉ có cái đầu của nô lệ cờ vàng mới nghĩ ra được.

Tác giả: Xichloviet

Categories: Dân cờ vàng | Nhãn: | 15 phản hồi

CỜ VÀNG: CHUYỆN NHIỀU TẬP

Nguyễn Trí Cảm
http://sachhiem.net/THOISU_CT/ChuN/NguyenTriCam7.php

15 tháng 8, 2008

Nhân dịp lễ Vu Lan báo hiếu năm 2008, thầy Thích Nhật Từ được mời sang thuyết pháp tại chùa Hoa Nghiêm ở Washington D.C, thầy bị một số tổ chức, hội đoàn xưng là cộng đồng “người Việt quốc gia” chống đối, vu khống và xuyên tạc mục đích của chuyến đi hoằng pháp. Gọi thầy Nhật Từ là người của nhà nước cọng sản.

Cọng sản là thế nào? Là tu sĩ thì đi giảng pháp là chuyện bình thường, đi đâu, giảng ở đâu là chuyện của thầy, thầy chẳng làm rụng sợi tóc của ai đâu, đừng sợ! Tuy nhiên sự chống đối là thước đo của mối bang giao Việt-Mỹ, mối quan hệ càng có thực chất, chiều sâu bao nhiêu thì sự chống đối càng mãnh liệt bấy nhiêu, nhất là trong lãnh vực kinh tế và quân sự.

Tâm lý của sự chống đối

Sự chống đối thể hiện sự lo sợ chính quyền Hoa Kỳ sẽ có những biện pháp nhằm hạn chế hay cấm đoán những biểu hiện của các công dân Mỹ gốc Việt chống đối hăng tiết vịt quá, có thể làm tổn hại đến mối quan hệ chiến lược Việt-Mỹ và các nước Đông Nam Á đang được xây dựng để làm đối trọng giữa anh Hoa Kỳ với anh Hoa Kiều. Vì vậy, sẽ có những cuộc chống đối vu vơ như chó sủa trăng như thế trong tương lai. Quay lại vấn đề người Việt quốc gia.

Nguồn gốc và quá trình hình thành cờ vàng và người Việt quốc gia ra sao thì thấy tác giả Nguyễn Mạnh Quang trình bày rất chi tiết trong tập tài liệu lịch sử ”Chân Dung Người Việt Quốc Gia” trên trang Sách Hiếm. Sau hiệp định Genève năm 1954, đất nước tạm chia đôi chờ tổng tuyển cử, lá cờ nền vàng ba sọc đỏ được sử dụng làm quốc kỳ cho Miền Nam Việt Nam. Ý nghĩa hay biểu tượng của nó ra sao thì dĩ nhiên phải là những từ ngữ mang những ý nghĩa tích cực như tự do, dân chủ, nhân vị, nhân quyền, chính nghĩa quốc gia hay hàm ẩn một ý nghĩa gì gì đó như bất cứ lá cờ nào khác. Nhưng dù nó biểu tượng cho cái gì đi nữa thì số phận lịch sử của nó cũng đã qua, đã thuộc về quá khứ, biết là để biết như “dân ta phải biết sử ta” chỉ thế thôi.

Nói gì thì nói, Việt Nam ngày nay không còn là một đất nước bị chia cắt làm hai miền bắc nam, mà là một đất nước đã thống nhất, và là thành viên của Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Do đó, “cờ vàng” đã chết về mặt lý thuyết và cả trên thực tế kể từ 30 tháng 4 năm 1975, cờ vàng không còn là biểu tượng của nước Việt Nam Cọng Hòa nữa vì nước này không còn tồn tại. Tuy nhiên quá khứ không thể giống như đôi giày rách cũ, muốn vứt bỏ đi lúc nào cũng được nhưng nếu cứ dùng lá cờ vàng để nuôi mãi lòng hận thù với tâm trạng thắng thua, bất chấp lẽ phải thì chẳng thể hòa giải được với hiện tại, chuyển hóa được nội kết, xem mọi vật là thường thay vì vô thường.

Đáng lẽ nên yên lặng sống nốt quảng đời còn lại thay vì cứ hô hào chống đối lung tung để cố chứng minh cái chẳng có là “chính nghĩa quốc gia” để rồi làm trò cười cho thiên hạ và các thế hệ mai sau, và rồi cũng sẽ chẳng đi đến đâu. Những người tham gia chính quyền miền Nam cũ giờ ai nấy cũng vào khoảng trên dưới 60, nói theo Khổng Tử thì là “lục thập nhi nhĩ thuận”, có nghĩa là không còn chướng ngại khi nghe mọi lẽ phải trái, và thấu hiểu ngay mọi điều. Tuy nhiên, những người này cứ làm phiền lòng những cộng đồng người Việt khác và cả cho người bản xứ, vì không phải cứ là người định cư buộc phải là người chống cộng, phải suy tôn “cờ vàng” với cái lý luận rất trẻ con là nếu thích cọng sản thì sao lại qua đây!

Con chiên cờ vàng

Riêng con chiên cờ vàng thì lại là vấn đề khác. Đối với giáo dân, cờ vàng là biểu tượng của chủ nghĩa chống cộng, họ chống phá ngông cuồng, hung hăng như gà chọi, hết thế hệ này qua thế hệ khác trên một nền tảng chung đó là những gì mà các chủ chăn vận dụng Kinh Thánh dạy cho họ. Còn chủ chăn chiên thì lại khác, họ chống cộng rất triệt để vì quyền lực, tài sản, đất đai cướp đoạt khi xưa bị tịch thu trả lại cho quốc gia, mất quyền “làm cha thiên hạ”.

Họ căm thù chế độ cọng sản còn là vì chính chủ nghĩa này là một trong những lực lượng tiên phong của loài người tiến bộ đã đánh và “giải hoặc” những gì mà tôn giáo này muốn là toàn thế giới phải thờ duy nhất chỉ có một mình Giêsu trong hơn 2000 năm qua, kể cả bằng các cuộc “thập tự chinh” hay “thánh chiến”, và Việt Nam là nạn nhân của “ơn Chúa” này trong hơn 80 năm làm nô lệ cho người Pháp và cuộc chiến hơn 20 năm với người Mỹ, chư hầu và di họa của nó vẫn còn tồn tại đến ngày nay, bằng chứng cụ thể là “cờ vàng” cứ muốn đi ngược dòng lịch sử.

Con chiên cờ vàng tìm mọi cơ hội, hô hào chống đối, biểu tình, kêu gọi ngoại bang can thiệp bất cứ điều gì có thể giúp cho Việt Nam phát triển bằng mọi thủ đoạn miễn làm sao cho Việt Nam bị cô lập, kiệt quệ, nghèo đói là họ vui mừng kháo nhau rằng đất nước “tang thương” là do bọn cọng sản gây ra! Họ biết kết hợp, xâm nhập và lũng đoạn các tổ chức, hội đoàn tự nhận là “người Việt quốc gia” để chống đối nhà nước Việt nam, gây áp lực tâm lý với những người muốn sống yên phận trong một cộng đồng đa phần là con chiên “cờ vàng”. Bằng chứng là chống thì cứ chống, về thăm quê và gửi cả 6, 7 tỉ dollar về nước mỗi năm thì cứ gửi, cứ về! mà ngay cả một số chùa chiền cũng phải tham gia chống cộng, treo cờ vàng để được yên thân, làm mất cả tinh thần “vô úy” của đạo Phật ! Họ thành công khi biến những tổ chức chống cộng khác đứng dưới chung một màu cờ, bởi giờ đây cờ vàng đã bị tiếm danh và trở thành biểu tượng “công giáo chống cộng” là chính.

Mất nước?

Họ cứ kêu gào ồn ào lên rằng nước đã mất, đã mất nước, điều này hoàn toàn chính xác, vì đối với họ chỉ có một tổ quốc duy nhất: Đó là nước Chúa. Còn tôi nghe họ kêu gào toáng lên “nước đã mất” nên thỉnh thoảng cũng ghé vào trang web của LHQ để kiểm tra xem nước Việt Nam đã mất hay chưa! Họ không muốn hiểu rằng thể chế chính trị nào cũng tồn tại trong một quãng thời gian nhất định hoặc biến thể để tồn tại trong dòng lịch sử của dân tộc, còn đất nước thì không, trừ phi hành tinh này bị Chúa lòng lành của họ xóa sổ!

Hoạt động của các của con chiên cờ vàng

Niềm vui của con chiên cờ vàng và người Việt cờ vàng là có cơ hội được tụ tập giương cờ vàng, lấy sự hô khẩu hiệu chống cộng làm niềm vui, xả xì-trét, một thứ “hobby”, vì thực tế họ chẳng hề có một thực lực nào đáng kể để chống phá Việt Nam ngoài mấy trang điện tử chỉ toàn ca tụng các “đức thánh cha” và chưởi bới những “thằng” nói ra sự thật về kinh thánh, về ông bà Giêsu và Maria, về sự cấu kết của giáo hội công giáo với thế lực ngoại bang gây ra tội ác đối với dân tộc, nói về “chính nghĩa quốc gia”, nói về “lính cọng hòa” v.v. những bài viết chỉ toàn là chuyện móc méo xuyên tạc, sặt mùi lá cải, “xe cán chó-chó cắn xe” trong nước, mang tính cá biệt, ai nói động đến cờ vàng họ đều bị chụp mũ là ..cọng sản hay thân cộng tuốt, mấy nhà sư Phật giáo trong nước qua cũng là đối tượng được “chào đón” rất kỹ vì họ cho rằng Phật giáo đã tiếp tay cọng sản làm cho “mất nước”. Vì thú vui này, nên chẳng lấy làm lạ khi chính họ biểu tình chống đối lẫn nhau vì những chuyện không đâu, từ cái chậu rửa chân có hình cờ vàng, thậm chí có cậu ca sĩ mang dây thắt lưng có hình ngôi sao cũng bị biểu tình chống đối chỉ vì khi này chẳng có ông viên chức “Việt Cộng” nào qua công tác!.

Con chiên và cờ vàng trong ngày đại hội thanh niên công giáo thé giớiCon chiên và cờ vàng trong ngày đại hội thanh niên công giáo thế giới

Đằng sau các con rối

Đó là nói về các biểu hiện bên ngoài của đám con chiên ngu ngơ, còn thực tế đây là chính sách ngầm nuôi dưỡng lực lượng đối kháng để hỗ trợ cho chính sách ngoại giao của Vatican với Nhà Nước Việt nam. Tài sản của Vatican ở Việt Nam không nhỏ sau gần 100 năm cấu kết với thực dân pháp đô hộ đất nước ta đã chiếm đoạt được. Vatican tuy ngoài mặt hòa hoãn với Việt Nam vì đang ở thế yếu, nhưng Việt Nam là một kẻ thù phải bị “ghi tâm khắc cốt” vì trong suốt thời kỳ theo chân thực dân Pháp sang truyền đạo, họ cho là luôn bị “bách hại” . Từ đời các triều đại từ Tây Sơn đến Nhà Nguyễn. Rồi miền Bắc Việt Nam “tống cổ” linh mục người Ái Nhĩ Lan Terence O’Driscoll ra khỏi xứ, xóa sổ tòa khâm năm 1959, còn miền Nam con chiên ngoan đạo Ngô Đình Diệm bị giết chết sau vụ đảo chánh 1963 và năm 1975, con chiên Nguyễn Văn Thiệu bỏ xứ lưu vong, chấm dứt các triều đại Công giáo La Mã tại miền Nam.

Từ khi Việt Nam thống nhất, không có bang giao chính thức cấp nhà nước giữa Việt Nam với Vatican, vì vậy, họ không thể quên được món nợ này khi có cơ hội “đòi lại sự sòng phẳng cho quá khứ”, mặc khác tuy Philippines toàn tòng, thuộc Châu Á, nhưng chỉ là nhóm đảo bao bọc bởi đại dương, khó tiếp cận với lục địa, còn Việt Nam có số giáo dân nhiều thứ hai ở Châu Á, và thuộc loại cống hiến “thánh tử đạo” nhiều nhất nhì thế giới, lại sẵn có hậu cứ, hậu thuẩn từ bên trong nên chẳng lạ khi họ cứ tổ chức cầu nguyện đòi đất, trong đó “thánh địa La Vang” luôn nằm trong chương trình nghị sự mỗi khi Vatican qua Việt Nam!

Chiếc khăn quàng “chiến lược”

Nhân đại hội giáo dân trẻ thế giới WYD 2008 ở Sydney, để quảng bá cờ vàng, một con chiên trẻ dúi cho ông giáo hoàng Benedicto XVI dải cờ vàng để choàng vào cổ, và ông này “vui vẻ nhận lời” đeo chơi! May cho ông này. Nếu ai đó choàng vào cổ ông “cờ đỏ” là bị “cờ vàng” chụp ngay cái mũ “Việt cộng nằm vùng” ở Vatican chứ chẳng chơi! Nói vây cho vui, đây chỉ là một trò dàn xếp chứ chàng trai này dễ gì tiếp cận được mấy ông giáo hoàng, vì khi phải tiếp xúc với công chúng, họ đều có đám vệ sĩ vây quanh bảo vệ, ngay cả khi ngồi trong xe popemobile chống đạn! Đây chỉ là trò khiêu khích sau chuyến thăm Việt Nam của Vatican có kết quả không ra gì, để nhà nước Việt Nam có phản ứng, rồi có cớ hô hoán đàn áp tôn giáo, nhưng nhà nước nào lại quan tâm đến ba cái chuyện lẻ tẻ, tạp nhạp. Chuyện vĩ mô, vi mô gì gì đó thì đã có chính sách lâu dài, và cái ông Giáo Hoàng kia cũng chẳng là một ai đối với tuyệt đại đa số người dân Việt nam!. Nhưng đối với người công giáo thì lại khác, lời của ông giáo hoàng là lời Chúa, mà ông này thì luôn luôn nghĩ đến mọi cách để phát triển “bầy đàn” vì vậy, khi nói đến chuyện hòa hợp dân tộc và đoàn kết tôn giáo xem như một nỗ lực không có hồi kết .

Người dân cần có quyền hiểu biết những món nợ lịch sử

Ở Việt Nam ngày nay, mọi lãnh vực từ kinh tế đến y tế, giáo dục đang từng bước được xã hội hóa, và kiến thức lịch sử tôn giáo cũng cần được xã hội hóa, nhân dân cần có quyền hiểu biết về mối liên hệ lịch sử của đạo Công giáo với dân tộc Việt Nam, đây là kiến thức và là sự thật lịch sử, nhà nước không nên quá lo sợ việc lạm dụng tự do ngôn luận để “kích động hận thù tôn giáo”, gây chia rẽ làm mất ổn định xã hội v.v.. nói lên sự thật là một cách giáo dục, tạo sức đề kháng cho xã hội đối với những âm mưu dùng một nền văn hóa nô lệ thánh kinh, tiêu thụ và sống nhanh để thay cho nền văn hóa nhân bản dân tộc mà chính nhà nước cũng đang cố gắng bảo tồn, và cũng như để tránh những sự bất ổn xã hội trong tương lai. Nhà nước không thể hô hào “công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” khi mà các thế hệ con em có đạo của của mình được nhồi nhét những điều phản khoa học từ khi còn ở tuổi măng non như giáo lý công giáo dạy: “Nguồn gốc loài người là từ cục đất sét do Chúa nặn nên”!

Đối với tôi, đâu phải tới 30 tháng 4 năm 1975 cờ vàng mới phải cuốn lại và chạy … có cờ! mà trong gần 4 năm là “chuyên viên phụ trợ không hành dưới đất” dưới trướng “cờ vàng”, cộng thêm khoảng một năm rưỡi học ngành điện tử ở Keesler AFB ở Bang MS, Hoa Kỳ, tôi đã nhận thấy có cái gì không rõ ràng trong cuộc chiến này của phía “chính nghĩa quốc gia” mà thực chất chỉ do đám con chiên nắm quyền lực. Nhưng tôi lại không đủ hiểu biết lịch sử để nhận diện ra nó.

Những hình ảnh của “chính nghĩa quốc gia” đầu tiên ám ảnh tôi là hình ảnh của mấy người lính miền bắc và du kích bị bắn chết trong Tết Mậu Thân 68, nằm sắp lớp ở trước Sân Vận Động Qui Nhơn, với hai vành tai bị xẻo mất, không một manh chiếu che phủ, những con nhặng xanh vo ve nơi khóe mũi và miệng, nơi những dòng máu rĩ ra, đã khô và vón cục, lính “cọng hòa” muốn trưng bày “chiến lợi phẩm” cho dân chúng thấy, hầu ngầm răn đe là theo “Việt cộng” chỉ có cái kết cục như vậy. Hình ảnh bất nhẫn đó không sao ra khỏi tâm trí tôi được ngay cả khi chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm..

Hình ảnh một lán trại lắp ghép dã chiến ba, bốn tầng, chia ra từng ô, dài hơn trăm mét, xếp đầy những cỗ quan tài phủ cờ vàng bốc mùi dưới cái nắng cát và gió lào rát mặt cạnh cổng sân bay Phú Bài, Huế..Những người quả phụ ngồi khóc dưới gốc liễu và nguyền rủa chiến tranh, nguyền rủa những người đã đưa chồng con của họ ra mặt trận Quảng Trị vào “mùa hè đỏ lửa” năm 1972..

Rồi đồng bào các vùng chiến trận ở Tam Quan, Bồng Sơn được trực thăng chuyển về sân bay Phù Cát, Bình Định tỵ nạn, nhốn nháo chưởi rủa bọn “Mỹ-ngụy” đã bắn “ca-nông” vào làng, bắt họ tản cư và đốt nhà, họ không biết rằng đang ở trong căn cứ không quân “ngụy” (CC60CT –SĐ6KQ)! Nhưng có thật sự là họ không biết hay không? hay sự căm hờn do nhà cửa, sự nghiệp tan hoang mà họ vượt qua nỗi sợ hãi?

Những hình ảnh trên không phải là cá biệt, nó thể hiện chung những cảm xúc chân thực trong sự đau khổ tận cùng mà người góa phụ thốt lên, của người dân đi tản cư mất nhà mà nguyền rủa, cách đối xử với người lính chết trận của một chế độ tự nhận là chính nghĩa quốc gia.

Chính nghĩa hay “lòng tham”?

Từng có chiến tranh vùng vịnh từ 1980-1988 giữa Iran và Irak của các nước Hồi giáo. Cùng một khối xã hội chủ nghĩa: chiến tranh biên giới Trung – Xô năm 1969, chiến tranh biên giới tây nam, Khmer đỏ tràn qua “cáp duồng” người Việt, Trung quốc đòi “dạy” Việt Nam một bài học năm 1979, Tư bản: Vương Quốc Anh đánh Argentina vì quần đảo falkland năm 1982, hiện nay thì có Thái Lan và Campuchia chĩa súng vào nhau vì cái đền Preah Vihear, cùng khối Asian, Nhật với Nam Hàn vì quần đảo Dokdo (tiếng Hàn Quốc) hay Takeshima (tiếng Nhật) mà dàn quân “ tập trận” và giờ là các nước cộng hòa thuộc Liên bang Xô Viết cũ: Nam Ossetia và Gruzia. Suy cho cùng thì chỉ có chủ nghĩa dân tộc, vì quyền lợi quốc gia và đều xuất phát từ lòng tham, sự thù hận và si mê tăm tối.

Không thể trốn tránh lịch sử

Còn các ông bà, con chiên suy tôn cờ vàng “càng vờ” như thể “cờ vàng” chưa chết chỉ là trốn tránh một sự thật lịch sử. Những thế hệ kế tiếp của những người tôn vinh cờ vàng sẽ xếp xó chúng như những di vật riêng của cha ông họ, và chắc chắn rồi sẽ bị quên lãng, làm sao “căm thù” được cái “hận thù” mà người khác trao truyền cứ y như là truyện kiếm hiệp? họ đâu có những trải nghiệm, những va chạm thực tế, mất mát để căm thù. Họ là công dân của đất nước họ đang sống, họ sẽ phải học lịch sử của cái đất nước này và lịch sử thế giới, và họ sẽ biết sự thật về cuộc chiến Việt Nam. Rồi sẽ có lúc những người con cháu này quay lại và chất vấn chính cha ông của họ rằng tại sao cha ông họ lại giải thích về cuộc chiến khác với sự thật của lịch sử, nay lại còn xúi dục đám con trẻ lên ba, lên năm cầm những lá cờ vàng đi biểu tình, tạo nên một thế hệ chống tổ quốc mới, một thế hệ nối tiếp như Thị Nở nghĩ đến cái lò gạch cũ bỏ không khi Chí Phèo đã chết trong truyện ngắn của nhà văn Nam Cao!

SG. 8/2008
Nguyễn Trí Cảm

Theo: Sachhiem

Categories: Dân cờ vàng | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Không thể gọi ngày đó là ngày “Quốc hận”

30-4-2014, lần thứ 39 toàn dân tộc Việt Nam kỷ niệm ngày non sông thu về một mối, đất nước hoàn toàn sạch bóng quân xâm lược, trong niềm vui chung của cả dân tộc vẫn còn một bộ phận không nhỏ người Việt hải ngoại vẫn gặm nhấm cái gọi là nỗi đau “mất nước” và gọi ngày vui đó là ngày “quốc hận”!? Họ không tiêu hoá nổi cái cục “ấm ức” vì bị bỏ rơi một cách được gọi là “tức tưởi”!? và những năm tiếp theo sau khi định cư ở nước ngoài đến cái ngày gọi là “quốc hận” họ đã làm gì? Vẫn bài diễn cũ rích đó là: khoác bộ quân phục, cờ xí vàng rực, hát quốc ca, đọc diễn văn ai oán, chửi rủa những người CSVN đã “cưỡng chiếm” cái quốc gia VNCH? theo họ thì kỷ niệm những ngày “tan hàng chứ không phải “đầu hàng” ngày đau buồn ai oán này chắc sẽ không buông tha họ những tháng năm kế tiếp nếu họ vẫn giữ nguyên nếp nghĩ trong não bộ già cỗi này. Đây cũng là một hiện tượng đặc biệt của một số người trong một cộng đồng đặc biệt, với hiện tượng như vậy cho chúng ta thấy rằng: không một dân tộc nào trên thế giới lại cố gắng kéo dài một “kỷ niệm” thất bại dai dẳng như vậy. Chắc có lẽ sẽ có một lúc nào đó các nhà tâm lý học sẽ có những công trình nghiên cứu về bệnh lý này cho nhóm người mang tư tưởng chống cộng cực đoan ở hải ngoại. Người Mỹ họ có nói “hội chứng hội chứng Việt Nam” của binh sĩ Mỹ sau chiến tranh. Vậy chúng ta cũng bắt chước người Mỹ gọi là “hội chứng tan hàng” khi bỏ chạy thục mạng thoát thân vượt khỏi lãnh thổ mà họ gọi là tổ quốc.

30-4-1975 là thời điểm đánh dấu một mốc son chói lọi của dân tộc Việt Nam, với sự tấn công như vũ bão của các lực lượng vũ trang cách mạng đã làm cho một đội quân đánh thuê tan rã quá nhanh.Trước đó một tháng, không ai tin rằng với một lực lượng quân sự hơn một triệu rưỡi người được trang bị đầy đủ lại có thể tan rã nhanh chóng đến thế. Chính vì bị “choáng” nên đã làm cho não bộ của những người này có những triệu chứng của dấu hiệu rối loạn tâm thần.Trong lịch sử nhân loại nhiều khi kẻ chiến thắng tỏ ra rất tôn trọng kẻ bại trận nhưng đó là những đội quân hoàn toàn khác với đội quân VNCH này. Khi hai kẻ trượng phu, kẻ thắng thường kính trọng những kẻ bại trượng phu, và đã là trượng phu với nhau thì không có ai thắng ai bại trên lĩnh vực khí phách. Cũng trong tinh thần trượng phu ấy, kẻ thắng thường biết hạ mình. Hạ mình để được người. Đó là vương đạo, như cuộc nội chiến của Mỹ là một ví dụ. Hoặc tỷ như Tưởng giới Thạch sau khi đại bại ở Trung Hoa lục địa rút toàn bộ quân đội ra chiếm cứ Đài Bắc và xây dựng một quốc gia cho chính thể đó và tồn tại cho đến ngày hôm nay. Tưởng tướng quân và các tướng tá, quan chức đâu có đạp lên đầu dân mà chạy tuốt tuột qua nước ngoài để bảo toàn mạng sống như các ngài lãnh đạo quốc gia VNCH ? Bởi vậy nên cái gọi là phải “tôn trọng” xin các ngài hãy có một chút liêm xỉ làm người thì làm ơn cất kỹ giùm cho.

Kẻ tiểu nhân này hở miệng là ngậm máu phun người, mới ngày hôm qua đây thôi khi nghe được lệnh ân xá để được trở về đoàn tụ với gia đình và một số sau đó được đi tái định cư ở các nước họ đã cảm ơn người chiến thắng rối rít, bằng chứng giấy trắng mực đen rành rành vậy mà khi qua Mỹ thì rút ván ngay, trâng tráo vu cáo đủ điều, những con người bội tín đó làm sao mà có nhân cách làm người ? Người thắng trận kêu gọi hoà hợp dân tộc xoá bỏ hận thù, vì lợi ích dân tộc là trên hết thì những kẻ tiểu nhân vẫn ôm mối hận thù, họ tự cho mình cái quyền “định đoạt” rởm đời này. các vị cũng thừa hiểu rằng sự nghiệp chống cộng tại hải ngoại giống như “dã tràng se cát”, chỉ vì thoả mãn tự ái cá nhân, tự sướng trong ảo giác chứ không phải vì lợi ích dân tộc, sự ích kỷ hận thù phi lý đã đưa dẫn những kẻ chống cộng cực đoan đến những hành động bất ngờ tận cùng của sự quái đản. Với bản chất nô lệ thường trực trong não bộ, họ luôn lấy tư duy về xã hội của BU (Mỹ) làm “khuôn vàng thước ngọc”, rình rập tổ quốc, tâu bẩm với ngoại bang tìm cách phá hoại công cuộc xây dựng đất nước, khắc phục những hậu quả chiến tranh còn kéo dài đến ngày hôm nay. Chống phá đất nước bằng mọi hình thức trong cả một quá trình dài. Trong thời gian gần đây các nước phương tây mà đặc biệt là Mỹ, họ dùng chiêu bài diễn biến hoà bình để kích động bạo loạn lật đổ những quốc gia nào không nằm trong quỹ đạo điều khiển của họ. Các vị chống cộng cực đoan “tiếp nhận” ngay sách lược đó và áp dụng vào công cuộc chống phá Việt Nam.

Họ luôn miệng nói rằng cộng sản chủ trương một đảng, rất độc tài. Họ muốn xã hội phải đa đảng đa nguyên để có sự cạnh tranh “tự do” hơn!? nhưng mục đích chính của họ là để trong cái hỗn mang ấy họ lập ra các đảng ma trơi chen chân vào. Họ có biết một đất nước mà dân trí còn thấp, nhận thức xã hội chưa đồng đều trong các tầng lớp dân chúng thì với đa đảng suốt ngày rình rập đấu đá nhau, chia rẽ khối đoàn kết trong giới lãnh đạo đất nước thì tai hoạ khôn lường cho nền an ninh của đất nước, đương nhiên kẻ thù truyền kiệp của dân tộc VN có bỏ qua cơ hội đó không? họ sẽ lợi dụng để mua chuộc, phân hoá thì đương nhiên chính thể đó sẽ bị ngoại bang thao túng và trở thành chư hầu và sự độc lập tự quyết tan theo mây gió. Sự độc đảng cũng có mặt trái của nó nếu người đứng đầu tổ chức đó không đặt lợi ích dân tộc, lợi ích nhân dân lên hành đầu thì đương nhiên nó cần được loại trừ, người dân sẽ làm điều đó nếu họ cảm thấy cần thiết, quyền tối thượng là nhân dân chứ không phải bất cứ tổ chức vong bản của các ngài chống cộng mộng mơ. Bài học này chính các vị hiểu hơn ai hết mới đúng chứ? đã ôm chân hai đế quốc mới đây, nỗi “ấm ức” còn nghẹn nơi cuống họng vậy mà đã quên rồi sao? chắc não trạng các vị có vấn đề?, có biết hệ thống luật pháp của BU (Mỹ) chặt chẽ thế nào không? chỉ có hai đảng thay nhau cầm trịch lãnh đạo đất nước, tuy hai mà một đấy xin thưa các vị mộng mơ ạ. Quyền lợi BU là trên hết, đụng đến quyền lực và lợi ích của BU thì bị trừng phạt ngay. Điều này cũng tương tự các quốc gia phát triển khác, đa đảng nhưng có một đảng làm “đại ca” điều khiển để tạo nên sự nhất quán trong điều hành đất nước. Điều này các vị không thể cãi được.

Các ngài CCCĐ có hiểu rằng BU(Mỹ) dùng chiêu bài đấu tranh cho “dân chủ, nhân quyền” để lôi kéo lực lượng chống lại nhà nước nào cứng đầu không chịu lệ thuộc vào BU, còn nghe lời và ngoan ngoãn cỡ nào BU cũng chiều, dù cho chế độ đó có thối nát cỡ nào. Vậy mà các vị vẫn lú lẫn, u mê vẫn tin và làm theo lời BU, rằng nếu BU giúp sẽ lật đổ được chính thể cầm quyền hiện tại ở Việt Nam, để cho các vị về “tiếp quản” đất nước. Lòng yêu nước của các vị là như vậy đó. Bản chất cõng rắn cắn gà nhà đã thấm sâu vào xương cốt. Các vị có hiểu dân chủ là gì không? hay là cứ thấy người ta nói rồi bắt chước như con vẹt ? bài học nhãn tiền trước mắt mà các vị không hiểu được trong suốt 39 năm qua chỉ có mỗi một việc là đoàn kết, chịu sự lãnh đạo của một tổ chức có năng lực để chống cộng mà không bao giờ các vị làm được, chín người mười ý, chống nhau, cãi nhau, xỉ vả, hạ nhục, vu khống, chụp mũ .v.v…, cuối cùng là tan đàn xẻ nghé. Vậy mạnh ai người đó đứng ra lập hội, như đám phường chèo mà có những câu chuyện cười ra nước mắt của các vị CCCĐ này. Dân chủ là một khái niệm rất giản dị mà không hiểu sao các vị cứ làm như đó là một điều cao siêu, bí hiểm. Xin thưa dân chủ chỉ là một khái niệm tương đối, trên thực tế làm gì tồn tại, nếu một chính thể, tổ chức nào rập khuôn đúng lý thuyết thì ba lần bảy là hai mốt ngày là “lên đường” cho chính thể khác tiếp quản, phải nắm được quyền lực tối thượng thì mới điều phối được mọi ý kiến tham gia và có quyết định cuối cùng trong điều hành, điều này có đúng không các ngài cccđ ?

Các vị biểu tình chống cộng vì cho rằng ở Việt Nam không có nhân quyền? quan niệm và hiểu như thế nào là nhân quyền? hay chỉ nói cho sướng cái miệng rằng ta cũng thức thời, ta cũng hiểu biết ? Quyền của một con người nó phụ thuộc vào trình độ nhận biết, vào đạo đức, vào trí tuệ của mỗi người, trên đời này làm gì có hai người giống nhau như in, chỉ có nhân bản vô tính giống cừu doli thì có, vậy nhân quyền không phải là sự đồng đều ở mọi người. Con người sinh ra có quyền, sống, mưu cầu hạnh phúc, nhưng sống không được, xâm hại cuộc sống của người khác, xúi dục những kẻ kém trí tuệ phá rối, tuyên truyền chống đối, vu khống, làm nhục truyền thống dân tộc thì phải loại trừ, chính các vị CCCĐ đã và đang vi phạm nhân quyền mà không nhận ra, cái này lại là một cái tát vào mặt các vị rồi đấy. Sống trong xã hội Mỹ, các vị vẫn không đủ trí tuệ (hoặc cố tình lợi dụng) để hiểu được những mặt hạn chế về quyền con người, mỗi một quốc gia phải tuỳ theo hoàn cảnh mà quyền về con người được thực thi theo bước phát triển của quốc gia đó, không phải ở mọi nơi giống hệt nhau, không phải Mỹ phát triển giàu có là mọi cái quyền về con người đều hoàn hảo, bản thân nước Mỹ vẫn còn nhiều bất cập cần phải hiệu chỉnh. Các vị CCCĐ bịt mắt làm ngơ hay thật sự không hiểu? Mỗi một dân tộc tuỳ theo vùng địa lý, truyền thống văn hoá, phong tục tập quán mà xây dựng riêng cho mình một thể chế dân chủ và quyền của công dân của quốc gia đó làm sao cho người dân phát huy hết tiềm năng của mỗi cá thể, nhưng mỗi cá nhân đó phải tuân thủ để phục vụ cái chung chứ không phải tự do chửi bới lãnh đạo đất nước, mạt sát chính quyền mà khối đông dân chúng tín nhiệm bầu ra thì được gọi là tự do ngôn luận hay sao ? Cứ mỗi lần những cá nhân trong nước đi ngược lại tiêu chí trên thì các vị làm ầm ĩ là chính quyền Việt Nam bịt miệng dân, nghe thật lố bịch.

Nhân dân VN không cần cái thứ “dân chủ, nhân quyền” đó, dân tộc Việt được hun đúc 4000 năm văn hiến, bề dày chống ngoại xâm đáng kinh ngạc, dân tộc VN có đủ bản lĩnh, trí tuệ để chọn cho mình một con đường phù hợp trên con đường hoà nhập với dòng tiến bộ của loài người, tuyệt nhiên không bao giờ chấp nhận dưới sự bảo trợ và dạy dỗ của kẻ ngoại bang. Điều này các vị vong bản phải nhớ rõ đừng quên. Sự ưu việt, sự tinh tế mà cha ông đã đúc kết cho con cháu mai sau biết đâu không chừng mẫu hình xã hội Việt Nam sẽ là phiên bản mới cho nhiều quốc gia về tính nhân bản đậm đà bản sắc dân tộc trong cách đối nhân xử thế. Giả thử nếu như trước kia các nhà lãnh đạo VNCH có được nhận thức sâu sắc, biết chăm lo xã tắc lấy quyền lợi dân tộc đặt lên hàng đầu, biết dĩ hoà vi quý thì biết đâu còn có đất dung thân, các vị lãnh đạo đó không có cái đầu khôn ngoan, các vị chỉ nhăm nhe giữ lấy cái ghế quyền lực mà quên rằng muốn cái đó tồn tại thì kèm theo nhiều điều kiện cần và đủ.

Ông Thiệu nhìn không qua được cái mũi của ông ta, không biết thế nào là sự đoàn kết là điều kiện tiên quyết tạo nên sức mạnh. Khi biết chắc thế nào cũng bị BU (Mỹ) bỏ rơi thì hiệp định Paris là cứu cánh cho ông ta lèo lái đưa miền nam vào con đường hoà hợp dân tộc, hoà bình, ông ta nghĩ hoàn toàn ngược lại hoà bình đồng nghĩa với chết, hô hào chiến tranh, tái chiếm lãnh thổ, không chấp nhận hiệp định mà người nuôi cả VNCH là BU (Mỹ) đã đặt bút ký, chính sự dốt nát về chính trị dẫn đến con đường diệt vong của VNCH, Nói tóm lại các nhà lãnh đạo của đệ nhất và đệ nhị VNCH chưa có một cái đầu xứng tầm với trách nhiệm lãnh đạo đất nước, và kết cục bi thảm bỏ chạy trối chết cũng không có gì đáng ngạc nhiên với những người hiểu biết, chỉ có các vị CCCĐ là không biết nên hội chứng “choáng” kéo dài đến năm thứ 39 sau cuộc chiến.

Thất bại của chế độ VNCH là xứng đáng không oan uổng chút nào, các vị phải chấp nhận nó và lịch sử sẽ không bao giờ đảo ngược được. Các vị còn mơ mộng và lú lẫn muốn chế độ chết rục 39 năm sống lại ư ? đây có phải là sự di truyền của một chế độ bảo thủ và không được khôn ngoan như nhiều nhà phân tích chính trị đánh giá. Cái không bình thường trong nếp nghĩ và lối sống của các vị chẳng có gì thay đổi suốt 39 năm qua. Đất nước đang từng ngày thay đổi chỉ có những kẻ xấu lòng mới xuyên tạc và phủ nhận những gì mà chính phủ Việt Nam và toàn dân đã đạt được những thành tựu to lớn đó, sao còn phân biệt ngoài với trong? Sao còn chia năm xẻ bảy hạng người Việt này với hạng người Việt khác? Người Hoa không có biên giới. Người Do Thái không có biên giới. Từ sự không phân biệt đó, hãy suy nghĩ: điều gì đem lại lợi ích cho đất nước, cho dân tộc thì chắc chắn cũng đem lại lợi ích cho những người cùng cội nguồn ở xa xứ. Quyền suy nghĩ và hành động của riêng mỗi người nhưng bắt người khác phải làm theo ý mình bằng những trò trơ trẽn, quái đản chống đất nước như các vị CCCĐ đã làm trong 39 năm qua là trái đạo lý,có bao giờ các “ngài” tự vấn mình là ai chưa?./.

Theo: Amari tx

Categories: Dân cờ vàng | Nhãn: | %(count) bình luận

NGÔN NGỮ CỜ VÀNG

Xichloviet

Các anh cờ vàng luôn lải nhải rằng CSVN là tay sai Tàu cộng, luồn cúi bọn Tàu để giữ đảng, ai cũng thấy rằng đó chỉ là những luận điệu vu vạ tầm thường nhằm phản pháo trả đũa vụng về gỡ gạc cái nhục làm tay sai đế quốc của các anh.

Lịch sử cho thấy đâu có ai vu oan cho các anh, các anh làm là tay sai, làm lính đánh thuê cho đế quốc là thực tế quá rõ ràng không cần bàn cãi vì chẳng có ai chụp cái mũ lên đầu các anh mà chính các tướng lãnh cao cấp của các anh và ngay cả tổng thống và phó tổng thống các anh đều đã thừa nhận rồi.

Các anh lãnh lương của ai? Tổng thống các anh tuyên bố xanh dờn rằng Bu bóp hầu bao thì không phải đến 3 năm hay ba tháng mà chỉ cần 3 ngày là ông ta tẩu khỏi đinh Độc lập. Các anh nghĩ sao? Các anh đánh đấm tùy thuộc vào cái hầu bao của Bu thì không gọi là đánh thuê thì gọi là cái gì đây? Bu các anh cũng thừa nhận rồi, ai cũng biết rồi chỉ có các anh bịt tai bịt mắt cố tình lờ đi mà thôi.

Việc CSVN có làm tay sai cho Tàu hay không thì chẳng bõ công tranh cãi với các anh làm gì, tốt nhất xin mời các anh hãy hỏi BU các anh thì rõ trắng đen ngay. Các anh cứ nhìn Bu các anh đang o bế CSVN như thế nào để các anh mở mắt ra chứ có khó gì đâu. Chỉ riêng việc bắt tay với CSVN để trở thành “quan hệ đối tác toàn diện” thì các anh có dám cho rằng Bu quá ngu bắt tay và hỗ trợ với thằng tay sai Tàu cộng không? Hai mươi tỷ đô la BU trao đổi thương mại với VN và còn tăng lên nữa, làm lợi cho CS đến thế lại là thằng CS tay sai Tàu thì các anh nghĩ sao đây? Bu ngu hay các anh ngu?

Trong khi đa số dân Mỹ được hỏi trả lời rằng kẻ thù số 1 của Mỹ không phải là Iran không Phải là Bắc Hàn mà chính là Tàu thì chính phủ Mỹ ăn nói làm sao khi bắt tay thân thiết với thằng tay sai Tàu? Quả là ngu và liều thật các anh nhỉ.!

Các anh tố cộng cho nó bõ ghét, chửi cho sướng mồm thôi chứ các anh bới gần bốn chục năm rồi cũng chẳng tìm đâu ra được cái lý để thuyết phục người dân tin theo các anh.

Thế nhưng nếu người ta bảo chính các anh mới là những kẻ ái mộ Tàu thì sao nhỉ? Chắc chắn các sẽ nhảy dựng lên mà phản đối rồi. Khoan nói đến chuyện các anh mừng húm hả hê khi Tàu nó đánh VN năm 79 và lập đàn cầu cho nó đánh chiếm Hà Nội vì điều đó chưa cho thấy rõ là các anh khoái Tàu. Trước năm 75, ở ngay thủ đô các anh, các anh đã giang rộng vòng tay ưu ái cho Tàu nó chiếm gọn 90% xuất nhập cảng, 80% bán buôn và 50% bán lẻ, ưu ái để cho Tàu nó nắm gọn trong tay nền kinh tế, thao túng lũng đoạn hoàn toàn thị trường, làm chủ giá cả, thì rõ là các anh thương nó quá rồi còn gì.

Cũng chính vì quá ái mộ Tàu nên các anh bị Tàu hóa rất nặng nề thể hiện rõ nhất trong ngôn ngữ các anh dùng mà tôi xin được gọi là ngôn ngữ cờ vàng. Anh cờ vàng nào cũng ra sức chêm vào những bài viết hay những câu nói của mình từ ngũ Hán Việt càng nhiều càng tốt, càng khó hiểu càng tốt, như thế các anh mới cho là có học, là sang, là trí thức, không gọi các anh quá ái mộ Tàu là gì? Tiếng mẹ đẻ có sẵn các anh không dùng các anh dùng cái tiếng lai căng Tàu phù mà các anh cứ ngoác mồm ra chửi CS các anh tưởng mọi người mù hết rồi sao?

Bỏ chạy thì các anh giọi là giải tán nhiệm sở tác chiến

Vũ khí hư hại các anh nói nó bất khiển dụng

Tuột quần tháo chạy các anh nói hành quân triệt thoái

Tụ tập nhau lại để chạy các anh gọi là tái phối trí lực lượng

Bỏ chạy mất hết súng ống các anh gọi là tản thất quân dụng

Súng bắn không nổ các anh gọi là trở ngại tác xạ

Người ta đặt tên cho tờ báo trùng với một cái tên ờ vàng các anh bảo tiếm danh

Nhà máy nước các anh gọi là Saigon thủy cục

Trường đại học khoa học các anh gọi khoa học đại học đường

Làm cho sáng tỏ thì các anh gọi là bạch hóa

Sao thế nhỉ? Tiếng ta có không xài cứ lấy tiếng lai Tàu phù ra mà khoe lại còn hãnh diện khoác lác nữa thì chống Tàu cái nỗi gì?

Thời gian đầu khi CS tiếp quản Saigon các anh mỉa mai chê người miền Bắc là “lúa” là “rừng” khi gọi thủy quân lục chiến của các anh là lính thủy đánh bộ, gọi trực thăng là máy bay lên thẳng. Người CS họ nói kế hoạch 5 năm chứ không nói “ngũ niên kế họach” như các anh. Họ nói hạm đội số 7 chứ không nói đệ thất hạm đội. Họ nói tòa nhà trắng chứ không nói tòa bạch ốc, họ nói lầu năm góc chứ không nói ngũ giác đài. Họ nói năm thứ hai chứ không nói đệ nhị chu niên.

Các anh chê bai khinh miệt cho rằng người CS đốt nát rừng rú mà không biết rằng họ đang cố gắng Việt hóa tất cả những từ ngữ Hán Việt có thể được, chính họ đang cố thanh lọc những tàn dư văn hóa Tàu bị tiêm nhiễm từ cả ngàn năm, chính họ mới là những người có lòng tự tôn dân tộc, chính họ đang nỗ lực phát huy nền văn hóa bản sắc Việt, sàng lọc những tàn dư phong kiến của Tàu còn sót lại, chính các anh mới là những người vọng ngoại, chính các anh mới ưu ái cái văn hóa Tàu để cho nó ngự trị, lại còn khinh miệt văn hóa Việt. Anh và họ ai là người yêu nước ai là người ái mộ Tàu phù?

Cho đến nay các anh vẫn duy trì ngôn ngữ cờ vàng rất riêng của các anh cho nên nếu đọc một bài viết của các anh sẽ không lẫn vào đâu được, những từ ngữ các anh dùng đặc sệt Tàu phù thế mà các anh cứ lên giọng dạy đời chống Tàu cứu nước, thối không chịu được.

Có thể nói cộng đồng cờ vàng của các anh đã hình thành một loại văn hóa cờ vàng rất đăc trưng, mà các anh cờ vàng vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của văn hóa đó. Vì thế cho nên các anh nói láo y như nhau, bịp bợm giống hệt nhau và thô lỗ chẳng khác gì nhau.

Cờ vàng luôn xem mình là một “thế lực” đối trọng với CS. Cái “lực” ấy chỉ là món võ nói láo và chửi. Thoạt đầu khi truyền thông còn hạn chế thì nó cũng gây được hiệu ứng nhưng dần dà nó trở nên quá hài hước và trẻ con đến nỗi trên các diễn đàn nhiều người cố chọc cho cờ vàng chửi để nghe chơi cho vui. Thưở niên thiếu dường như nhiều người còn nhớ đến thú vui chọc chó cho nó sủa, nó không sủa thì lấy đá ném nó, chủ nó ra thì bỏ chạy, chọc cho nó không còn sủa được mới thôi, nghiệm lại sao nó giống với hoàn cảnh cờ vàng ngày nay trên các diễn đàn quá xá.

Dưới đây tôi xin mời quý độc giả bỏ chút thời giờ tham dự một buổi họp cờ vàng để thấy cái ngôn ngữ cờ vàng nó đặc sệt mùi xì dầu như thế nào. Những từ tô đậm là ngôn ngữ đặc sệt Tàu phù họ thường xuyên sử dụng hoặc là ngôn ngữ đặc sản cờ vàng. Nếu quý vị chép những từ ngữ này để tìm kiếm trên google thì tôi bảo đảm rằng nó sẽ dẫn quý vị đến đúng ngay môt ổ cờ vàng thứ thiệt bởi vì chỉ có cờ vàng mới dùng đến nó.

Một ngày tháng tư, tại một hội trường ở “thủ đô tị nạn” người ta thấy cờ vàng treo rợp từ ngoài đường vào trong, cờ nhiều hơn người, người hiếu kỳ mới sực nhớ ra rằng thì ra các cụ lại sắp kỷ niệm “tháng tư đen”.

Đã từ rất lâu lá cờ vàng gắn liền với những sự kiện của cộng đồng những người chống cộng ở hải ngoại. Bất cứ cuộc tụ tập nào đều phải cắm lá cờ này, đó là một thứ luật bất thành văn để xác định lập trường chống cộng và xác định “lằn ranh quốc cộng” của những người tham dự. Lá cờ vàng là biểu tượng không thể thiếu của băng nhóm họ. Dù bản chất của lá cờ vàng chỉ là biểu tượng của một hội đoàn hay một câu lạc bộ, không khác gì những hội, câu lạc bộ chơi chó chơi chim, nhưng điều rất khác biệt ở đây là nó được “chào” và “mặc niệm”.

Để giải thích cho lý do nó được “chào”, họ gán cho nó cái nhãn hiệu “hồn thiêng sông núi” Bất kỳ cuộc tụ tập nào của họ cũng đều có nó. Họ cắm nó ở bất cứ nơi đâu, sơn nó lên xe, vẽ nó lên áo lên mũ, treo nó trên cây… và cho dù nó được cắm ở ven đường, ở khu chợ Tàu hay ở trước tiệm phở họ vẫn nổ rằng hồn thiêng sông núi của họ đang “ngạo nghễ tung bay”.

Không biết họ hiểu như thế nào về ngạo nghễ tung bay nhưng có vẻ họ sướng thật, Thế nên ta có thể hình dung họ tức giận như thế nào khi lá cờ “ngạo nghễ” của họ bị nhân viên bảo vệ của một buổi trình diễn văn nghệ ném vào thùng rác, nhưng đau nhất là nó ngạo nghễ trong cái nhậu rửa chân của báo Người Việt. Thế là họ phản ứng quyết liệt để vớt nó lên, dĩ nhiên chỉ có một chiêu cổ điển là biểu tình, để rồi hôm nay nó lại tiếp tục ngạo nghễ trong cuộc họp cờ vàng

Trong hội trường các cụ đang bắt tay nhau hỏi han tíu tít, cụ thì khoe thằng cháu mới đõ đại học, cụ thì khoe đứa con dâu có chửa sắp đẻ cho cụ thằng cháu trai, cụ thì khoe con chó cái chihuahua đang rượng đực, những câu chuyện quá tương phản với bộ quần áo lính si đa thẳng nếp, lủng lẳng các huy chương mà các cụ đang mặc trên người.

Ở cuối phòng, vài cụ đang đỏ mặt tía tai lớn tiếng phản đối về việc ban tổ chức để cho mấy thằng việt gian vào phòng với điệu bộ hung hăng như muốn ăn tươi nuốt sống đối thủ để rồi sau đó móc túi lấy ra ực vài viên thuốc.

Góc phòng họp một phụ nữ khoảng 6 bó đang vung tay tố cộng, tố khổ Việt gian sùi bọt mép làm cho nàng đã xấu lại còn xấu thêm.

Gần bón chục năm rồi, dù cho các cuộc tụ tập cờ vàng bàn bạc bất cứ đề tài gì người ta cũng vẫn đoán ra được kết luận rằng “cộng sản vẫn còn ta chưa chết” và nhiệm vụ sắp tới là tiếp tục đấu tranh “giải thể CS” Chỉ có thế.

Có tiếng micro gõ lộp bộp tiếp theo là một tiếng tằng hắng rõ to. Người ta có thể nghe rõ tiếng rè của đờm trong họng một cụ ông rồi có tiếng người cất lên :

Kính thưa các bậc trưởng thượng

Kính thưa quý huynh trưởng

Kính thưa quý đồng hương

Kính thưa các vị thức giả

Kính thưa các vị trong hội đồng liên tôn

Tôi là một sĩ quan không trợ biệt phái của quân lực VNCH, anh dũng bội tinh với nhành dương liễu . Cũng như quý vị ở đây, chúng ta chưa hề có lệnh giải ngũ, tôi cũng vậy, cho nên chúng ta vẫn là quân nhân của quân lực VNCH (vỗ tay)

Sắp đến ngày quốc hận, hôm nay gặp mặt nơi này chúng ta cùng ôn lại những tháng năm lịch sử và củng cố tinh thần quốc gia chống cộng. Tôi xin thay mặt các chiến hữu để điều hợp cuộc hội thảo về đề tài “Những phương thúc giải thể cộng sản ở VN trong tình hình mới” xin mạo muội đạo đạt đến các bậc trưởng thượng quý huynh trưởng và đồng hương những ý kiến mong được quý vị nhiệt thành đóng góp để chúng tôi được lãm tường.

Nhớ lại từ những tháng năm chúng ta phải giải tán nhiệm sở tác chiến, rút lui trong danh dự để bảo toàn quân số đến nay đã gần bốn chục năm. Quân lực của chúng ta là quân lực hùng mạnh hạng tư thế giới tuy nhiên chúng ta không giữ được đất nước không phải vì chúng ta hèn nhát, không phải chúng ta bất tài mà chính là bởi sự phản bội của đồng minh chúng ta với việc nhẫn tâm cắt viện trợ làm cho những vũ khí của ta trở nên bất khiển dụng dẫn đến những đơn vị của quân lực chúng ta buộc phải giải tán nhiệm sở tác chiến.

Không có quân viện buộc chúng ta phài tái phối trí lực lượng, việc rút lui chiến thuật với quy mô lớn của chúng ta cũng đã làm tản thất quân dụng rất nhiều, đó cũng là lý do chúng ta phải tổn thất dẫn đến Saigon rơi vào tay CS. Chúng ta không có lỗi trong việc làm mất nước, quân đội chúng ta chiến đấu rất anh dũng nhưng bất lực, chúng ta mất nước vì chính đồng minh của chúng ta đã phản bội bỏ rơi chúng ta không làm gì khi CS xé bỏ hiệp định Paris. (vỗ tay)

Việc cộng quân tấn công Ban Mê Thuột là một bất ngờ lớn cho chúng ta khiến chúng ta phải di tản chiến thuật. Tuy nhiên chúng ta cũng đã gây bất ngờ lớn cho chúng đó là chúng ta đã dùng con đường số 7 để … rút chạy khiến cho cộng quân hoang mang phải mất mấy ngày mới phát hiện ra ta thì ta đã cao bay xa chạy rồi, những người bị cộng quân truy kích chỉ toàn là thường dân vô tội. Đường số 7 là con đường bỏ hoang từ thời pháp thuộc, hiểm trở và nhỏ hẹp. Tuy nhiên ta đã đánh lừa được địch bằng cách dùng chính con đường chiến lược này để rút lui chiến thuật khiến địch hoang mang không kịp trở tay. Đây là nghệ thuật quân sự của quân lực VNCH mà ngay cả cố vấn Mỹ cũng nghĩ không ra.

Trên đường di tản chiến thuật quân ta đã có sáng kiến cởi quần áo, vứt đi những gì bất khả dụng để cho gọn nhẹ, giúp chúng ta cơ động trong việc tái phối trí lực lượng. Việc mặc quần tà lỏn hành quân là kế sách dĩ độc trị độc rất sáng tạo của quân lực VNCH. Bọn đặc công CS cũng chỉ mặc trên mình cái quần tà lỏn để xâm nhập đánh phá ta, cho nên chúng không ngờ được rằng ta cũng không hề thua kém, Ta rũ bỏ xiêm y để hành quân tà lỏn. Chiến thuật này đã gây bất ngờ lớn cho đối phương làm đối phương không biết đâu mà lần, không biết đâu là quan là lính không biết đâu là dân là quân nên chúng vô cùng hoang mang.

Trút bỏ quần áo cho gọn nhẹ chỉ giữ lại một thứ khả dụng duy nhất là cái quần tà lỏn là binh pháp đã được áp dụng sáng tạo trong cuộc hành quân tái phối trí lực lượng của quân lực VNCH. Tuy nhiên cái sáng suốt của chúng ta là cho vợcon ta cùng di tản chiến thuật cho nên quân CS không thể lấy vợ con chúng ta làm con tin, không còn biết đâu là dân đâu là lính làm cho tình báo của chúng sa vào mê hồn trận. Đây cũng là sáng tạo của quân lực chúng ta đã được ghi vào quân sử.

Chúng ta những người có mặt hôm nay là những quân nhân quân lực VNCH phục vụ cho chế độ tự do trải qua hai nền đệ nhất và đệ nhị cộng hòa, phục vụ cho một chính thể dân chủ pháp trị có quốc hội lưỡng viện , có tam quyền phân lập, có chính nghĩa quốc gia, để đương đầu với thảm họa CS âm mưu cưỡng chiếm nhuộm đỏ miền Nam. Do đó mục tiêu của chúng ta hôm nay và sau này vẫn là là phục hoạt chính thể quốc gia tiêu diệt CS.

Gần bốn chục năm qua dù mất nước chúng ta vẫn luôn luôn mang bên mình trọng trách “tổ quốc, danh dự, trách nhiệm” và truyền thống huynh đệ chi binh. Là những người quốc gia chân chính không chấp nhận cộng sản, những năm qua chúng ta đã đạt dược những thành quả khích lệ làm cho bọn việt gian nằm vùng, bọn bưng bô, hôn đít bạo quyền phải hoảng sợ và thất điên bát đảo.

Cờ vàng lá cờ của chính nghĩa quốc gia đang ngạo nghễ tung bay khắp nơi trên thế giới nơi có người Việt sinh sống chứng minh rằng người Việt quốc gia chúng ta luôn nuôi ý chí quang phục quê hương, quang phục lá cờ vàng chính nghĩa gầnbốn chục năm qua không hề thay đổi. Chúng ta đã làm đầy đủ trách nhiệm quốc tế vận tố cáo vi phạm nhân quyền ở VN trên các diễn đàn quốc tế làm cho CSVN vô cùng khiếp sợ, không làm gì được chúng ta, để trả đũa chúng đã đàn áp dã man người dân trong nước để trả thù.

Cuộc vận động kiện CSVN ra tòa án quốc tế về những tội ác của chúng được đồng hương nhiệt liệt hưởng ứng , cuộc vận động kiện CSVN xé bỏ hiệp định Paris gây được tiếng vang lớn, cuộc vận động thỉnh nguyện thư được hàng trăm ngàn đồng hương ký tên là cuộc diễn tập lịch sử của chúng ta như một hội nghị Diên Hông thể kỷ 21 chứng tỏ sức mạnh của chính nghĩa quốc gia. Cuộc vận động thỉnh nguyện thư đã di vào lịch sử đấu tranh hào hùng của chúng ta ( vỗ tay)

Thưa quý đồng hương

Thưa quý vị tôn trưởng

CSVN đang giẫy chết, cho nên chúng đang ra sức tiêu diệt phong trào dân chủ trong nước. Biết bao nhiêu nhà dân chủ, blogger, bao nhiêu anh thư đang bị CS giam hãm tù đày, quốc nội đang ngùn ngụt căm hờn, quằn quại trong cái nhà tù vĩ đại, chỉ cần một mồi lửa nhỏ sẽ bùng lên thành ngọn lửa cách mạng lật đổ bè lũ CS mà chính chúng ta là những người có trách nhiệm thắp lên ngọn lủa ấy. ( vỗ tay)

Hơn bao giờ hết , lúc này là lúc chúng ta phải đoàn kết lại để phục hoạt sức mạnh từ tinh thần chống cộng để lật đổ CS, trước hết là vạch mặt bọn Việt Gian bưng bô hôn đít bạo quyền đang nỗ lực đánh phá cộng đồng. Kế đến là tiếp tục vận động đồng hương không gửi tiền về VN không mua hàng VN không du lịch về VN. Nếu chúng ta thực thi những điều thượng dẫn CSVN sẽ mất đi mười hai tỷ đô la kiều hối và chắc chắn rằng chúng sẽ sụp đổ ( vỗ tay)

Sau đây mời quý vị phát biểu ý kiến và chúng tôi cũng thông báo luôn là quý vị hãy bày tỏ tấm lòng ủng hộ chính nghĩa quốc gia bằng cách đóng góp tùy lòng hảo tâm vào quỹ mua cờ để tạo khí thế duyệt binhh nhân dịp ngày quốc hận sắp tới. Tiện đây chúng tôi cũng thông báo là khi tham dự lễ duyệt binh ngày quốc hận các chiến hữu quân lực VNCH cần mặc quân phục chỉnh tề, các binh chủng hải lục không quân liên lạc với binh chủng của mình để được hướng dẫn. Ai có huy chương thì đeo huy chương ai có xe jeep cũ thì ủng hộ, ai có súng nhựa của các cháu thì đóng góp dùng xong các cụ hứa sẽ trả lại các cháu.

Categories: Dân cờ vàng | Nhãn: | %(count) bình luận