Lật đổ chính quyền

Tổng hợp

TRẢI NGHIỆM CỜ VÀNG

Xichloviet

Ở cái tuổi cận kề miệng hố  bố cảm nhận rằng đến lúc cần phải truyền cho con tất cả kinh nghiệm thăng trầm cuộc đời mình để con hiểu hơn về sự nghiệp của bố,  cái sự nghiệp mà khi cuộc đời bố đã tiến  sát gần  đến cái  quan tài mà  nó vẫn còn lởm chởm chông gai và ngổn ngang xà bần : Sự nghiệp cờ vàng.

Lá cờ vàng  của chúng ta xưa nay vẫn luôn luôn là biểu tượng để  tập hợp những nạn nhân cộng sản, những người không chấp nhận CS và chống cộng bằng mọi giá. Cũng không ít người là thành phần bị CS bợp tai đá đít tống khứ sang đây tức quá không biết làm gì bèn quơ lấy lá cờ vàng chửi bới trả đũa. Cũng có những thành phần homeless, chẳng có thâm thù gì, ăn no rửng mỡ, phất lá cờ vàng chống cộng làm vui, đi biểu tình cho nó tiêu mỡ lại được tiếng là đấu tranh, là có lập trường.

Bố đã nhân danh lá cờ này bao năm qua để chống cộng,  để thỏa lòng thù hận, để tồn tại trên cái xứ người này, và để còn được vuốt ve sờ mó mân mê  cái hư danh quá khứ.

Sở dĩ cho đến hôm nay vẫn còn rất nhiều kẻ phất lên lá cờ vàng ba sọc đỏ và hô hào chính nghĩa quốc gia chống lại cộng sản vì lá cờ đó  vẫn còn ép phê trong việc gây dựng phong trào, tập hợp bầy đàn. Bởi vì nó vẫn còn giá trị để móc túi những kẻ hoang tưởng u mê,   bởi vì vẫn còn đó những thành phần cực đoan dốt nát lịch sử, không biết cội nguồn cuộc chiến phi nghĩa và còn mơ mộng với ảo tưởng còn cơ hội lật đổ cộng sản. Những thành phần này thiếu đầu óc  nhưng thừa lòng thù hận. Không có bọn này thì lá cờ đã được ngủ yên.

Từ lâu bố đã nhận ra rằng một bộ phận trong cộng đồng người Việt hải ngoại, thành phần hưởng lợi từ cuộc chiến,  xem tư tưởng chống cộng như một sự khẳng định mình, như một món trang sức cho cái nhãn hiệu tị nạn.  Tư tưởng chống cộng phải được xem như một lập trường kiên định hàng đầu, bấu víu vào nó để  tự đánh lừa  mình, để có cảm giác rằng ta đây  đang ở một chiến tuyến khác ngang cơ với cộng sản, quên đi nỗi ô nhục thất trận, quên đi nỗi uất nghẹn bị Mỹ chơi xỏ bỏ rơi không thương tiếc.  Họ rất yếu kém  trong tư duy chính trị, rất nhút nhát và chỉ to mồm dựa vào hội chứng bầy đàn.  Họ chửi rất hăng,  quần tụ được nhiều nhưng cũng chỉ là một bầy đàn ô hợp. Họ hô hào và ứng xử theo đám đông một cách máy móc không suy xét, họ bị cuốn theo đám đông và rất dễ trở thành quá khích, cũng chính vì họ quá cay cú CS,  chỉ chờ có cơ hội để trút bớt lòng hận thù cho được nhẹ nhõm. Cái nỗi niềm  cay cú mà gần bốn chục  năm rồi  nó vẫn chưa có liều thuốc nào có thể tiêu hóa nổi.

Thất bại ô nhục năm 1975 mất hết danh vọng tiền bạc và bị CS nó bắt cuốc đất  trong các trại cải tạo làm họ căm thù CS vô cùng. Qua được bên Mỹ họ dần hoàn hồn, mặt bắt đầu  có máu, lá gan bắt đầu hồi sinh trở lại và nhận ra rằng Mỹ có môi trường tự do để họ trút giận, xả xú bắp lòng hận thù.Thế là họ tập họp nhau lại như ngưu tầm ngưu mã tầm mã để tố cộng và biểu tình. Cội rễ mọi hành động của họ đều xuất phát từ mối thù CS năm xưa đã tước đoạt của họ tất cả những quyền lợi, những ân  ân sủng do đế quốc ban cho.

Những năm đầu tị nạn họ vẫn còn hăng tiết vịt, hăng tiết vịt cộng với cái ngu dốt làm cho họ hoang tưởng trầm trọng. Một số quá khích  được các chiến hữu bốc lên mây khoái chí manh động mộng thành người hùng, hoang tưởng là Mỹ nó ủng hộ vì Mỹ cũng là kẻ chiến bại dưới tay CSVN, định  vác lá cờ vàng về VN kiếm ăn như những tên Mai văn Hạnh  Hoàng Cơ Minh …đã phải trả giá thê thảm. Chưa hết , Võ Văn Đức háo danh định chơi nổi âm mưu đánh bom đại sứ quán VN tại Thái. Không những Mỹ nó không bênh mà còn “ khuyến mãi  “ cho 6 cuốn lịch rồi tống cổ sang Thái xử tiếp. Tòa Thái cũng nhiệt tình đóng góp ủng hộ thêm 12 cuốn lịch nữa để có thêm thời gian gậm nhấm mộng cờ vàng.

Họ ngu  đến độ phải mất mấy chục năm họ mới nhận ra được rằng dù Mỹ thua trong cuộc chiến, CSVN  không còn là kẻ thù của  Mỹ nữa mà còn  là bạn, là đối tác hợp tác phát triển. Cả thế giới  đang bang giao và làm ăn với VN một cách hòa bình không có khe cửa hẹp nào để lá cờ vàng chui  vào  để hy vọng có được một chút  chú ý  của quốc tế.

Thế là những con người ấu trĩ này chỉ còn cách cố bấu víu lấy nhau, bấu víu lá cờ vàng để động viên an ủi  nhau, để làm cái phao, cái điểm tựa cuối cùng chống lại cộng sản, chỉ vì lý do duy nhất họ quá cay cú căm thù cộng sản.  Tuy nhiên hành động của họ càng ngày càng thêm  lố bịch nhố nhăng dẫn đến việc làm mất niềm tin trong giới trẻ,  làm ô uế lá cờ vàng. Chính vì vậy mới có chuyên  một họa sĩ trẻ con cháu cờ vàng vô tư cho lá cờ vàng trôi tuột  vào  tận cái chậu  rửa chân trong một tác phẩm hội họa làm họ cứ như lọan cả lên.

Thế hệ cờ vàng thứ nhất hầu hết đều ăn bám xã hội Mỹ cho nên rất rảnh rỗi để đàn đúm nhau mà đề tài chống cộng vẫn luôn là đề tài hấp dẫn họ.  Nói là chống cộng cho oai chứ thất ra họ biết chẳng thể nào chống được mà chửi cộng mới là đề tài chính. Mấy chục năm qua là thời gian bùng nổ những từ ngữ chửi rất phong phú trong thế giới cờ vàng. Chống cộng không thể không nói đến biểu tình. Nhưng biểu tình với đối tượng nào đây ? Không thấy CS đâu cả họ phải tìm ai đó chụp lên đầu cái nón cối để có cớ mà biểu  tình hâm nóng tinh thần cờ vàng.

Những hình ảnh các con thấy bề ngoài của các  cuộc biểu tình chỉ là bề nổi, hình ảnh dễ thấy nhất là thi nhau hò hét tưởng chừng như ăn tươi nuốt sống đối thủ nhưng chỉ là những vở diễn thôi con ạ. Mặt trái của những cuộc biểu tình mới là động cơ khiến họ tụ tập nhau đó  là lý do thích đàn đúm ham vui. Những dịp này người ta được dịp gặp nhau nói năng thả cửa vì  toàn là đồng hương tha hồ trao đổi tâm sự mọi thứ trên đời bằng tiếng Việt, xả stress những ngày xung quanh toàn mắt xanh mũi lõ chỉ biết nói chuyện bằng tay. Đây là dịp để họ khoe con khoe cháu, hỏi  thăm nhau về thuốc men bệnh tật hỏi han nhau con chó đã động đực chưa. Liền sau đó họ hô đả đảo theo tiếng hô bầy đàn mà chẳng biết đả đảo cái gì.

CS nó có nhiều cái quá giỏi nhưng bố chẳng thể khen chúng được mà ngược lại phải tìm cách để chê, phải bới móc ra cho đuợc cái yếu kém cái khuyết tật của nó để sỉ vả nguyền rủa nó cho nó sướng cái lỗ tai cho nó oai  cái lỗ mồm, cứ gặp  nhau là vạch lá tìm sâu để tố khổ nó để hài tội nó để gật gù với nhau mà  hả hê cái bụng. Thế nhưng mỗi bước đi lên,  mỗi thành công của CS lại là mỗi cú bạt tai  đau điếng mà bố từng phải  hứng chịu.  Mỗi sáng thức dậy, xem tin tức về VN bố lại phải điểm tâm  thêm vài ba cú bạt tai, tráng miệng bằng vài cú đá đít, vài cú hồi mã thương, vài cú bạt rờ que, vài cú đấm  đau nhói tâm can.

Con hãy nhìn xem, những cuộc biểu tình ô hợp chỉ toàn dân ăn không ngồi rồi không việc làm, thiếu kiến thức, nhưng thừa mứa thời gian, toàn là dân già háp khú đế ăn bám xã hội,  lê chân không vững, nhưng cái mồm còn ngoác ra to khỏe vô cùng, và vẫn còn tác dụng khủng bố lợi hại. Mọi thứ đã xuống cấp nhưng cái mồm thì không. Vẫn còn phun được nước thối vẫn chửi vung xích chó, vẫn chụp mũ vẫn lươn lẹo điêu ngoa vẫn lừa bịp xảo trá. Mấy chục năm qua họ đã phát triển trình độ chửi nhau thượng thừa, sáng tác ra đủ ngôn từ hình tượng nhất.

Họ lấy biểu tình làm vui, làm  nơi đàn đúm tán gẫu truyền lửa cho nhau chống cộng. Họ hè nhau nói xấu xuyên tạc CSVN,  cùng nhau gật gù tán đồng nhưng trong bụng họ biết rõ là đang tự lừa dối mình. Họ không dám nói điều gì tốt về CS, họ sợ chính những người cùng hội cùng thuyền với mình tẩy chay và khủng bố. Về VN họ thấy quá nhiều đổi thay diệu kỳ, cuộc sống đang đi lên mạnh mẽ từng ngày,  nhưng họ chẳng dám nói thật với nhau một lời ngợi khen đất nước, sợ bị cho rằng tuyên truyền cho CS.

Cứ như thế gần bốn chục năm rồi vẫn cái trò  bưng tai bịt mắt nhau không có gì thay đổi. Vũ khí của họ chống cộng mấy chục năm cũng vẫn  chẳng có gì ngoài  cái mồm và cái que cờ vàng hết đát.

Để vực dậy tinh thần cho nhau.lâu lâu  họ hè nhau  lủ khủ quần áo rằn ri,  mũ nồi giày bốt,  vài cây súng nhựa trẻ con,  khoác vào chỉ để qua đi lại, đi tới đi lui, đi vòng vòng  ở một góc phố gọi là diễu hành. Khi súng thật có trong tay thì họ  bỏ chạy  vứt bố cả súng, quẳng cả ba lô giày dép, qua đây họ chơi súng nhựa đồ si đa  đeo vào để chụp hình quay phim để mà lấy khí thế chống cộng. Họ tự biên tự diễn những tiểu phẩm hài nhố nhăng trên đường phố một cách vô tư, cũng diễn văn, cũng dậm chân chào nhau, cũng quốc ca quốc kỳ .  Như thế họ ôn lại những năm tháng họ cho là hào hùng và cố quên đi nỗi ám ảnh những tháng ngày phải tuột quần vứt dép  chạy như một bầy vịt.

Tuy họ mặc vào bộ quần áo lính si đa đeo cây súng nhựa nhưng có vẻ như họ rất hãnh diện. Hình như cây súng nhựa cũng phần nào củng cố làm ấm cho lá gan của họ, và cũng không ít  kẻ nghĩ rằng bên kia đại dương, bọn CSVN đang nhìn họ với cặp mắt kiêng nể  dè chừng,  và họ tin rằng cuộc biểu dương đi tới đi lui  là bức thông điệp gửi CSVN  nhắc nhở cho bọn CSVN biết rằng cái quân đội cộng hòa vẫn còn đây , tuy không uýnh lại tụi  mày nhưng vẫn còn dư sức đi tới đi lui khiêu khích chọc quê chúng mày cho bõ ghét. Thế rồi họ ru ngủ nhau tâng bốc nhau, xưng tụng nhau rồi cùng nhau hội họp phán  đoán xem …. ngày cộng sản nó quy tiên  như thế nào.

Cao điểm của sự nhố nhăng là họ hí hửng mừng rỡ tung hô một thằng con nít tự xưng là tướng Hải Quân Hoa kỳ gốc cờ vàng. Một tướng lãnh Hoa Kỳ oai như thế đứng trước họ mà vẫn lễ phép xưng hô con cháu với họ thì không phồng mũi sướng đê mê sao được. Hơn nữa tướng này lại là con cháu giòng dõi cờ vàng nữa  thì quả là niềm hãnh diện lớn lao. Cứ thế cả bầy cờ vàng già đầu bị thằng con nít nó làm xiếc, nó quay mòng mòng  như dế, nó cho vào tròng dễ như móc đồ trong túi.  Thế mà họ vẫn  phồng mũi tự hào, họ xun xoe chào đón nâng bi  nó, họ đê mê hoan hỉ với những lời hứa của thằng bịp,  lòng họ lại dâng trào niềm kiêu hãnh hão huyền và dâng trào niềm tin phục quốc. Cái lòng cay cú  hận thù làm họ u mê như thế đấy. Còn có gì để nói hay không.

Họ luôn luôn thủ sẵn những cái nón cối lợi hại để sẵn sàng chụp lên đầu kẻ nào họ không ưa, Bóng ma CS còn lởn vởn ám ảnh họ đến nỗi họ nhìn đâu cũng thấy CS.  Thế là họ thi nhau chụp nón cối cho nhau xem như hành động “ tiên hạ thủ vi cường “ thà bắn lầm còn hơn bỏ sót .

Nhưng họ lại cực kỳ sợ hãi ảnh hưởng của cộng sản. Họ sợ vu vơ, tự kỷ ám thị, thậm chí đến cái ngày sinh của lãnh tụ CS VN họ cũng sợ nốt, họ chống đối một show diễn ca nhạc cũng chỉ vì nó được trình  diễn vào ngày  19/5, ngày ông Hồ chí Minh ra đời. Họ hăm dọa nhà hàng tổ chức tiệc sinh nhật của một nhà báo chỉ vì nó được tổ chức đúng vào ngày 19.5.

Cái mà họ sợ nhất là những cơ quan truyền thông quốc tế và hải ngoại đưa tin ca tụng thành công của CS. Họ cũng lo sợ ngày nào đó truyền thông CS tràn sang Mỹ sẽ bẻ gãy luận điệu bịp bợm của họ và nguy hại hơn là hình ảnh của Việt Nam hiện đại  hấp dẫn chinh phục được tầng lớp trẻ trưởng thành tại Mỹ. Vì vậy họ vô cùng hốt hoảng khi nghị quyết 36 của CSVN ra đời. Họ cường điệu lên về mối nguy hại của nghị quyết 36, họ báo động cho nhau giống y  như những con thú hoang kêu chí chóe hoảng lọan khi ngửi thấy hơi loài sư tử, và họ bắt đầu thấy bóng ma cộng sản lấp ló nhiều hơn.

Bóng ma CS nó hiện diện trong các cuộc trình diễn văn nghệ có các nghệ sĩ trong nước, nó lù lù ẩn hiện trong tấm thảm đỏ trải chân, nó nhe răng khiêu khích trong cái sợi dây thắt lưng quần của nghệ sĩ. Nó nhảy xổ vào các tờ báo hải ngoại, nó chui tọt vào cả các cơ quan dân cử và rồi nó an tọa trong cái chậu rửa chân để làm nhục lá cờ vàng.

Họ rất nhút nhát và thiếu tự tin. Họ gập mình trước người da trắng nhưng lại hùng hổ thô bạo với đồng bào. Họ chửi rủa thậm tệ những người họ không ưa ngay trên đường phố bằng những lời lẽ của bọn dân chơi cầu ba cẳng, họ nhổ nước bọt thối vào những người họ ghét, họ vạch quần chĩa vòi đái trước cửa tòa soạn báo mà họ đang biểu tính chống đối, họ trét cứt vào cửa hiệu người ta, họ ứng xử như những tên côn đồ hung hãn . Những hành động ấy họ gọi là “chống cộng”.

Nhưng khi biểu tình bao giờ cũng phải có những lá cờ Mỹ  chống lưng để chứng minh lòng trung thành và ước vọng được quy phục.

Những ngày họ mới qua đây, lá cờ vàng đã là phương tiện kiếm ăn vô cùng béo bở cho nhiều tay hoạt đầu,  cơ hội chính trị. Đến nay tuy khó khăn hơn nhưng nó vẫn còn kiếm chác được, vì vậy cho nên những màn hoạt kê cờ vàng vẫn tồn tại.   Thời thế đã  đổi thay, cộng sản đổi thay, thế giới đổi  thay, duy có cộng đồng cờ vàng là  y như cũ, có khác chăng là thành viên của nó càng ngày ít đi, càng già đi, thân xác héo úa,  và càng ngày càng trơ trẽn  lố bịch. Bố theo lá cờ này quá lâu nên da cũng đã vàng úa héo hắt theo lá cờ,  mặt thì hằn lên những sọc thời gian mà công cuộc chống cộng vẫn còn mịt mù xa vời vợi.

Đến lúc này bố cảm thấy cần phải nói cho con biết tường tận về lá cờ của chúng ta để con chọn cách ứng xử có lợi cho mình tùy tình thế. Dù phất lên lá cờ vàng nhưng hầu hết dân cờ vàng đều mù tịt về lịch sử ra đời của nó

Lá  cờ vàng ba sọc đỏ này thoát thai từ giải pháp Bảo Đại do liên minh Vatican – Pháp cho ra đời vào năm 1948. Giải Pháp Bảo Đại là do chủ trương của Vatican được công khai hóa bởi lời tuyên bố vào ngày 28/12/1945 của viên Khám Sứ đại diện của Tòa Thánh Vaican tại Hà Nội là Tổng Giám Mục Antoni Draper. (Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 Tập A: 1939-1946)  Kiểu dáng lá cờ cũng được 1 linh mục sáng tác làm biểu tượng quyền lực của Vatican rồi ngụy tạo thành biểu tượng của chính nghĩa quốc gia và những người quốc gia chống cộng.

Người ký văn bản “Pháp Qui Tạm Thời” cho thi hành treo Quốc Kỳ vàng ba sọc đỏ và bài Quốc Ca của Lưu Hữu Phước vào ngày 1/6/1948 ( nhằm  ngày 24/4 năm Mậu Tý) là một tay Việt gian chính gốc : Thủ Tướng dân Tây có vợ đầm  Nguyễn Văn Xuân ,  Người đề nghị lấy lá cờ vàng ba sọc đỏ thay cho lá  cờ quẻ Ly là André Trần Văn Đôn,  là tà lọt , tức là “Aide de camp” của ông Xuân.

Những chính phủ do ngoại bang đẻ ra từ  Bảo Đại đến Ngô Đình Diệm, và các chính quyền tại vị đến 30/4/1975 đều do ngoại bang nuôi dưỡng,  trang bị và sai khiến.

Việc Vatican chế ra cái cờ này nhằm tạo bức bình phong che đậy cho cái chính quyền quốc gia mà chúng tạo ra, giấu đi cái bản chất nô lệ cho vatican và Pháp,

Phất lá cờ này, chính quyền bù nhìn làm tay sai cho ngoại bang tự tin hơn,  bấu víu lấy nó, họ  trút đi được phần nào mặc cảm việt gian. Và bọn xâm lược ẩn mình tốt hơn để dễ bề sai khiến bầy tôi cờ vàng. Như vậy lá cờ vàng che đậy được cho cả quân xâm lược và chính quyền Việt gian. Thật là cao tay, thật là vẹn cả đôi đường. Lá cờ vàng có nhiệm vụ lịch sử của nó là như thế.

Quốc ca của chúng ta nguyên là bài Sinh Viên Hành Khúc do Lưu Hữu Phước sáng tác năm 1942,  năm 1943 nó được cả 3 kỳ biết đến với cái tên Tiếng Gọi Thanh Niên. Ta chôm bài hát này chế biến lại rồi đặt tên “ tiếng gọi công dân” để làm bài quốc ca mà ta hát như  con vẹt cho đến tận hôm nay. Về tuổi tác, bài Tiếng gọi Thanh Niên được 6 tuổi thì lá cờ vàng của chúng ta mới chào đời.  Thông thường, quốc kỳ của các quốc gia trên thế giới xuất hiện trước bài quốc ca. Lá cờ của chúng ta lại ra đời sau bài hát mà  ta gọi là quốc ca đến 6 năm, đây là sự vá víu vụng về nghịch thường. 

Lá cờ Pháp ra đời trong cuộc cách mạng 1789 thì 3 năm sau, năm 1892 quốc ca pháp mới có mặt.

Cũng như Pháp, lá cờ Mỹ xuất hiện trong cuộc chiến tranh Cách Mạng 1776-1783 nhưng mãi tới  khi  tiến hành cuộc chiến  Anh – Mỹ  1812, bản quốc ca Hoa Kỳ mới ra đời do một sĩ quan Hải Quân Mỹ sáng tác và sau đó được Quốc Hội Mỹ chấp thuận

Bài Kimigayo quốc ca nhật ra đời năm 1893 (Minh Trị 26) Quốc kỳ Nhật hình tròn đỏ trên nền  màu trắng ra đời năm 1854.

Việc quốc kỳ ra đời sau quốc ca đến 6 năm có lẽ đây là lá cờ độc nhất vô nhị không đụng hàng.  Bài hát ta gọi là quốc ca cũng chôm chĩa của Việt Cộng nốt vì đây là bài của Lưu Hữu Phước . Lưu Hữu Phước viết bài này để kêu gọi lòng yêu nước, kêu gọi thanh niên đứng lên chống thực dân Pháp,  tác giả lại  là một tay việt cộng có hạng. Thế mà ta lại chôm  bài này để kích động đồng bào chống việt cộng thì rõ ràng chúng ta đã khập khiễng ngay từ gốc rồi,  lại thêm một nghịch thường nữa. Đến bài quốc ca mà cả một “quốc gia” không ai làm được phải chôm chĩa của Việt Cộng thì còn nói gì đến chống cộng. Việc bị Việt Cộng nó uýnh te tua tơi tả, thầy trò bỏ mặc nhau chạy vắt giò lên cổ là chuyện tất yếu. Thế mà bây giờ lại còn mưu đại sự phất lá cờ vàng để mưu đồ đánh đuổi cộng sản để phục quốc cờ vàng , không gọi là tâm thần óc đậu thì gọi là cái gì đây.?

Cái gọi là quốc kỳ và quốc ca có lịch sử chắp vá khiên cưỡng như vậy, ra đời trong hoàn cảnh như vậy,  thế mà đã có một thời từng là biểu tượng quốc gia, và cho đến hôm nay, ở ngay nước Mỹ này vẫn có kẻ phất nó lên như lá cờ  chính nghĩa. Không gọi là dốt nát cuống tín ngu muội thì gọi là cái gì đây?

Lá cờ đỏ sao vàng của cộng sản nó ra đời trước lá cờ của chúng ta đến 8 năm  và lần đầu tiên nó  xuất hiện lại  chính ở miền Nam của chúng ta ngày 23/11/1940 trong cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Tháng 5/1941 lãnh tụ Hồ Chí Minh ký văn bản quy định quốc kỳ Việt Nam là nền đỏ sao vàng năm cánh.

Bài hát  “Tiến quân ca” được nhạc sỹ Văn Cao (1923-1995) sáng tác vào cuối năm 1944. Ngay sau khi ra đời, bài hát đã được các chiến sỹ cách mạng tiếp nhận và trở thành bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh.

Như thế lá cờ đỏ sao vàng ra đời trước lá cờ vàng,  nó ra đời trong kháng chiến, theo yêu cầu của cuộc kháng chiến chống thực dân. Bài Tiến quân ca Việt Minh sử dụng như lời hiệu triệu kháng chiến sau này trở thành  quốc ca Viêt Nam cho đến nay. Quốc kỳ và quốc ca do CSVN sử dụng có một quá trình hình thành và tồn tại rất logic, rất minh bạch và chính nghĩa. Lá cờ này đã phất lên suốt hai cụộc kháng chiến  giành độc lập và ngày nay nó phất phới bay ngạo nghễ ở trụ sở LHQ cùng gần  hai  trăm lá cờ khác trên thế giới. Trong khi đó cộng đồng cờ vàng  lúc này thì  cứ chống nhau chí chóe  loay hoay cố vớt lấy “quốc kỳ “ của mình  lên từ cái chậu rửa chân.

Những điều này bố biết rất rõ nhưng luôn phải tránh né không dám thừa nhận, vì   nó là vấn đề tế nhị nhạy cảm, nhất là thực tế lịch sử ảnh hưởng đến tiền đồ lá cờ vàng, ảnh hưởng đến niềm tin của người tị nạn,  ảnh hưởng đến tinh thần chống cộng của những người quốc gia và điều  quan trọng nhất là ảnh hưởng đến  thanh danh và sĩ diện của cộng đồng cờ vàng. Nếu con nói điều này ra dù nó là sự thật lịch sử đi nữa, cái nón cối sẽ lập tức bay lên đầu con ngay.

Chúng ta dựa vào chính nghĩa chống cộng, chống lại sự xâm lược của CS miền Bắc, nghĩa là ta cho rằng Việt cộng xâm lược chính đất nước của họ – Đó là  một nghịch lý không thể ngụy biện .  Điều nghịch thường lớn nhất là lấy một lá cờ do ngoại bang tạo ra để chống lại lá cờ xuất thân từ phong trào yêu nước kháng chiến chống thực dân thì dù có che đậy giỏi đến đâu chăng nữa, chắc chắn phải có ngày lá cờ này lòi mặt nạ hiện nguyên hình bản chất và sứ mạng nó đã được thực dân giao phó. Dù ta có ngụy biện đến đâu, có bôi nhọ CS đến đâu, và cho dù CS có xấu xa đến đâu chăng nữa, ta không thể phất lá cờ vàng như là lá cờ chính nghĩa để hiệu triệu đồng bào đứng về phía mình. Nhưng cộng đồng cờ vàng đâu  nhận ra được điều này , vì lòng thù hận đã  làm họ trở nên quá u mê, vì họ không còn cái gì khác  để vịn vào, và vì cái sĩ diện rằng chấp nhận CS là quy phục nó.

Nói thế để con hiểu, cha đẻ của lá cờ vàng ba sọc đỏ chính là   vatican và thực dân Pháp , nó đã mang bản chất phi nghĩa ngay từ cội nguồn của nó. Làm sao có được lòng yêu nước thương dân phía sau một lá cờ như thế? Tuy nhiên, khi nào lá cờ vàng vẫn được người ta xem là biểu tượng của người quốc gia chống cộng, thì nó vẫn còn giá trị  kiếm cháo kiếm cơm của bọn cơ hội  cờ vàng . Dù rằng về khía cạnh lịch sử nó chỉ là món đổ chơi đã lỗi thời của vatican mà thôi.

Tóm lại, lá cờ vàng là chỗ dựa bám víu cuối cùng của những người chống cộng hải ngoại. Không có nó xem như không còn phong trào chống cộng và họ chẳng còn việc gì để làm.  Biểu tình cố vớt lá cờ lên từ cái chậu rửa chân, và có thể phải vớt nó lên từ cái chỗ dơ dáy nào khác nữa, cũng chỉ là cố vớt vát cái sĩ diện  của họ, và vớt lấy cái nồi cơm của kẻ đầu cơ lá cờ vàng.

Bọn trẻ bây giờ chơi khăm mấy ông già đau quá, lấy nghệ thuật làm bia che chắn để công khai hãm hiếp lá cờ vàng mà chẳng ai làm gì được nó cả.  Nếu  công nhận nghệ thuật hay im lặng thì ngậm đắng nuốt cay, tiêu vong sự nghiệp cờ vàng,  Nếu phản kháng thì bị chê là dốt không biết thưởng thức nghệ thuật. Nhưng họ buộc phải chọn một đường và họ  đành phải chấp  nhận dốt để biểu tình  vớt lấy lá cờ, cứu  lấy  sĩ diện. Nhưng cứ cái kiểu chống cộng cờ vàng như bao năm nay thì dù có vớt nó lên khỏi cái chậu này nó cũng sẽ lại  rơi vào cái bồn  khác, họ sẽ phải mãi chạy theo lá cờ vàng để vớt nó lên bởi vì họ  đã lỡ to mồm chống cộng mấy chục năm rồi không tuột xuống được nữa.

Những người muốn nhúng lá cờ vàng vào cái chậu rửa chân dường như muốn lôi  những cái đầu ngu ngốc u mê dìm luôn vào trong cái chậu. Cho nên những tên này mới phản ứng dữ dội, lôi kéo những kẻ có đầu óc vàng khè vào cuộc. Không phải vì lá cờ bị bôi nhọ mà vì những cái đầu này bị chạm nọc. Bởi vì như đã nói,  làm gì có danh dự của một lá cờ do ngoại bang tạo ra làm biểu tượng phục vụ cho ý đồ  xâm lược. Họ buôc phải biểu tình để phản ứng vì nếu không thì ai biết được mai đây chẳng biết cái đầu của họ sẽ còn bị dìm xuống đâu và chắc chắn cái mùi của nó phải nặng hơn cái chậu rửa chân.

Chống cộng mà không có lá cờ vàng thì cũng như là đi buôn mà không có vốn, đi câu mà không có mồi, đi săn mà không có súng. Diễu hành mà không có lá cờ vàng thì  cứ như là đi tập thể dục nhịp điệu thì làm sao gây được tiếng vang,  Phải cứu lá cờ vàng bằng mọi giá là như thế.

LỜI BÀI HÁT TIẾNG GỌI THANH NIÊN

Nhạc: Lưu Hữu Phước
Lời: Huỳnh Văn Tiếng, Lưu Hữu Phước

Này anh em ơi tiến lên đến ngày giải phóng
Đồng lòng cùng nhau ra đi sá gì thân sống
Cùng nhau ta tuốt gươm, cùng nhau ta đứng lên
Thù kia chưa trả xong thì ta luôn cố bền

Lầm than bao năm ta đau khổ biết mấy
Vàng đá gấm vóc loài muông thú cướp lấy
Loài nó, chúng lấy máu đào chúng ta
Làm ta gian nan cửa nhà tan rã
Bầu máu nhắc tới nó càng thêm nóng sôi
Ta quyết thề phá tan quân dã man rồi

Vung gươm lên ta quyết đi tới cùng
Vung gươm lên ta thề đem hết lòng
Tiến lên đồng tiến sá chi đời sống
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng

Này sinh viên ơi đứng lên đáp lời sông núi
Đồng lòng cùng đi đi đi mở đường khai lối
Kìa non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên
Nào anh em Bắc Nam cùng nhau ta kết đoàn

Hồn thanh xuân như gương trong sáng
Đừng tiếc máu nóng tài xin ráng
Thời khó thế khó khó làm yếu ta
Dù muôn chông gai vững lòng chi sá
Đường mới kíp phóng mắt nhìn xa bốn phương
Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường

Sinh viên ơi mau tiến lên dưới cờ
Anh em ơi quật cường nay đến giờ
Tiến lên cùng tiến gió tung nguồn sống
Cháy trong lòng ta ngàn mớ lửa hồng

Này thanh niên ơi, tiến lên đến ngày giải phóng
Đồng lòng cùng đi đi đi sá gì thân sống
Nhìn non sông nát tan thù nung tâm chí cao
Nhìn muôn dân khóc than, hờn sôi trong máu đào

Liều thân xông pha ta tranh đấu
Cờ nghĩa phấp phới vàng pha máu
Cùng tiến quét hết những loài dã man
Hầu đem quê hương thoát vòng u ám
Thề quyết lấy máu nóng mà rửa oán chung
Muôn thuở vì núi sông nêu tiếng anh hùng

Anh em ơi mau tiến lên dưới cờ
Sinh viên ơi quật cường nay đến giờ
Tiến lên cùng tiến gió tung nguồn sống
Cháy trong lòng ta ngàn mớ lửa hồng

Nghe bài tiếng gọi thanh niên :

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Tieng-Goi-Thanh-Nien-Top-Ca/IW6I0OFE.html

Categories: Lật đổ chính quyền | Nhãn: | Bình luận về bài viết này

BÀI HỌC CHO CỜ VÀNG CHỐNG CỘNG

Tổng Thống thứ 42 của Hoa Kỳ .

Bọn chống cộng cực đoan người Việt ở hải ngoại đã điên cuồng chống phá đất nước 37 năm qua . Chúng là loại gì ? khi những người Việt yêu nước vẫn chưa đặt cho bọn chúng một cái tên cho đúng nghĩa . Nếu chúng muốn được gọi là con người thì hãy đọc bài nói chuyện của Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã qua 12 năm nhưng thông điệp vẫn còn nguyên giá trị về giáo dục với chúng .

“Let the days when we talk past each other be gone for good. Let us acknowledge our importance to one another. Let us continue to help each other heal the wounds of war, not by forgetting the bravery shown and the tragedy suffered by all sides, but by embracing the spirit of reconciliation and the courage to build better tomorrows for our children. May our children learn from us that good people, through respectful dialogue, can discover and rediscover their common humanity, and that a painful, painful past can be redeemed in a peaceful and prosperous future – Hãy chấm dứt vĩnh viễn những ngày tháng khi chúng ta nói át lẫn nhau. Hãy công nhận vai trò quan trọng của mỗi bên. Chúng ta hãy tiếp tục giúp nhau hàn gắn những vết thương chiến tranh, không phải bằng cách quên đi sự dũng cảm cũng như những thảm kịch của các bên, mà bằng tinh thần hoà giải và sự can đảm để xây dựng một tương lai xán lạn hơn cho con em chúng ta“.

Bài phát biểu Tổng thống Bill Clinton tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Cám ơn các bạn rất nhiều và chào các bạn.

Tôi không thấy có một nơi nào thích hợp hơn là Ðại học Quốc gia Việt Nam để tôi bắt đầu chuyến thăm ở thời điểm tràn đầy hy vọng của lịch sử cho cả hai nước chúng ta. Tôi đã học được một câu tiếng Việt; và tôi sẽ cố gắng đọc câu ấy. Nếu tôi đọc sai, các bạn cứ cười thỏa thích. Xin chào các bạn. (vỗ tay)

Biết bao hứa hẹn của quốc gia trẻ trung này được tích luỹ nơi đây. Tôi được biết rằng các bạn đã có những chương trình trao đổi với gần 100 các trường đại học, từ Canada đến Pháp và Hàn Quốc. Và các bạn cũng đang tiếp đón hơn 12 sinh viên từ trường đối tác – Ðại học California Hoa Kỳ – hiện đang học tại đây.

Tôi chào mừng những nỗ lực to lớn của các bạn trong việc hoà nhập với thế giới. Dĩ nhiên, tôi cũng biết rằng cũng như mọi sinh viên khắp nơi, các bạn còn bận tâm nhiều chuyện khác ngoài việc đèn sách. Ví dụ: vào tháng 9, các bạn vừa phải học và vừa theo dõi thành tích của cô Trần Hiếu Ngân tại Sydney . Và tuần này, các bạn lại vừa học vừa cổ vũ cho các anh Lê Huỳnh Ðức và Nguyễn Hồng Sơn tại cuộc tranh tài bóng đá tại Bangkok . (vỗ tay).

Tôi lấy làm hân hạnh là Tổng thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đầu tiên đến Hà Nội và thăm trường đại học này. Và tôi làm như thế với một ý thức rằng lịch sử giữa hai quốc gia chúng ta thật gắn bó, vừa là nguồn đau thương cho các thế hệ đã qua vừa là nguồn hứa hẹn cho các thế hệ sắp tới.

Cách đây 2 thế kỷ, trong những ngày đầu của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, chúng tôi đã vượt biển để tìm các đối tác thương mại và một trong các nước mà chúng tôi tiếp cận đầu tiên là Việt Nam. Thật vậy, một trong các nhà lập quốc của Hoa Kỳ, Ngài Thomas Jefferson, đã tìm cách mua hạt giống gạo Việt Nam để trồng trên nông trại của mình tại Virginia cách đây đã 200 năm. Vào lúc thế chiến thứ hai xảy ra, Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã là một xứ tiêu thụ đáng kể các hàng xuất khẩu từ Việt Nam .

Vào năm 1945, trong ngày lập quốc của các bạn, những ngôn từ của Thomas Jefferson đã được chọn để vang vọng trong bản Tuyên ngôn Ðộc lập của các bạn: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hoá đã cho chúng ta những quyền chắc chắn không thể xâm phạm được; đó là quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”

Dĩ nhiên, tất cả những điểm gặp gỡ nhau trong lịch sử 200 năm nay đã bị lu mờ trong vài thập niên vừa qua bởi cuộc xung đột mà chúng tôi gọi là Chiến tranh Việt Nam và các bạn gọi là Kháng chiến chống Mỹ. Hẳn là các bạn đã biết rằng ở Washington D.C., tại Quảng trường Quốc gia có một bức tường đá đen đã được khắc tên của những người Hoa Kỳ đã bỏ mình tại Việt Nam. Tại tượng đài trang nghiêm này, một số cựu chiến binh Hoa Kỳ cũng nhắc đến “mặt bên kia của bức tường,” sự hy sinh chồng chất của nhân dân Việt Nam hai miền trong cuộc xung đột đó – hơn 3 triệu thường dân và chiến sỹ dũng cảm.

Nỗi đau khổ chung này đã tạo cho hai quốc gia chúng ta một mối quan hệ không giống bất cứ quan hệ nào khác. Cũng do cuộc xung đột này, Hoa Kỳ hiện nay là quê hương của 1 triệu người Mỹ có tổ tiên là Việt Nam . Cũng do cuộc xung đột này, 3 triệu cựu chiến binh Hoa Kỳ đã phục vụ tại Việt Nam , cũng như nhiều nhà báo, nhân viên đại sứ quán, nhân viên cứu trợ và nhiều người khác nữa, đã mãi mãi gắn liền với quốc gia của các bạn.

Cách đây gần 20 năm, một nhóm quân nhân Hoa Kỳ đã đi bước đầu tiên để tái lập những mối liên hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam . Họ trở lại Việt Nam lần đầu tiên kể từ cuộc chiến, và khi họ đi bộ trên những đường phố Hà Nội, nhiều người Việt Nam biết họ đến thăm và đã tiến lại hỏi họ: các bạn có phải là binh sĩ Hoa Kỳ không? Chưa ngờ trước chuyện gì sẽ xảy ra đối với họ, những cựu chiến binh của chúng tôi trả lời: Ðúng vậy. Và họ cảm thấy thật nhẹ nhõm xiết bao khi những người Việt Nam nói với họ một cách giản dị là: chào mừng các bạn đến Việt Nam .

Tiếp đó, nhiều cựu chiến binh cũng đã đến đây gồm cả những cựu chiến binh và anh hùng Hoa Kỳ tên tuổi hiện đang phục vụ tại Quốc hội Hoa Kỳ: Nghị sỹ John McCain, Nghị sỹ Bob Kerrey, Nghị sỹ Chuck Robb, và Nghị sỹ John Kerry của bang Massachusett, là người có mặt tại đây với tôi, cùng một số hạ nghị sĩ của chúng tôi, trong số đó có vài cựu chiến binh của cuộc xung đột ở Việt Nam.

Khi họ đến đây, họ đã nhất quyết tôn vinh những người đã tham chiến mà không khơi lại cuộc chiến; nhớ lại lịch sử của chúng ta nhưng không kéo dài nó mãi mãi; để cho lớp trẻ như các bạn tại hai quốc gia chúng ta có một cơ hội sống vì tương lai, chứ không phải sống với quá khứ. Như Ðại sứ Pete Peterson đã nói một cách thật hùng hồn, “Chúng ta không thể thay đổi quá khứ. Cái mà chúng ta có thể thay đổi được đó là tương lai.”

Mối quan hệ mới giữa chúng ta trở nên mạnh hơn, khi các cựu chiến binh Hoa Kỳ thành lập những tổ chức phi lợi nhuận để hoạt động giúp đỡ nhân dân Việt Nam, chẳng hạn như cung cấp những dụng cụ cho những người bị thương tích chiến tranh để giúp họ sống một cuộc sống bình thường. Sự tận tình của Việt Nam giúp trao trả hài cốt những quân nhân của chúng tôi trở về với gia đình họ là sự thúc đẩy lớn nhất để cải thiện mối quan hệ. Có rất nhiều người Hoa Kỳ tại đây đã làm việc nhiều năm trong lĩnh vực đó, gồm cả Bộ trưởng Bộ Cựu Chiến Binh của chúng tôi, Ngài Hershel Gober.

Lòng mong muốn được đoàn tụ với thân nhân thất lạc là điều dễ hiểu đối với tất cả chúng ta. Nhiều người Mỹ rất cảm động khi biết rằng chương trình truyền hình mà người Việt Nam xem nhiều nhất vào mỗi chủ nhật là chương trình nhờ khán giả giúp họ tìm kiếm những thân nhân mất tích trong chiến tranh cách đây rất lâu.

Và chúng tôi biết ơn những người dân làng Việt Nam đã giúp tìm kiếm những người mất tích của chúng tôi và vì thế đem lại sự ổn định tinh thần cho những gia đình người Mỹ khi họ biết rằng chuyện gì thật sự đã xảy ra đối với thân nhân của họ.

Chưa bao giờ có hai quốc gia nào đã làm được những việc mà chúng ta cùng nhau đang làm để tìm kiếm những người mất tích trong cuộc xung đột ở Việt Nam . Rất nhiều đội Hoa Kỳ và Việt Nam đã làm việc cùng nhau, đôi khi tại những nơi chốn khó khăn và nguy hiểm. Chính phủ Việt Nam đã cung cấp cho chúng tôi những tài liệu và thông tin của chính phủ để hỗ trợ cuộc tìm kiếm của chúng tôi. Và để đáp lại, chúng tôi đã cung cấp được cho Việt Nam gần 400.000 trang tài liệu có thể trợ giúp cuộc tìm kiếm của các bạn. Trong chuyến thăm này, tôi mang thêm 350.000 trang tài liệu mà tôi hy vọng sẽ giúp các gia đình Việt Nam tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy đến với những thân nhân thất lạc của họ.

Hôm nay, tôi đã trân trọng trao cho Chủ tịch nước của các bạn, Ngài Trần Ðức Lương những tài liệu này. Tôi cũng nói với chủ tịch rằng Hoa Kỳ sẽ cung cấp thêm 1 triệu trang tài liệu nữa trước cuối năm nay. Chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp trợ giúp và kêu gọi sự giúp đỡ của các bạn, khi cả đôi bên giữ lời cam kết là làm bất cứ việc gì chúng ta có thể làm được cho đến khi nào đạt được một thống kê đầy đủ nhất về thân nhân của
chúng ta.

Sự hợp tác của các bạn trong sứ mạng đó qua 8 năm nay đã được đáp lại bằng việc Hoa Kỳ hỗ trợ Việt Nam những khoản vay quốc tế, tái lập thương mại giữa hai quốc gia chúng ta, thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức và đã ký Hiệp định Thương mại trọng yếu vào năm nay.

Sau cùng, chúng tôi xem Việt Nam như một quốc gia, chứ không phải như một cuộc chiến tranh như các bạn đã yêu cầu trong bao nhiêu năm qua. Một quốc gia với tỷ lệ dân biết chữ cao nhất ở Ðông Nam á; một quốc gia mà giới trẻ vừa đoạt được ba huy chương vàng tại cuộc thi Toán học Olympiad Quốc tế Seoul; một quốc gia của những doanh gia tài năng, tận tuỵ đang xuất hiện sau những năm xung đột và bất ổn, và hướng tới một tương lai xán lạn.

Hôm nay, Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu một giai đoạn mới trong mối quan hệ đôi bên, vào lúc khi mọi người trên toàn thế giới buôn bán với nhau nhiều hơn, đi lại nhiều hơn, biết nhau nhiều hơn và nói chuyện với nhau nhiều hơn bao giờ hết. Vào lúc khi mọi người tự hào về nền độc lập quốc gia của mình, thì chúng ta đều biết rằng chúng ta đang trở nên ngày càng lệ thuộc lẫn nhau hơn. Sự di chuyển của con người, tiền tài và ý tưởng xuyên biên giới, thành thật mà nói, đã tạo ra những sự ngờ vực giữa những công dân tốt thuộc mọi quốc gia. Họ lo lắng về xu hướng toàn cầu hoá do những hậu quả bất ổn và không lường trước được.

Tuy vậy, xu hướng toàn cầu hoá không phải là một thứ mà chúng ta có thể ngăn cản hoặc loại trừ được. Sự kiện kinh tế này tương đương với lực của thiên nhiên như gió hoặc nước. Chúng ta có thể dồn gió cho căng buồm. Chúng ta có thể dùng nước để tạo ra năng lượng. Chúng ta có thể cố gắng chống lại bão và lũ lụt để bảo vệ nhân dân và tài sản. Nhưng chúng ta chẳng thể nào phủ nhận sự hiện hữu của gió và nước, hoặc tìm cách loại chúng. Xu hướng toàn cầu hoá cũng thế. Chúng ta có thể nỗ lực để tối đa hoá cái lợi của nó và giảm thiểu những rủi ro, nhưng chúng ta không thể làm ngơ trước xu hướng này và nó cũng sẽ không tự biến mất.

Trong thập niên qua, khi khối lượng thương mại trên thế giới đã tăng gấp đôi, số lượng đầu tư từ những quốc gia giàu vào những quốc gia đang phát triển đã tăng gấp sáu lần, từ 25 tỷ đô la vào năm 1990 lên đến hơn 150 tỷ đô-la vào năm 1998. Những quốc gia đã mở cửa nền kinh tế của họ trong hệ thống thương mại quốc tế đã tăng trưởng nhanh ít nhất gấp đôi so với những quốc gia có nền kinh tế khép kín. Công ăn việc làm của các bạn trong tương lai rất có thể tuỳ thuộc vào thương mại và đầu tư của nước ngoài. Nói đến đây tôi chợt nghĩ, chỉ còn 8 tuần nữa tôi sẽ mãn nhiệm, tôi nghĩ là việc làm sau này của tôi rất có thể tuỳ thuộc vào thương mại và đầu tư nước ngoài.

Trong 15 năm qua, Việt Nam đã thực hiện chính sách Ðổi Mới, gia nhập APEC và ASEAN, bình thường hoá quan hệ với Cộng đồng Châu Âu và Hoa Kỳ, và giải thể hợp tác xã nông nghiệp, để nông dân tự do trồng trọt những gì họ muốn và thu nhập trên chính thành quả lao động của họ. Những kết quả này là minh chứng hùng hồn nhất về sức mạnh của các thị trường của các bạn và các khả năng của nhân dân các bạn. Các bạn không chỉ khống chế được tình trạng suy dinh dưỡng mà còn trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới và đã đạt được sự phát triển kinh tế toàn diện mạnh mẽ hơn.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tốc độ phát triển kinh tế có chậm lại và đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có giảm đi. Ðiều này cho thấy rằng bất kỳ một nỗ lực nào nhằm tránh xa khỏi những rủi ro của một nền kinh tế toàn cầu thì đồng thời cũng khiến mình không được thừa hưởng những phần thưởng cũng từ đó mà có.

Vào mùa hè năm nay, Ngài Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã nói, và tôi xin được trích dẫn nguyên văn: “Chúng tôi chưa đạt được tầm phát triển xứng với các khả năng của đất nước chúng tôi. Và chỉ có một cách duy nhất là mở cửa hơn nữa nền kinh tế.” Nên trong mùa hè năm nay, điều mà tôi tin tưởng sẽ được xem là một bước trọng yếu trên con đường các bạn tiến tới sự thịnh vượng trong tương lai, Việt Nam và Hoa Kỳ đã ký một hiệp định thương mại song phương có tính lịch sử, xây dựng một nền tảng để Việt Nam cuối cùng gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.

Theo Hiệp định này, Việt Nam sẽ cho phép các công dân của mình, và dần dần sẽ cho phép công dân của các nước khác, các quyền được nhập khẩu, xuất khẩu và phân phối hàng hoá; cho người dân Việt Nam các quyền mở rộng để quyết định vận mệnh kinh tế của chính họ. Việt Nam đã đồng ý sẽ đưa ra các quyết định quan trọng của mình theo nền pháp trị và hệ thống thương mại quốc tế, tăng cường nguồn thông tin tới mọi người dân, và đẩy mạnh sự thăng tiến của nền kinh tế tự do và khu vực kinh tế tư nhân.

Tất nhiên, điều này sẽ tốt cho các đối tác nước ngoài của Việt Nam cũng như Hoa Kỳ. Nhưng nó sẽ còn tốt hơn nữa cho các doanh nhân Việt Nam, là những người đang nỗ lực xây dựng việc kinh doanh của chính họ. Theo hiệp định này, theo tin Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể thu được thêm 1,5 tỷ đô-la Mỹ mỗi năm và hàng năm chỉ riêng từ hàng xuất khẩu.

Cả hai quốc gia chúng ta đều ra đời từ một bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập. Bản Hiệp định Thương mại này là một dạng của Bản Tuyên Ngôn Lệ Thuộc Lẫn Nhau, một lời tuyên bố rõ ràng và không mập mờ rằng sự phồn vinh trong thế kỷ 21 tuỳ thuộc vào sự giao lưu kinh tế của một quốc gia với thế giới.

Sự mở rộng mới này là một cơ hội to lớn cho các bạn. Nhưng nó chưa đảm bảo thành công. Vậy thì phải làm những gì khác? Việt Nam là một quốc gia trẻ trung, với 60% dân số dưới tuổi 30, và mỗi năm có 1,4 triệu người tham gia lực lượng lao động. Những vị lãnh đạo của các bạn hiểu rằng chính phủ và các công ty quốc doanh không thể mỗi năm tạo ra 1,4 triệu việc làm mới. Họ biết rằng những ngành công nghiệp thúc đẩy nền kinh tế toàn cầu hôm nay, như máy tính, viễn thông, công nghệ sinh học, là những ngành dựa trên kiến thức. Ðó là lý do tại sao những nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng nhanh hơn khi giới trẻ được học cao hơn, khi phụ nữ có những cơ hội được đi học như nam giới, khi những người trẻ như các bạn có mọi cơ hội khảo sát những ý tưởng mới rồi chuyển những ý tưởng đó thành những cơ hội kinh doanh cho chính mình.

Quả thực như vậy, tất cả các bạn có mặt tại hội trường này ngày hôm nay phải là động lực tạo nên sự phồn vinh của Việt Nam trong tương lai. Như Chủ tịch nước Trần Ðức Lương đã tuyên bố, nội lực của một quốc gia là trí tuệ và năng lực của nhân dân.

Hoa Kỳ hết sức khâm phục trí tuệ và năng lực của các bạn. Một trong những chương trình trao đổi giáo dục lớn nhất của chính phủ chúng tôi là với Việt Nam . Và chúng tôi muốn tăng thêm nữa. Thượng nghị sỹ Kerry có mặt tại đây, và tôi đã nhắc đến ông trước đó, đang dẫn đầu cho một nỗ lực tại Quốc hội Hoa Kỳ, ông cùng với Thượng nghị sỹ John McCain và những cựu chiến binh khác của cuộc xung đột tại đây, đang hoạt động nhằm thiết lập một tổ chức mới gọi là Quỹ Giáo dục Việt Nam. Một khi được thông qua, quỹ này sẽ hỗ trợ 100 học bổng hàng năm, tại đây hoặc tại Hoa Kỳ, cho những người nghiên cứu hoặc giảng dạy khoa học, toán, công nghệ và y khoa.

Bây giờ chúng tôi đã sẵn sàng tài trợ thêm cho những chương trình trao đổi để dự án này có thể được thực hiện ngay. Tôi hy vọng một số người trong các bạn sẽ có cơ hội tham gia. Và tôi cảm ơn Thượng nghị sỹ Kerry vì ý tưởng tốt đẹp này. Cảm ơn Ngài vì những gì Ngài đã thực hiện.

Tôi muốn nói, cái cũng quan trọng như kiến thức chính là cái lợi của kiến thức, mà cái lợi này thì bị hạn chế bởi những giới hạn thái quá trong việc sử dụng kiến thức. Người Mỹ chúng tôi tin tưởng ở sự tự do được tìm tòi, du lịch, suy nghĩ, phát biểu, định hướng những quyết định tác động đến cuộc sống của chúng tôi làm phong phú cuộc sống của mọi người và mọi quốc gia mà trong nhiều khía cạnh vượt ra xa ngoài phạm vi kinh tế.

Cho đến nay, thành tích của Hoa Kỳ trong lĩnh vực này vẫn chưa được hoàn hảo. Rút cuộc, chúng tôi phải mất một thế kỷ mới xoá bỏ được nô lệ. Việc giành quyền bầu cử cho phụ nữ thì phải mất một thời gian dài hơn thế nữa. Và chúng tôi vẫn đang tìm tòi để thực hiện một liên bang hoàn hảo hơn theo ước mơ của những nhà lập quốc của chúng tôi và những ngôn từ trong Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập và Hiến pháp của chúng tôi. Nhưng trong suốt 224 năm qua, chúng tôi đã học được một vài bài học. Thí dụ, chúng tôi đã thấy rằng những nền kinh tế hoạt động tốt hơn khi báo chí được tự do tố cáo tham nhũng, và những toà án độc lập có thể đảm bảo cho các hợp đồng được tôn trọng, sự cạnh tranh được tiến triển mạnh mẽ và công bằng, và các quan chức nhà nước tôn trọng nền pháp trị.

Theo kinh nghiệm của chúng tôi, việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và quyền bất đồng chính kiến không đe doạ sự ổn định của một xã hội. Ngược lại, nó tạo được niềm tin của người dân vào sự công bằng của hiến pháp của chúng ta, và khiến chúng ta phải thực hiện hiến pháp mặc dù chúng ta không đồng ý một quyết định nào đó. Tất cả những điều này sẽ làm cho đất nước của chúng ta mạnh hơn trong các thời điểm tốt hoặc xấu. Theo kinh nghiệm chúng tôi, giới trẻ sẽ có nhiều niềm tin hơn vào tương lai nếu họ có tiếng nói trong việc định hướng tương lai, trong việc lựa chọn các nhà lãnh đạo chính phủ của họ và có một chính phủ có trách nhiệm đối với những người dân mà chính phủ phục vụ.

Bây giờ, tôi xin nhấn mạnh rằng, chúng tôi không tìm cách và cũng không thể áp đặt những ý tưởng này. Việt Nam là một đất nước lâu đời và bền vững. Các bạn đã chứng tỏ với thế giới rằng các bạn sẽ tự quyết định cho chính mình. Chỉ các bạn mới có thể quyết định với những việc chẳng hạn như có nên chăng tiếp tục chia xẻ những tài năng và ý tưởng của Việt Nam với thế giới; có nên chăng tiếp tục mở cửa Việt Nam để làm giầu đất nước mình với những kinh nghiệm của các nước khác. Chỉ có các bạn mới quyết định xem có nên chăng tiếp tục mở cửa thị trường, mở cửa xã hội của mình và củng cố nền pháp trị. Chỉ có các bạn mới quyết định liên kết như thế nào giữa tự do cá nhân và nhân quyền trên nền tảng giầu mạnh của bản sắc quốc gia Việt Nam .

Tương lai của các bạn đang nằm trong đôi bàn tay của mình, đôi bàn tay của nhân dân Việt Nam. Nhưng tương lai của các bạn cũng quan trọng đối với chúng tôi. Vì khi Việt Nam thành công, việc ấy sẽ mang lại lợi ích cho khu vực này cùng các đối tác kinh doanh và những người bạn của các bạn trên toàn thế giới.
Chúng tôi mong muốn được tăng cường sự hợp tác với các bạn trên mọi phương diện. Chúng tôi muốn tiếp tục việc rà soát mìn và những vũ khí chưa nổ. Chúng tôi muốn tăng cường những nỗ lực chung của chúng ta để bảo vệ môi trường bằng cách huỷ bỏ xăng pha chì tại Việt Nam , duy trì nguồn cung cấp nước sạch, cứu nguy những dải san hô và rừng nhiệt đới. Chúng tôi muốn tăng cường nỗ lực trong việc ngăn ngừa và cứu trợ thiên tai, gồm cả những nỗ lực trợ giúp những người bị nguy khốn vì lũ lụt tại vùng đồng bằng sông Cửu Long. Hôm qua, chúng tôi đã trao cho chính phủ các bạn những bức ảnh vệ tinh từ Hệ thống Thông tin Thiên tai Toàn cầu của chúng tôi – những bức ảnh này cho thấy những chi tiết mới nhất về mức độ lũ lụt tại vùng đồng bằng để trợ giúp Việt Nam trong việc tái thiết.

Chúng tôi muốn tăng cường sự hợp tác trong lĩnh vực khoa học, sự hợp tác được chú trọng trong cuộc họp của chúng ta tại Singapore vào tháng này để cùng nhau nghiên cứu những tác động về sức khoẻ và môi sinh của chất đi-ô-xin đối với người Việt Nam và người Mỹ đã có mặt tại Việt Nam; và sự hợp tác mà chúng ta đang mở rộng hơn trên cơ sở Hiệp định Khoa học và Công nghệ mà hai quốc gia chúng ta vừa ký hôm nay.
Chúng tôi muốn là đồng minh của các bạn trong việc phòng chống những căn bệnh gây tử vong chẳng hạn như AIDS, lao và sốt rét. Tôi vui mừng tuyên bố rằng chúng tôi sẽ tăng gấp đôi sự hỗ trợ của chúng tôi cho những nỗ lực của Việt Nam để ngăn chặn nguy cơ của nạn dịch AIDS bằng công tác giáo dục, phòng ngừa, săn sóc và chữa trị. Chúng tôi muốn làm việc với các bạn để đưa Việt Nam thành nơi an toàn hơn bằng cách hỗ trợ các bạn để giảm thiểu những thương tích trên đường phố, ở nhà và tại nơi làm việc. Chúng tôi muốn làm việc với các bạn để tận dụng bản Hiệp định Thương mại này, bằng cách cung cấp sự trợ giúp kỹ thuật để đảm bảo sự thực thi bản Hiệp định thật trôi chảy và đầy đủ, tìm kiếm những phương thức khuyến khích hơn nữa sự đầu tư của Hoa Kỳ nhiều hơn vào quốc gia các bạn.

Tóm lại, chúng tôi mong muốn xây dựng quan hệ đối tác với Việt Nam . Chúng tôi tin rằng việc này sẽ tốt cho cả hai quốc gia. Chúng tôi tin tưởng rằng nhân dân Việt Nam có tài năng để thành công trong thời đại toàn cầu mới này cũng như họ đã thành công trong quá khứ.

Chúng tôi biết vậy, vì chúng tôi đã thấy những tiến bộ các bạn đã đạt được trong thập niên vừa qua. Chúng tôi đã thấy tài năng và sự tháo vát của những người Việt Nam đến cư ngụ tại Hoa Kỳ. Những người Mỹ gốc Việt đã trở thành những quan chức dân cử, chánh án, những nhà lãnh đạo trong lĩnh vực khoa học và trong ngành công nghệ cao. Năm ngoái, một người Mỹ gốc Việt đã có một phát minh toán học làm cho việc điều khiển hội họp từ xa bằng truyền hình với chất lượng cao trở thành dễ dàng hơn. Mọi người ở Hoa Kỳ đều biết đến trường hợp Trần Như Hoàng tốt nghiệp thủ khoa trong khoá học của anh ta tại Trường Võ bị Không quân Hoa Kỳ.

Những người Hoa Kỳ gốc Việt thành đạt không chỉ vì những khả năng độc đáo và tư chất tốt của họ, mà còn vì họ đã có cơ hội để tận dụng khả năng và giá trị của họ. Khi những cơ hội của các bạn tăng lên trong cuộc sống, trong học hỏi, trong việc thể hiện óc sáng tạo, thì không có gì có thể ngăn cản được sự tiến bộ của người Việt Nam. Tôi tin chắc rằng các bạn sẽ thấy nhân dân Hoa Kỳ luôn sát cánh với các bạn. Bởi vì trong thế giới phụ thuộc lẫn nhau này, thành công của các bạn cũng thật sự là thành công của chúng tôi.

Cách đây gần 200 năm, vào khởi điểm của mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam , hai quốc gia chúng ta đã cố gắng nhiều để đàm phán một Hiệp định Thương mại, tương tự như Hiệp định Thương mại mà chúng ta đã ký hôm nay. Nhưng cách đây 200 năm, những cuộc đàm phán này đều thất bại, và không một hiệp định nào được ký. Hãy nghe lời phát biểu của một sử gia nói về chuyện gì đã xảy ra cách đây 200 năm, và thử nghĩ xem trong hai thế kỷ nay, câu nói này đáng ra phải được nhắc đi nhắc lại không biết bao nhiêu lần rồi. Ông ta nói rằng: “Những nỗ lực này đã thất bại vì hai nền văn hoá xa lạ đã cùng lên tiếng mà không chịu lắng nghe nhau, và tầm quan trọng của bên này đối với bên kia không đủ sức thuyết phục để vượt qua những trở ngại này.”

Hãy chấm dứt vĩnh viễn những ngày tháng khi chúng ta nói át lẫn nhau. Hãy công nhận vai trò quan trọng của mỗi bên. Chúng ta hãy tiếp tục giúp nhau hàn gắn những vết thương chiến tranh, không phải bằng cách quên đi sự dũng cảm cũng như những thảm kịch của các bên, mà bằng tinh thần hoà giải và sự can đảm để xây dựng một tương lai xán lạn hơn cho con em chúng ta.

Mong rằng con em chúng ta sẽ học được ở chúng ta bài học cho thấy rằng: là những con người thiện chí và thông qua những cuộc đối thoại tôn trọng lẫn nhau, người ta có thể phát hiện và tái phát hiện tính nhân văn chung cho cả hai phía và một quá khứ thật đau thương có thể được bù đắp trong một tương lai hoà bình và thịnh vượng.

Cám ơn các bạn đã chào đón tôi, gia đình tôi và những thành viên trong đoàn Hoa Kỳ đến Việt Nam.

Cám ơn lòng tin vào tương lai của các bạn.

Chúc các bạn sức khoẻ và thành công.

Ngày 17-11-2000. Nguồn TTXVN (Tham khảo đặc biệt)

Categories: Lật đổ chính quyền | Nhãn: | Bình luận về bài viết này

Phản quốc thời toàn cầu hóa

I. Ôn Cố:

Trong sử Việt có hai nhân vật vương tôn công tử luôn được nêu danh là tội đồ phản quốc một cách ô nhục, lưu xú nghìn thu. Đó là:

1) Trần Ích Tắc (1254-1329). Ông là con thứ của Thượng hoàng Trần Thái Tông, tước hiệu là Chiêu Quốc Vương. Lúc nhỏ đã có ý tranh đoạt ngôi vua của anh trưởng là Thánh Tông. Ích Tắc đã từng gửi thư riêng cho khách buôn ở Vân Đồn cầu xin quân Nguyên gởi quân xâm lược nước Nam để giúp y lên làm vua.

Năm 1285, khi giặc Nguyên Mông sang xâm lược Việt Nam lần thứ hai, Ích Tắc lại đem cả gia đình ra hàng giặc, được đưa về Trung Quốc và được Hốt Tất Liệt phong làm An Nam Quốc vương và chờ ngày đưa trở về nước. Sau khi quân Nguyên Mông đại bại, Trần Ích Tắc đành sống lưu vong ở Ngạc Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc) và chết ở đấy lúc 76 tuổi.

Vì sự phản bội này mà sau này nhà Trần đã loại Ích Tắc ra khỏi tông thất, cho đổi tên thành Ả Trần, có ý chê y hèn nhát như đàn bà vậy…

2) Lê Chiêu Thống (1765-1793) làm vua được 3 năm từ 1786 – 1789. Năm 1771, lúc 6 tuổi mang tên là Lê Duy Kỳ đã bị chúa Trịnh Sâm giam trong ngục Đề Lãnh cùng với chú và hai em cho mãi đến 17 tuổi mới được thả ra khi Trịnh Khải kế vị cha xưng là Trịnh Tông.

Tình hình chính trường vua Lê chúa Trịnh ở ngoài bắc càng lúc càng hổn loạn đổ nát, nên năm 1786, Nguyễn Huệ theo kế của Nguyễn Hữu Chỉnh, vốn bỏ Trịnh theo Tây Sơn, lấy chiêu bài phù Lê diệt Trịnh đã mang quân ra Bắc Hà đánh đổ Trịnh Tông. Quyền bính khi đó ở cả trong tay Nguyễn Huệ. Vua Hiển Tông bấy giờ đã 70 tuổi phong cho Nguyễn Huệ là Nguyên soái phù chính dực vận Uy Quốc Công, còn gả con gái thứ 21 là công chúa Lê Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ.

Không bao lâu sau vua Hiển Tông mất, công chúa Ngọc Hân muốn Nguyễn Huệ lập anh mình là Lê Duy Cận kế vị, nhưng tông thất nhà Lê lại làm áp lực xin lập Lê Duy Kỳ lên ngôi lấy hiệu là Chiêu Thống.

Tuy vậy , nội tình ở nước ta lúc bấy giờ vẫn còn xáo trộn mất hết kỷ cương. Ở Trung bộ thì xảy ra sự tương tàn giữa anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ. Trong nam, Nguyễn Ánh trong thế tuyệt vọng do sự truy sát của quân Tây Sơn đã cầu viện từ các cố đạo tây phương và quân Xiêm La. Ngoài bắc thì Nguyễn Hữu Chỉnh sau khi diệt được dư đảng họ Trịnh là Trịnh Bồng vào năm 1786, lại muốn chuyên quyền phản Tây Sơn.

Năm 1787, Nguyễn Huệ liền sai Vũ Văn Nhậm ra dẹp Nguyễn Hữu Chỉnh, xong Nhậm lại trở mặt hùng cứ phương bắc. Năm 1788 Nguyễn Huệ tức tốc mang quân ra bắc lần thứ hai diệt được Vũ Văn Nhậm rồi giao cho Lê Duy Cận làm giám quốc coi việc thờ cúng tôn miếu nhà Lê; xong rút về Phú Xuân lo việc tiêu diệt Nguyễn Ánh và bình định miền nam.

Khi Vũ Văn Nhậm tảo thanh Nguyễn Hữu Chỉnh thì vua Lê Chiêu Thống đã theo lời Chỉnh chạy lên Kinh Bắc, và khi tình hình nguy khốn đã nhờ thái hậu và đứa con trai của vua Chiêu Thống qua cửa ải Thủy Khẩu gặp Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị cầu xin cứu viện.

Nhà Thanh nhân dịp này định thôn tính An Nam. Năm Mậu Thân (1788), quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy mang 29 vạn quân và dân công vượt ải Nam Quan đưa Chiêu Thống về Thăng Long và phong làm An Nam quốc vương.

Trong khi Nguyễn Huệ đang chuẩn bị tiến vào Nam thì nghe tin quân Thanh đã xâm phạm bờ cõi nước Nam. Tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), Nguyễn Huệ liền xưng đế hiệu là Quang Trung để được chính danh kéo 10 vạn quân ra Bắc Hà, chỉ một trận quét sạch 29 vạn quân Thanh. Chiêu Thống lại phải chạy theo bại quân nhà Thanh sang Trung Quốc. Chiêu Thống vẫn chưa thôi mộng phục quốc, lại tiếp tục xin Càn Long cho quân cứu viện; nhưng Nhà Thanh thấy tình thế không lợi nên lờ đi và phong Quang Trung Nguyễn Huệ là An Nam quốc vương và nhận tiếp sứ của nhà Tây Sơn.

Trên bước đường lưu vong, năm 1792 con trai chết, năm sau Chiêu Thống thất vọng và chán nản, lâm bệnh rồi qua đời tại Yên Kinh.

Các tác giả trong tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí viết: “Nước Nam ta từ khi có đế, có vương tới nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế. Tiếng là làm vua, nhưng niên hiệu thì viết là Càn Long, việc gì cũng do viên tổng đốc, có khác gì phụ thuộc vào Trung Quốc?”

Lê Chiêu Thống đã sang cầu viện Thanh triều đem quân sang đánh Nhà Tây Sơn với hy vọng được trở lại ngai vàng. Việc làm đó của ông đã bị các nhà sử học trong nước sau này chỉ trích dữ dội, coi đó là hành vi bán nước, “cõng rắn cắn gà nhà”.

Đó là vào thời phong kiến, quan hệ địa lý chính trị còn đơn giản và do nhãn quan thế giới bị giới hạn, vua chúa Việt Nam mỗi khi gặp nguy cơ mất ngôi luôn nghĩ đến Thiên triều Trung Quốc mà cầu viện. Họ chỉ quan tâm đến quyền lợi gia tộc riêng mà quên họa mất nước luôn theo sau hành vi nông nổi “rước voi về giầy mả tổ” của mình.

Đời sống và đạo lý xã hội còn thuần nhất nên việc phán xét công tội cũng dứt khoát phân minh. Việc làm phản quốc của kẻ có vị trí càng cao thì tội càng nặng. Nhưng mấy ai học được các bài học lịch sử ấy? Vì vậy ta luôn quen nghe câu nói “Lịch sử chỉ là một sự lập lại”.

II. Thời Đại Mới:

Sau khi Hoàng đế Quang Trung bị đột tử năm 1792 tại Phú Xuân thì Nguyễn Ánh mới có cơ hội giành được ngôi vua vào năm 1802 với sự trợ giúp cật lực của ngoại bang tây phương, mở đầu cho triều Nhà Nguyễn kéo dài gần 150 năm, nhưng hết 60 năm đất nước lại bị thực dân Pháp đô hộ.

Bọn tây phương bấy giờ đang trên đường xâm chiếm các nước nhược tiểu làm thuộc địa và cướp bóc tài nguyên, đã xử dụng một vũ khí mới vô cùng lợi hại trong việc xâm lăng. Đó là đạo Ki-tô; mà riêng vùng Viễn Đông châu Á lúc bấy giờ Ca-Tô Rô-Ma là đội quân xung kích.

Những đặc điểm của kế sách này:

1) Bọn thế lực thực dân hợp tác chặc chẻ với Vatican gởi bọn cố đạo gián điệp vào nước người trước dưới vỏ bọc “truyền giáo”. Trước tiên là theo các tàu buôn ‘vô tội’ để mở rộng giao thương; và khi tình thế cho phép thì hướng dẫn cho tàu chiến vào đánh phá.

2) Trước tinh thần hiếu hòa của dân bản địa, bọn cố đạo chuẩn bị mặt trận tâm lý chiến, tuyên truyền về một chủ thuyết đạo đời xa lạ; qua đó tẩy não quần chúng tân tòng nghèo đói thất học tin vào một quyền năng hoang tưởng như Chúa Cứu Thế ở Âu Tây có giá trị cao hơn Nhà Nước bản địa.

3) Trong khi bọn cố đạo này phục tòng triệt để quyền uy vua chúa của các thế lực tây phương; chúng lại xúi giục giáo dân bản địa xem thường phép nước, quay lung lại với dân tộc mình, phá bỏ những tín ngưỡng truyền thống, xem thường thách thức nhà cầm quyền và sẳn sàng tiếp tay cho quân xâm lược khi chúng ra lệnh.

4) Từng bước xây dựng những căn cứ gọi là xóm đạo, xứ đạo để yểm trợ quân cướp nước và đối kháng với Nhà Nước bản địa, cốt làm suy yếu tiềm năng đoàn kết dân tộc và giúp vào việc mất nước được nhanh chóng hơn.

5) Điều nguy hiểm nhất của chủ thuyết kết hợp đạo đời này là sự nô lệ ngoại bang về tinh thần. Khi Trần Ích Tắc hay Lê Chiêu Thống cầu viện các hoàng đế Trung Hoa; họ chỉ tin vào một phạm trù nhân văn nhất thời. Nhưng một khi Vatican và bọn cố đạo tẩy não quần chúng bần cùng về quyền năng Thiên Chúa (mà thực chất là nằm trong tay các quyền lực của tây phương) thì họ đã phá bỏ lý luận chính trị thông thường và nâng thành một đức tin mê tín hoang đường không tranh cải được, nhưng lại có hiệu quả lâu dài khó dễ gột rữa nhanh chóng.

6) Trong khi nền tín ngưỡng Tam giáo và đạo lý truyền thống của dân tộc qua mấy ngàn năm chỉ phục vụ cho xã hội được thuần hóa đạo đức. Giòng tín ngưỡng ấy luôn luân lưu qua các triều đại một cách hài hòa và không hề đối kháng Nhà Nước để tranh giành quyền lực. Trái lại với tín ngưỡng xa lạ mới từ tây phương thì con chiên luôn được xúi giục manh động phản quốc để áp đặt cho kỳ được tôn giáo mới lên guồng máy Nhà Nước hầu dễ phục vụ cho quyền lợi của tây phương.

7) Giáo dân phản quốc không thấy mình có mặc cảm phản quốc; vì được truyền dạy rằng tiếp tay để tây phương sớm đô hộ dân tộc là một hành vi thánh thiện, là việc đạo, là thể hiện đức vâng lời tuân lệnh giáo hoàng mà rao giảng Tin Lành đến với mọi người đồng chủng, và sẳn sàng tử vì đạo nếu bị chống báng ngăn cản.

Vì vậy có kẻ chăn chiên như Hoàng Quỳnh đã từng hãnh diện tuyến bố “thà mất nước chứ không thà mất chúa!” vì quá tin tưởng vào một ông Chúa ở trên trời … phương Tây, thì thử hỏi những đầu óc con chiên ngu dại làm sao mà sáng suốt hơn được. Vì thế sự cuồng tín, cuồng đạo còn nguy hiễm hơn là cuồng vĩ.

III. Thời Đại Mới Hơn:

Khi thực dân cũ đô hộ nước ta, cùng với Vatican chúng đã hạ quyết tâm cải đạo cho kỳ được một ông vua bằng mọi phương cách; nhưng tiếc thay một Bảo Đại được nuôi dưỡng ở mẫu quốc xa rời tổ quốc khá lâu vẫn không làm thay đổi được cục diện.

Thời thế biến chuyển đã làm cho Pháp suy nhược và Mỹ thay thế vai trò thực dân mới, tiếp tục hợp tác với Vatican vì kỳ vọng vào bầy chiên bản xứ trung thành hầu lật được thế cờ. Vì thế vào năm 1954 đất nước bị bọn tây phương cấu kết chia đôi mà dân tộc Việt không hề được hỏi ý kiến hoặc trưng cầu.

Vatican và Âu Mỹ cho dựng hai chế độ Ca-tô Diệm Thiệu ở miền Nam bất kể nguyện vọng của dân chúng để kéo đất nước vào cuộc chiến thảm thương vô vọng thêm 20 năm nữa mới chịu buông tay vào năm 1975.

Cũng vì luôn dựa dẫm vào quyền năng của Chúa trên trời và Chúa dưới đất ở Vatican; cộng thêm vào viện trợ và vũ khí của Âu Mỹ mà mấy thế kỷ qua đám chăn chiên lẫn con chiên bản xứ từ một thành phần thấp kém trong xã hội ở buổi ban đầu váo thế kỷ 16, 17 bỗng cảm thấy vụt chốc vươn lên thành anh khổng lồ Goliath trong Thánh Kinh, hoặc tựa như chó berger cậy hơi chủ tây đầm, hung hản coi Chúa luôn ở cạnh mình mà xem trời bằng vung, bộc lộ thái độ ngạo mạn khinh thường dân tộc.

Mọi việc trái với đạo lý của dân tộc, nhưng một khi được các kẻ chăn chiên tha tội nhân danh Chúa ở trên trời là xong, lương tâm không còn bị cắn rức nữa và cứ thế mà tiếp tục tiếp tay cho ngoại bang không ngần ngại.

Than ôi! thời oanh liệt qua đã gần 40 năm rồi, nhưng vì Vatican và Âu Mỹ vẫn còn hét ra lửa mữa ra khói trên vũ đài thế giới nên bầy chiên vẫn chứng nào tật nấy. Mới hoàn hồn chưa được bao lâu vì chủ bỏ chạy không kịp “di cư” toàn thể bầy chiên Việt đến “xứ tự do Vatican”, nay lại móc nối nhau trong ngoài lại mưu toan phản quốc thêm lần nữa.

IV. Cuộc Chiến Văn Hóa:

Ngày nay với các tiến bộ thông tin nhanh chóng, với vũ khí càng tối tân Âu Mỹ vẫn không từ bỏ các cuộc “thánh chiến” (crusades) vào các vùng có nền văn hóa phi Ki-tô. Khi xua quân Mỹ vào Iraq, TT. Bush con đã tuyên bố một câu trắng trợn “Đây là một cuộc chiến tranh văn hóa giữa Christian và Muslim.” Câu này đã bộc lộ tâm cảnh của các đầu óc thực dân xưa nay của Âu Mỹ, ngày nào chưa thống trị được nhân loại thì ngày ấy chiến tranh chưa thể chấm dứt.

Bầy chiên da vàng trong và ngoài nước Việt vì thế đã nhận được ngân quỉ tài trợ từ đủ loại nguồn chìm và nổi để phá rối và khuynh loát đất nước liên tục. Mỹ đã không che giấu các “phân” (funds) này như The National Endowment for Democracy (viết tắt NED), nằm trong tài khoản của USAID và là một bộ phận của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, hay The International Republican Institute (IRI) đã nhận khoản 1 triệu 2 đô-la từ NED trong năm 2009 để phá hoại nội bộ các nước kém thân thiện với Mỹ. Xem thêm ở: http://en.wikipedia.org/wiki/National_Endowment_for_Democracy

Điều đáng để ý ở đây là trong các chương trình hoạt động quấy rối nhận tiền của NED có Journal of Democracy, the World Movement for Democracy, the International Forum for Democratic Studies, the Reagan-Fascell Fellowship Program, the Network of Democracy Research Institutes, và the Center for

International Media Assistance.

Do đó mà các loại báo … hại, giấy và mạng của các nhóm gọi là đấu tranh cho Dân chủ, Tự do tôn giáo và Nhân quyền vv… của bầy chiên vàng trên thế giới, trong đó kể cả các đài công ty làm văn nghệ giải trí, các đài VOA, BBC, RFI vv… đều đua nhau xin “phân” của Mỹ để sống qua ngày. Các chiêu bài trên chỉ là điểm cho diện là sách lược tiêu diệt nền văn hóa truyền thống của dân tộc.

Vẫn giống như cha ông họ trước đây, bầy chiên da vàng hải ngoại lại bao thầu tất cả các dịch vụ “chống cộng có lương”. Cứ thử đọc tên các tổ chức chống cộng hằm bà lằng là đã thấy đến 90% thấp thoáng bóng dáng nhà thờ và dân Chúa.

Vì thế vụ TNT (xin đừng nhầm với chất nổ TNT – TriNitroToluene) do bầy chiên da vàng bỏ xứ đánh phèn la… lủng ở Washington DC gần đây chỉ là một hoạt động thường xuyên … kiếm cỏ trên sân chủ để gậm mà thôi. Đã bao lần bị chủ Âu Mỹ lừa gạt đưa thân vào tử lộ nhưng một khi CHúa trên trần ở Vatican vẫn còn hợp tác với tây phương thì … ta nào có oán trách gì chủ, vẫn hăng say phục vụ theo lời chủ sai bảo mà thôi. Mối hận với đồng chủng thì khó quên còn bị chủ gạt thì chỉ là chuyện nhỏ vì ta, cũng như cha ông ta vẫn còn cần chủ nuôi để mà sống cơ mà.

Cứ xem phản ứng … yên lặng của Nhà Nước Việt Nam thì đủ thấy họ chẳng xem các hoạt động ruồi bu của bầy chiên da vàng này ra gì cả. Ngay cả Vatican kia họ còn coi xem thường huống chi là bầy chiên nô lệ.

Mọi người đều lấy làm lạ là bầy chiên da vàng chiếm đoạt các môi trường truyền thông trong các cộng đồng ở xứ người rồi đua nhau … nổ như TNT đầy hoang tưởng bệnh hoạn đã gần 40 năm nay nào có thấy CSVN … run rét như họ thường tự sướng, mà đất nước lại càng giàu đẹp hùng mạnh thêm đến nổi chủ của chúng còn ‘XIN’ quay lại làm ăn.

Đồng hương ai cũng than lúc còn cả 1 triệu quân, súng ống giắt đến tận răng, chủ và Chúa luôn đứng bên cạnh mà còn bỏ của chạy lấy người thì nay chỉ còn vài tên lão chiến binh với súng nước, gậy chống cùng bình oxy và xe lăn thì còn lòe được ai mà cứ mãi nhi nhô đến chán.

Chính sách hiện nay của Nhà Nước tuy âm thầm mà thực hữu ích cho bầy chiên còn lưu lại chút lương tâm dân tộc và giúp họ “hoàn lương” là kiên quyết đập tan “hào quang bất khả xâm phạm” của đám chăn chiên bản xứ do bấy lâu nay dựa hơi ngoại bang mà ảo tưởng có được. Đến lúc con chiên nhìn ra Chúa thứ hai cuả họ cũng chỉ … là con người tầm thường và phải tuân thủ luật pháp quốc gia như mọi công dân khác thì đất nước mới yên hòa vĩnh viễn được.

Thiên Lôi

Categories: Lật đổ chính quyền | Nhãn: | Bình luận về bài viết này

GIANG HỒ THẬT HAY GIANG HỒ ĐỂU: Người Buôn Gió

Phạm nhân: Bùi Thanh Hiếu

nguoibuongio

Tên thật: Bùi Thanh Hiếu

Nickname: nguoibuongio
Bút danh: Người Buôn Gió, Đồng Hới, Phong Thương, Đoàn Hưng, Vĩnh Toàn.
Ngày sinh: 06/02/1972
Email: thule246@gmail.com
pthuy_ttvn@yahoo.com
phongthuongthaiha@gmail.com
Địa chỉ: 22 Ngõ Phất Lộc, Phường Hàng Buồm,Quận Hoàn Kiếm, Hà nội
Phone: (04) 329 5536
Di động: 0913 569 746 – 0168 489 5503 (Số đang dùng)
IP Address: 118.71.52.75
Blog: nguoibuongio.multiply.com
vn.360plus.yahoo.com/pthuy_ttvn

Trước hết chúng tôi xin cáo lỗi bạn đọc, đúng ra kỳ này chúng tôi công khai hồ sơ về nhân vật “thờ thẫn thẫn thờ”, tuy nhiên vì cần xác minh một số điểm nghi vấn về vị “nghệ sĩ” này, chúng tôi xin trở lại nhân vật này trong vài bài viết tới. Kỳ này, chúng tôi xin giới thiệu với độc giả một Blogger vô cùng “nổi tiếng”, blogger Người Buôn Gió.

Người Buôn Gió tên thật là Bùi Thanh Hiếu, anh xuất thân từ gia đình gia giáo. Lớn lên cũng như bao người con đất Việt khác, anh trúng tuyển nghĩa vụ quân sự và trở thành anh “bộ đội Cụ Hồ”. Sau khi xuất ngũ, anh cũng làm việc ở vài nơi, tuy nhiên, với bản tính thích “đâm bị thóc, chọc bị gạo” với đồng nghiệp và cả cấp trên, anh đã bị sa thải hết lần này đến lần khác.

Thế là, anh quyết định ở nhà, tham gia phụ giúp các việc lặt vặt cho gia đình và “hàng xóm”, đồng thời viết blog để than thân trách phận và châm chích Nhà nước cộng sản. Anh được các anh “an ninh nhân dân” đưa vào sổ bìa đen từ đó. Anh càng trở lên nổi tiếng sau việc tham gia biểu tình tại Đại sứ quán Trung Quốc về vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, và mới đây nhất là phát áo phản đối dự án Bauxite và chửi anh hai “Tàu khựa” một cách “quá khích”. Sau vụ này, anh cùng “nhà báo” Đoan Trang được an ninh cộng sản cho “nghỉ dưỡng” một tuần.

“Sự nghiệp” và “chiến tích” của Người Buôn Gió hầu như ai cũng biết qua các loạt bài viết “sắc sảo”, chửi thẳng vào chế độ nhưng không ai “bắt bẻ” anh được, vì anh biết cách “lách bút”. Sau mỗi bài viết, anh “hỉ hả” vào x-café để nhâm nhi ly café và xem các “đồng bạn” của mình nhận định và tâng bốc anh đến tận mây xanh. Nếu chỉ như vậy, anh thật chưa xứng đáng được chúng tôi đưa lên trang tin này, vấn đề là: Tại sao anh phải làm như vậy? Ai đã hậu thuẫn và lo “cơm ăn áo mặc” để anh có thời gian “múa bút”?

Qua một số “chí hữu” thuộc “Vụ Quốc Nội” Đảng Việt Tân tiết lộ: Bùi Thanh Hiếu đã là “cảm tình Đảng” từ lâu và hiện đang là cộng tác viên thường trực của Đài phát thanh Tiếng Nước Tôi (Úc Châu) với bí danh “TG”. Hàng ngày, anh viết bài và gửi cho “chí hữu” Lê Ánh (phụ trách “Vụ Quốc Nội”). Các bút danh Vĩnh Toàn và Đoàn Hưng,.. là do Việt Tân đề nghị anh dùng để “bảo vệ an toàn cá nhân”. Thông qua “Vụ Quốc nội”, anh nhận “nhuận bút” đều đặn. Theo chỉ thị từ Việt Tân: “Phải khắc sâu mâu thuẫn giữa chính quyền cộng sản và tôn giáo để các Tổ chức Nhân quyền Quốc tế có cớ đưa Việt Nam trở lại danh sách các quốc gia vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo”. Theo chỉ thị đó, anh nỗ lực tiếp cận và tạo các mối quan hệ sâu hơn với các Cha Thái Hà, từ đó, anh thường được các Cha dẫn đi thăm các giáo dân thiểu số vùng cao (Lạng Sơn, Thanh Hóa,…) để dàn dựng tư liệu phục vụ cho các bài viết của mình. Vụ việc Giáo xứ Thái Hà trong thời gian gần đây là “công lớn” của anh đối với “Đảng”. Cũng trong một lần đi “thực tế” ở vùng cao, có lẽ Việt Tân trả “nhuận bút” chưa đủ nhu cầu cuộc sống, anh đã “lỡ tay” mang một ít thuốc phiện về miền xuôi để kinh doanh thử nghiệm, hôm đấy anh đã bị an ninh cộng sản “lợi dụng cơ hội” để làm khó dễ đủ bề, may mà chủng loại và liều lượng loại “thuốc quý” anh đem theo chưa “đủ tuổi” để anh “xộ khám”.

Ngày anh được thông báo có tên trong danh sách đề cử giải “Hellman / Hammett 2010” do Việt Tân gửi lên gửi lên Tổ chức nhân quyền Human Rights Watch là ngày anh quyết định “gắn bó lâu dài” với “chính Đảng” của mình. Các bài viết của anh ngày một “biến hóa” linh hoạt hơn theo đúng “định hướng” của các lãnh đạo “Đảng”.

Các thông tin về “Việt Tân”, chúng tôi xing tạm dừng ở đây và sẽ quay lại trong một đề tài khác về các tổ chức chính trị, trên một trang thông tin riêng.

Hiện nay, anh đang sống cùng vợ là Dương Mỹ Liên (Nhân viên ngân hàng, cũng là thư ký, quản lý “nhuận bút” giúp anh) cùng cậu con trai Tí Hớn kháu khỉnh.

Bùi Thanh Hiếu và các “chí hữu” Nguyễn Tiến Trung (“Nguyên” Phó tổng thư ký phụ trách Ban Thanh niên – Đảng Dân Chủ Việt Nam), Nguyễn Văn Hải (Bloggerr Điếu Cày)


Phút “suy tư”, chờ “nhuận bút” của “chính Đảng” gửi về!


Trước giờ “tác nghiệp”

Web Diễn Biến Cộng Đồng-Thông tin Berlin

TTBL: Bloger Người Buôn Gió tức nhà báo tự do Bùi Thanh Hiếu đã tự Post lại trên Blog của mình những dữ kiện mà Hacker diễn đàn X-cafevn đã đăng tải.

Đăng một số thông tin về Người Buôn Gió, đây là tài liệu quý báu để cơ quan an ninh tiến hành điều tra truy tố NBG.

Có một điều NBG thực sự chưa bao giờ đăng ký thành viên của X-Cafe. Và duy nhất dùng email pthuy_ttvn@yahoo.com.vn

Các thông tin và ảnh có thể thấy trong blog của Người Buôn Gió. Ngoài ra các thông tin khác đang cần cơ quan an ninh điều tra của Bộ Công An xác minh tiếp. Nay đưa lại đây cho bà con rộng đường dư luận.

Giang hồ thật hay giang hồ đểu

~ O ~

Trên diễn đàn Paltaks có đến gần 600 diễn đàn người Việt. Trong khi các nước lân cận cùng lắm chỉ vài ba diễn đàn như Thái Lan, Nhật….Thế mới thấy nhu cầu trao đổi thông tin,tự do ngôn luận và cả nhu cầu xả bức xúc, buôn chuyện của người Việt cũng rất cao.

Đa phần những diễn đàn này đều do người Việt hải ngoại bỏ tiền ra mua nếu số lượng người tham dự và quan hệ với Trung Quốc.không trên 250. Còn dưới số đó thì miễn phí, để bàn luận về hiện tình đất nước hay giao lưu tình cảm, học kiến thức theo nhiều sắc thái khác nhau. Cá biệt một số ít diễn đàn chỉ rặt những giọng điệu vô học có ngay từ tên gọi. Như diễn đàn miễn phí có tên “Giang Hồ VN toàn cầu chống Cộng Sản” mà chủ diễn đàn có tên là Lý Mạnh Tiến nick name Nhạc Phi, một bác sĩ người Việt ở Ca Na Đa (đây thì thầy lang cũng là bác sĩ ) tự xưng là nguyên cựu sĩ quan tình báo này nọ. Cùng điều hành diễn đàn này còn có một phụ nữ có nick là Nhạc Phòng Trà có tên là Đỗ Quỳnh Dao. Hầu như hai nhân vật này độc diễn hoàn toàn phần phát biểu. Bằng những giọng điệu cực kỳ vô học, chúng chửi bất kỳ ai mà chúng không ưa. Dù là cộng sản hay không cộng sản. Chúng nhân danh là người đấu tranh cho dân chủ, tự do và vì lý do ấy chúng tự cho mình quyền mạt sát chính quyền Việt Nam lẫn bất cứ ai không đồng tình với chúng. Bằng những ngôn ngữ cực kỳ mạt hạng.

Cái cách mà Lý Mạnh Tiến và Đỗ Quỳnh Dao thể hiện sự hăng hái chống Cộng sản thực ra rất nguy hiểm, không hề gây hại cọng lông chân những người cộng sản ở Việt Nam. Mà sự hăng hái đê tiện như vậy dường như muốn cố ý cho những người trong nước thấy rằng. Đó, bọn dân chủ, bọn chống Cộng hải ngoại là vô học, là cay cú và khát máu như vậy đó. Đồng bào trong nước thấy rõ bộ mặt của bọn chống Cộng hải ngoại chưa, hãy nghe giọng điệu của chúng thì thấy ngay bản chất của chúng. Lý Mạnh Tiến và đồng bọn Đỗ Quỳnh Dao ít nhiều đã thành công khi minh họa cho đài báo trong nước tuyên truyền về hình ảnh một đám người hải ngoại hiếu chiến mù quáng, ngu dốt và mông muội. Qua đó làm mất niềm tin giữa những người trong nước và đồng bào bên ngoài.

Lý Mạnh Tiến thường tự hào mình đấu tranh cho tự do, dân chủ ở Việt Nam một cách quang minh , chính đại khi công khai tên tuổi của mình. Hỡi ơi. Lý Mạnh Tiến ở tận bên kia bờ đại dương, công khai hay không thì nguy hại nỗi gì. Chả lẽ Lý Mạnh Tiến nghĩ rằng an ninh Việt Nam sang tận đó để mà xử hắn hay sao. Thật hoang tưởng một cách lố bịch. Tiến không tầm cỡ bằng cái móng tay của Trotxky và Việt Namcũng chả có lãnh đạo nào như Xtalin để mà làm việc ấy. Nhưng dường như bất chấp sự thật điều đó, Lý Mạnh Tiến huênh hoang cho rằng mình thật “can đảm” khi ngồi bên phương trời xa tít tắp hiên ngang xác nhận tên tuổi chống Cộng, chấp nhận mọi hiểm nguy – do hắn tưởng tượng ra.
Không những ra sức mạt sát chính quyền Việt Nam bằng giọng điệu khiến người dân trong nước vô hình chung có cảm nghĩ không tốt về người Việt hải ngoại đi hồi năm 1975. Lý Mạnh Tiến liên tục gây nhiễu loạn khi chứng cứ thì mập mờ, nói thì kịch liệt về những nhân vật như Nguyễn Sĩ Hoàng, Cù Huy Hà Vũ … vu cho những người này là do nhà nước Việt Nam dựng lên để phá phách phong trào này , đánh lạc hướng dư luận nọ. Ý đồ thâm độc này của diễn đàn Lý Nhạc Phi không nói mọi người suy luận một chút cũng hiểu.

Lý Mạnh Tiến nhận mình là một thành viên chủ chốt của diễn đàn X- cafevn. Qua tìm hiểu bên X- Cafevn nói rằng họ không xác nhận điều này và họ cũng không chứa những loại người như Tiến trong diễn đàn, đừng nới là thành viên chủ chốt hay quản trị .

Cả chuỗi việc làm có hệ thống và toan tính của những loại người như Lý Nhạc Phi, Đỗ Quỳnh Dao thực sự là có chủ định là bôi nhọ cộng đồng Việt Kiều hải ngoại tạo mâu thuẫn chia rẽ, gây sự thiếu thiện cảm của đồng bào trong nước với những cụm từ như “dân chủ, nhân quyền, tự do…”.
Việc làm này có lợi cho ai ? Và ai là kẻ đứng đằng sau mưu đồ thâm hiểm này ?
Câu trả lời quá dễ .

Chúng ta không lạ gì trò lẫn vào đám đông, để rồi hò hét quá khích, thúc dục bạo loạn như vụ Thiên An Môn. Những kẻ tỏ vẻ hung hăng, hành động điên cuồng và nhanh chóng biến mất vài phút khi quân đội , cảnh sát có cớ ra tay đàn áp.


Thế mới biết vì sao đã 34 năm trôi qua, người dân trong nước không đặt nhiều niềm tin vào lời đồng bào của mình bên ngoài.

Người Buôn Gió, Văn Nghệ, 18/3/2010
NDVN, 20/9/2011

nhandanvietnam.org

Categories: Lật đổ chính quyền | Bình luận về bài viết này

Nhà nước CHXHCNVN hãy tống bắt giáo dân Việt gian nổi loạn ở Thái Hà, đòi đất bị tịch thu năm 1954

Nhà thờ Thái Hà quyết theo đuổi công lý đến cùng trong vụ căng thẳng đất đai với chính quyền Hà Nội, sau cuộc xuống đường ngày 18/11 quanh Bờ Hồ Hoàn Kiếm quy tụ hàng trăm người tham dự.

Linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong, thuộc giáo xứ Thái Hà, cho VOA Việt Ngữ biết:

“Ngay chiều hôm đó, công an, cảnh sát, dân phòng, và một số dân được thuê mướn tới bảo vệ khu vực đang có tranh chấp. Suốt hai ngày thứ bảy, chủ nhật, lực lượng công an được triển khai đông hơn mọi ngày. Chúng tôi xác định khi nào mọi việc chưa được giải quyết thỏa đáng, bổn phận của chúng tôi vẫn phải đi tìm công lý, bằng cách nào, hoàn cảnh sẽ dẫn dắt chúng tôi. Chúng tôi quan niệm rằng nhà nước không trả thì chúng tôi không thôi đòi. Chuyện chúng tôi đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình phải được pháp luật bảo hộ.”

Trước cuộc tuần hành ngày 18/11, nhà thờ Thái Hà trương bảng chữ điện yêu nhà nước tôn trọng đất đai của giáo hội, nhưng sau đó đã cho tháo gỡ, đáp yêu cầu của chính quyền.

Linh mục Nam Phong nói hành động này hầu chứng tỏ thiện chí:

“Để tỏ rõ thiện chí để đi tìm giải pháp tốt nhất. Vấn đề đằng sau đó là đi đòi sự thật, công lý cho cả đất nước này. Đó là điều mà Việt Nam hiện tại rất thiếu.”

Tranh chấp đất đai ở giáo xứ Thái Hà từng lên tới cao điểm hồi năm 2008, với các buổi cầu nguyện tập thể đòi chính quyền trả lại những tài sản của giáo hội bị tịch thu cách nay hơn nửa thế kỷ và bản án dành cho 8 giáo dân về tội phá hoại tài sản và gây rối trật tự công cộng. [VOA]

DÒNG GIUSE Ở NHA TRANG KHỞI LOẠN ĐÒI ĐẤT

Đai Việt Gian TGM Nguyễn Văn Bình

Khi tiếng súng cách mạng Đại Thắng Mùa Xuân, ngày 30 tháng 4 năm 1975, giải phóng thủ đô Sàigon, chế độ tay sai bù nhìn Việt gian VNCH, thì Hội Đông Giám Mục Công Giáo Miền Nam do đại Việt gian TGM Nguyễn Văn Bình* “Đại Viêt gian Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình, đã từng kêu gọi Mỹ tiếp tục oanh tạc cày nát từng tất đất miền Bắc, giết sạch dân chúng miền Bắc, để Ác nhân Nguyễn Văn Bình lên Thiên đàng, như sau: “ TGM Nguyễn Văn Bình ở Sàigon, được mọi quan sát viên Tây phương xem là người ôn hoà nhất trong số những nhà lãnh đạo Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, mới đây đã chấm dứt  yên lặng khi tuyên bố chống lại việc Mỹ ngưng oanh tạc miền Bắc “( báo Le Monde ngày 22 – 10- 1968 )”, để bảo toàn lực lượng, hắn nhanh tay thực hiện khổ nhục kế và ra lệnh toàn thể linh mục tham  gia mọi công tác thủy lợi, đào kinh và tự động dâng hiến (tất cả đều bị trưng thâu , nộp cho nhà nước) tài sản giáo hội như ruộng đất, trường học, nhà thương.v.v..mà Giáo Hội Công Giáo Việt Gian, đã cướp đọat và gầy dựng từ thời thực dân Pháp, Mỹ và Diệm Thiệu, bề mặt tỏ ra hồ hởi tuân hành những chính sách của Ðảng và nhà nước, thực hiện những đề án của Ban Tôn Giáo trong thời Lê Duẫn và Lê ĐứcThọ, để mua thời gian cũng cố đạo quân thứ năm và chui sâu trèo cao xâm nhập chính quyền và đảng, chờ đợi thực dân đế quốc xâm lược Mỹ-Vatican, bật đèn xanh DBHB

Tự điển tiếng Việt, trưng thu có nghĩa là tịch thu tài sản của tư nhân trong đó có ngụy quân ngụy quyền VNCH có tội ác bốc lột, đàn áp, cướp đoạt tài sản nhân dân và trốn chạy theo đế quốc Mỹ, hay các cán bộ nhà nước CHXHCNVN tham ô… , tổ chức kinh tài đảng phái Việt gian, tôn giáo, gian thương Chợ Lớn…làm giàu phạm pháp như tham nhũng, trộm cướp, buôn lậu, ma túy và GHCGVN Việt Gian cướp đọat tài sản đất nước …nộp cho nhà nước để xung vào tài sản quốc gia  dùng vào việc công ích sau này, đồng nghĩa giao cơ sở hay tự động dâng hiến, được nhà nước Việt Nam đặc ân khoan hồng tội phản quốc GHCG Việt gian, thoát khỏi học tập cải tạo hay bị lưu đày hay tử hình….

Thế nào là Trưng Dụng, Ông linh mục Hoàng yêu dấu của tôi ơi!!! Nhà nước có quyền  trưng dụng đất đai để làm việc công tác có ích lợi chung đều được coi như cần thiết, miễn là bồi thường xứng đáng cho sở hữu chủ

“ Thẩm quyền trưng dụng bất động sản của chính quyền địa phương không nhất thiết giới hạn trong phạm vi nhu cầu công ích (public use) như xây dưng cầu cống, làm đường xá, cất trường học hay công sở. Thẩm quyền này còn nới rộng đến cả mục đích chung ( public purpose ), có nghĩa là trưng dụng bất động sản này trao cho cá nhân khác để phát triển thương mại, nhằm tạo thêm tiền thuế cho chính quyền địa phương, cũng như tạo các công ăn việc làm mới ”…

Đông Dương Thời Báo, tin chắc rằng chính quyền Nha Trang và Trung ưong hoàn thành xây cất Chung cư, Siêu thị và trường Trung học cơ sở Võ Thị Sáu, và nay tiếp xây dưng thêm Công Ty Chế Biến Hải Sản trên đất của nhà nước (đã được nhân dân Nha Trang trưng thu đất đai nhà dòng Giuse cướp đọat của đất nước từ thời thực dân đế quốc Pháp-Mỹ Diệm Thiệu), chứ không trưng dụng, bất động sản nhà dòng Giuse, cho nên nhà nước không có bồi thường một xu nghe rõ chưa ông linh mục Lưu Minh Hoàng (ông nói với đài BBC, là ông không cho nhà nước thuê đất của GH, để xây cất Công Ty Chế Biến Hải Sản ngày 6/1/07 (sic) Ông tà đạo Hoàng ơi! Vui lòng ông chỉ cho nhân dân ta biết GHCG Việt Gian, GHPHVNTN Việt Gian Bất Hợp Pháp Quảng Độ,  GHPGVN Hợp Pháp và GH các tôn giáo hợp pháp khác  có chủ quyền nắm đất nào ở đâu??? trên quê hương đất tổ Việt Nam . Ông tà đạo Hoàng, nên nhớ cơ sở Giáo hội các Tôn giáo trên đất nước Việt Nam, Mỹ, Anh, Pháp, Ý,…và các quốc gia trên quả đất này, là không bao giờ, không bao giờ có được sở hữu chủ nắm đất nghe ông!!!. Mà chỉ có nhân dân và nhà nước là chủ quyền đất đai của quốc gia đó ạ!!! Ngay mãnh đất chỉ bằng 5 hay 10 cái sân Football Mỹ của Tụ Sảnh Đường Mafia Vatican, là đất của nướcÝ, không biết khi nào nhà nước Ý tống đuổi không cho thuê nữa, theo nguồn tin “xì ra” có thể Mafia Vatican sẽ đến cắm dùi thuê đất Việt Nam???,  để tiếp tục hoạt động giết người, cướp của và hút máu nhân loại, núp dưới chiếc áo chùng đen), sao ngu nghiện đạo thế, bị bọn đài RFA “bơm vá”, nên ông tà đạo Hoàng và giáo dân tà đạo lại nổi loạn vào ngày 6/1/07.

Thỉnh cầu nhà nước, nên cho ông tà đạo Lưu Minh Hoàng và giáo dân nổi loạn cải tạo học tậpđếm lịch để rõ nghĩa trưng thu đất dòng Guise là gì?

Em ĐDTB, hằng sống phục sinh yêu dấu của anh tà đạo linh mục Lưu Minh Hoàng ngu nghiện đạo, cuồng tín lại nổi chứng phản loạn, xúi giáo dân ngu nghiện cản trở công trình xây cất Công Ty Chế Biến Hải Sản của nhà nước xây cất trên đất nhà nước đã trưng thâu đất nhà dòng thánh Guise và được các Ngài Mỹ con=thằng bồi=con ở=Việt gian Petrús Key Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Giang, Đinh Quang Anh Thái…các đài Việt gian ăn phân NED DBHB ( VOA, BBC, RFI, RFA…) và các đài, báo chí, Internet….của Mafia Việt gian Công giáo CCBK, CCCB, CCCĐ, CC JESUSMA, CCQA…vẫn ngu dốt trụt hậu, và bán khai không biết nghĩa trưng thâu và trưng dụng? Cho nên, đã “bơm vá” phỏng vấn, phổ biến trên báo, trên mạng…từ vụ xây cất cơ cở Trường Trung Học Võ Thị Sáu, mở rộng  khang trang và tiên nghi cho con em ở Nha Trang, cùng với Siêu Thị và Chung Cư, của đề án phát triển kinh tế thành phố Nha Trang, cũng có bị một thời gian gián đoạn, bởi anh yêu dấu tà đạo Hoàng xúi giáo dân nổi loạn.

Tặng Anh tà đạo Lưu Minh Hoàng, một chứng liệu vô giá, lắm anh Hoàng của em ĐDTB, để xác minh tên Đại Việt gian Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình có đại công với Giáo Hội Công Giáo Việt Gian vô cùng, mà theo em, anh tà đạo Hoàng nên vận động Mafia Vatican La Mã, hãy phong Thánh Ma cho hắn, đã cứu GHCG Việt Gian, là ông tà đạo TGM Nguyễn Văn Bình, để bảo toàn lực lượng, hắn nhanh tay thực hiện khổ nhục kế và ra lệnh toàn thể linh mục tham  gia mọi công tác thủy lợi, đào kinh và tự động dâng hiến (tất cả đều bị trưng thâu , nộp cho nhà nước) tài sản giáo hội như ruộng đất, trường học, nhà thương.v.v..mà GHCG Việt Gian đã cướp đọat và gầy dựng từ thời thực dân Pháp, Mỹ và Diệm Thiệu. Để ông tà đạo Hoàng, nhớ lại ngày ấy ông cũng khổ nhục kế, kéo dài mạng sống “C” của ông cho đến ngày nay, chứ lúc đó ông có hành động phản loạn như bây giờ, thì mạng “C” của ông đã được phơi xác ngoài phố chợ vào ngày đầu Nha Trang Giải Phóng, để ông toại nguyện bao nhiêu năm tu học tà đạo, được ơn thiên triệu gọi vềhưởng nhan thánh Chúa “C” nghe ông.

Chứng liệu này, do giáo dân Nguyễn Văn Lục, là bào đệ giáo dân Nguyễn Văn Trung, Quân ủy Phong Trào Giáo Dân Hải Ngoại ( Cần Lao Công Giáo, phục sinh ở Hải ngoại), nhân kỷ niệm 31 năm Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75, viết trên Web Đàn Chim Việt, ngày 26/4/06:

nhandanvietnam.org

Categories: Lật đổ chính quyền | Bình luận về bài viết này

Vài nét về chí sĩ anh minh “Cụ Diệm”: Chính nghĩa đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa – Phần II.

Sau khi về làm Thủ Tướng và rồi Tổng Thống, ông Ngô Đình Diệm đã cai trị miền Nam như thế nào. Những tài liệu nhận định về con người Ngô Đình Diệm và chính quyền Ngô Đình Diệm của một số tác giả ngoại quốc có tên tuổi sau đây sẽ trả lời câu hỏi này. Những tài liệu này cũng còn cho thấy ý nghĩa đích thực của phong trào tranh đấu Phật Giáo 40 năm trước đây và không còn bị lừa dối bởi những luận điệu quái gở như Phật Giáo thân Cộng, Phật Giáo làm “mất nước” (sic) v..v.. của một đoàn thể đã nổi tiếng là “đã phi dân tộc thì thể nào cũng phản dân tộc.”

1. “Vietnam: Crisis of Conscience” by Robert McAfee Brown, Abraham J. Heschel & Michael Novak, Associated Press, New York 1967, p. 30:

Ký giả người Úc Denis Warner viết “Trong nhiều năm, cái chế độ bạo ngược chuyên chế mà Tây phương đồng minh với ở Saigon (chế độ Ngô Đình Diệm) thì còn tệ hơn là cái chế độ mà Tây phương đang chiến đấu để chống (chế độ CS)”. Diệm và gia đình ông ta đã giết hoặc lưu đày tất cả những thế đối lập. “Diệm đã mất đi sự tin cậy và trung thành của dân chúng” như Bộ Trưởng McNamara đã nhận định ngày 26 tháng 3, 1964.

(The Australian writer Denis Warner wrote that “the tyranny the West allied with in Saigon was in many years worse than the tyranny it was fighting against.” Diem and his family had murdered or exiled all potential opposition. Diem had “lost the confidence and loyalty of his people,” as Secretary McNamara put it on March 26, 1964.)

2. “Fire In The Lake” by Frances Fitgerald (Winner of the Pulitzer Prize, Winner of the National Book Award, Winner of the Bancroft Prize For History), Vintage Books, New York 1985, pp. 134-139:

Cái chất công giáo của Diệm, không hề mở mắt hắn đến với những ý tưởng mới, mà chỉ thuyết phục hắn là cai trị bằng nghi lễ và huấn thị đạo đức là có thể thành công, mà nó có vẻ như vậy trong các làng mạc ở miền Bắc và Trung sống trong cái vỏ bằng sắt và điều khiển bởi các linh mục.

Cái mà hắn ta không ý thức được là cái kiểu cai trị thiển cận như vậy của các giáo xứ có thể thực hiện chỉ vì người Pháp đã bảo vệ họ và tổ chức nền hành chánh quốc gia. Do đó, tham vọng của hắn phục hồi xã hội cổ xưa giống như là của những tên thực dân Pháp, coi mình như cha người ta, đã chống những chương trình cải cách của những giới chức hành chánh nơi thành thị – sự khác biệt là trong khi người Pháp giữ lãnh vực hiện đại cho riêng họ thì Diệm không nhận ra được sự quan trọng của vấn đề hiện đại hóa. Đối với hắn, thế giới hiện đại là Sài-Gòn, cái thị trấn ký sinh trùng đó đã trở nên béo mập bởi máu của thôn quê và lợi lộc của Tây phương…

Những ký giả như Robert Shaplen đã chỉ trích Diệm như làm cho những nông dân xa lánh vì những biện pháp đàn áp của hắn.

Một số đông những giới chức và ký giả, kể cả những người có nhiều kinh nghiệm và có khuynh hướng chính trị khác nhau như Douglas Pike, Chester Bowles, và chuyên gia chống nổi loạn người Anh, Robert Thompson, đều coi Diệm như là kẻ thù của chương trình chống Cộng.

Trong tất cả những năm cầm quyền, Ngô Đình Diệm chỉ có một đồng minh ở thôn quê, đó là những người Công giáo, đặc biệt nhất là những người di cư từ ngoài Bắc vào. Ngay từ đầu, Diệm dùng trong bộ máy hành chánh phần lớn là những người Công giáo, và thiên vị các làng Công giáo đối với phần còn lại của quốc gia. Những giới chức của Diệm, làm việc chặt chẽ với các linh mục, đem phần lớn viện trợ Mỹ cho các làng Công giáo, và phần lớn những nông sản. Chúng cho những người Công giáo quyền khai thác lâm sản và độc quyền sản xuất loại hàng hóa nông sản mới do các kỹ thuật gia Mỹ đưa vào giúp. “Theo đạo có gạo mà ăn” là một câu tục ngữ khi xưa của người Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Dưới thời Diệm người dân Việt đã phải theo cái lệnh này. Đặc biệt ở miền Trung, hàng ngàn người, trong vài trường hợp hầu như toàn thể khu định cư, theo đạo để tránh những dịch vụ cỏ vê của chính phủ, hoặc để tránh biện pháp tái định cư trong vài vùng rừng rú hay sình lầy gian khổ – để giúp những người Công giáo lân cận. Nuôi người Công giáo trong sự tổn hại của phần còn lại của dân chúng, lẽ dĩ nhiên, là một chính sách thiển cận, nhưng Diệm không thấy một đường lối nào khác, và Mỹ cũng không đề nghị cho Diệm một đường lối nào khác.

(Diem’s Catholicism, far from opening him up to new ideas, only persuaded him that government by ritual and moral instruction could work, as indeed it seemed to in the ironclad, priest-ridden villages of the north and center.

What he did not realize was that such parochial governments could operate merely because the French protected them and organized the administration of the country. His ambition to restore the old society therefore resembled that of the paternalistic French colons who had opposed the reformist programs of the metropolitan administrators – the difference being that while the French wished to keep the modern sector for themselves, Diem did not recognize its importance. For him, the modern world was Saigon, that parasite city that fattened from the blood of the countryside and the lucre of the West.

…Journalists, such as Robert Shaplen, criticized Diem for alienating the peasants by his oppressive measures.

..A host of officials and journalists, including such experienced and politically diverse men as Douglas Pike, Chester Bowles, and the British counterinsurgency expert, Sir Robert Thompson saw Diem as the enemy of the anti-Communist project.

…In all the years of his reign Ngo Dinh Diem found only one ally in the countryside, and that was the Catholics, most particularly the northern refugees. From the beginning he staffed his administration heavily with Catholics and favored the Catholic villages over all the rest. The Diemist officials, working closely with the priests, saw to it that the Catholic villages took the bulk of US relief aid, the bulk of agricultural credit.

They gave the Catholics the right to take lumber from the national reserves and monopoly rights over the production of the new cash crops introduced by the American aid technicians. “Turn Catholic and have rice to eat”, went the old Vietnamese saying under the French regime. Under Diem the South Vietnamese continued to follow the injunction. In Central Vietnam particularly, thousands of people, in some cases virtually whole settlements, turned Catholics so as to escape the government corvés or to avoid resettlement – for the benefit of their Catholic neighbors – into some hardship zone of jungle and swamp. To feed the Catholics at the expense of the rest of the population was, of course, a shortsighted policy, but Diem saw no alternative, and the Americans offered him none.)

3 “Background to Vietnam” by Bernard Newman. Signet Books, New York 1965, p. 117:

Bất kể hiến pháp viết như thế nào, Diệm cai trị như là một nhà độc tài. Triết lý chính trị của ông ta dẫn xuất từ một nhóm Công giáo Pháp, những người đã đặt ra thuyết Nhân Vị. Thuyết này nhấn mạnh đến nhân cách để chống với quan niệm đưa quần chúng vào kỷ luật của Cộng Sản. (Thực ra, đây chỉ là một chiêu bài chống Cộng vì trong cấu trúc toàn trị của Công Giáo thì tín đồ chỉ có quyền vâng phục các bề trên, do đó làm gì có Nhân Vị. TCN). Chi tiết về thuyết này phức tạp, khó hiểu đối với mọi người trừ một triết gia. Một chuyên gia Mỹ được mời đến để cố vấn cho hệ thống thuế má địa phương mô tả thuyết Nhân Vị như là “một pha trộn lộn xộn của những sắc lệnh của giáo hoàng và kinh tế mẫu giáo, tổ hợp với một sự nghi ngờ những tư nhân thương gia, một sự e ngại đầu tư ngoại quốc, và một quan niệm là không thể thành đạt được gì nhiều ở Việt Nam nếu không có sự kiểm soát của chính phủ.”

Trên thực tế chính phủ đây là chính phủ Diệm.

…Ngày tháng qua, cách cai trị của Diệm càng ngày càng trở nên không thể chịu được, và tới năm 1963 hắn là một nhà độc tài hoàn toàn, chỉ nghe những thân nhân trong gia đình. Hắn hoàn toàn xa lạ với quần chúng. Người ta phàn nàn là hắn đã trao những chức vụ tốt nhất cho người Công giáo: nhưng những người Công giáo là “người ngoại quốc” – những người di cư từ ngoài Bắc vào. Sự bất mãn đưa đến phong trào chính trị của Phật Giáo.”

(Whatever the constitution might say, Diem ruled as a virtual dictator. His political philosophy was derived from a group of French Catholics, who formulated a doctrine known as Personalism. It emphasises human dignity as opposed to the Communist concept of disiplined masses. Its detail is complicated, and difficult of comprehension to all but a philosopher. An

American expert who was called in to advise on the local system of taxation described Personalism as “a confused mélange of papal encyclicals and kindergarten economics, combined with a suspicion of private businessmen, a fear of foreign capital, and an attitude that little could be accomplished in Vietnam without direct government control.”

In practice, it meant government by Diem.

…With the passing months Diem’s attitude became more intolerable, and by 1963 he was the complete dictator, seeking advice only from his immediate relatives. He was completely aloof from the common people. It was complained that he gave all the best posts and showed all the favor to Catholics: but the Catholics were “foreigners” – refugees from the North Vietnam. The resentment brought about the rise of a Buddhist political movement.)

4. “Backfire: Vietnam – The Myths That Made Us Fight, the Illusions That Help Us Lose, The Legacy That Haunts Us Today” by Loren Baritz, Ballantine Books, New York 1985, pp. 83-85:

Công giáo Việt Nam phát triển do chính sách kỳ thị Phật Giáo một cách có hệ thống của Ngô Đình Diệm. Người Công giáo được dùng trong các dịch vụ dân sự, trong khi những người Công giáo sống trong những làng mạc thường không bắt buộc phải làm những công việc nặng nhọc làm đường xá và những việc công cộng. Không giống như những Chùa Phật Giáo, nhà thờ Công giáo được đặc quyền sở hữu tài sản đất đai, cũng như trong thời Pháp thuộc. Với thời gian, sự kỳ thị đối với tuyệt đại đa số dân chúng này đưa đến những phản đối chính trị chống Diệm của những nhà sư Phật Giáo.

…Diệm làm cho người Mỹ khó chịu không chỉ vì đường lối cai trị của hắn. Hắn thích thú trong việc đàn áp những đối lập chính trị mà hắn đã bắt giữ lên tới 40000 người. Đầu năm 1959, Diệm hợp thức hóa sự tàn bạo của mình bằng sự thiết lập những tòa án quân sự để xử những đối lập chính trị và xử tử hình trong vòng ba ngày. Những tòa án này bắt giữ, điều tra, và tuyên án những kẻ phạm tội.

Diệm hăng say đóng cửa những nhà báo không ủng hộ hắn. Tệ hơn cả, hắn dẹp bỏ cấp lãnh đạo trong các làng mạc và thay thế họ bằng những người của Diệm. Hắn đã trở thành một nhà độc tài.

(The Catholic Vietnamese thrived under Diem’s systematic discrimination against the Buddhists. The Catholics were preferred in the civil service, while those who lived in the villages were not always required to do the hard labor of building roads and other public works. The Catholic Church, unlike the Buddhist Pagodas, had special rights to acquire and own property, as had been the case under the French. In time, this discrimination against the vast majority of the country would lead to politically lethal protests against Diem by the Buddhist bonzes.

…Diem annoyed Americans not only because his personal way of doing things. He was an enthusiast when it came to repressing his political opponents, of whom he arrested upwards of 40,000. In early 1959, Diem legalized his brutality by creating special military courts to try political opponents and to pass sentences of death in no more than three days. These courts made the arrests, conducted the inquiries, and sentenced the guilty.

…Diem closed newspapers that did not support him with the requisite fervor. Worst of all, he destroyed the leadership in the villages and replaced it with his own appointees. He had become a dictator.)

5. “A Bright Shining Lie” by Neil Sheehan, Vintage Books, New York 1989, p. 143:

Lansdale để cho những tiên kiến của mình đưa tới những giả định sai lầm… Lansdale nghĩ rằng những người Công giáo di cư từ miền Bắc là những người yêu nước đã “chiến đấu giành lại sự tự do của đất nước từ người Pháp”. Hắn không nhìn thấy sự sai lầm nào trong vấn đề Mỹ chỉ tin cậy vào sự trợ giúp đặc biệt của người Công Giáo. Hắn không nhìn thấy vấn đề có một người Công Giáo làm tổng thống của cái mà hắn quan niệm là “Việt Nam Tự Do” là không thích hợp.

Công giáo Rô Ma là một thiểu số có nhiều tỳ vết ở Việt Nam. Lansdale lo việc phân biệt giữa người Mỹ và những tên “thực dân” Pháp. Điều hắn làm là đưa ra sự phân biệt tuy chẳng có gì khác nhau.. Chỉ dựa vào người Công giáo giúp đỡ, và bằng cách đặt một người Công Giáo lên cầm quyền ở Saigon, hắn ta đã chứng tỏ là Mỹ đã nhảy vào thay thế người Pháp. Những người Việt Nam theo đạo Công giáo đã được người Pháp sử dụng như là một đạo quân thứ 5 để xâm nhập Việt Nam trước thời thuộc địa và những người Công Giáo đã được Pháp tưởng thưởng cho sự hợp tác của họ với những tên thực dân Pháp. Người Công Giáo thường bị coi như là thuộc một tôn giáo”ngoại lai”, “không phải là Việt Nam”. Với sự ra đi của người Pháp, hiển nhiên là người Công Giáo phải tìm một một ngoại bang khác để bảo vệ họ. Họ nói với Lansdale những gì mà họ cho rằng Landale muốn nghe…

..Trong sự hướng dẫn Diệm của Lansdale đến thành công bằng cách diệt các giáo phái dựa trên lý thuyết Diệm là Magsaysay để lập một chính phủ tập trung quyền lực mới, không bao giờ Lansdale lại nghĩ rằng Diệm bắt đầu chính sách cai trị của mình bằng cách loại bỏ những người chống Cộng hữu hiệu nhất ở miền Nam.

Dòng họ Ngô Đình tiến tới sự áp đặt trên miền Nam Việt Nam cái tôn giáo Công giáo ngoại lai của họ, đảng Công giáo bảo thủ từ ngoài Bắc vào và từ vùng quê hương của họ ở miền Trung. Diệm và gia đình bổ nhiệm những sĩ quan chỉ huy đơn vị, những nhân viên hành chánh và cảnh sát bằng những người Công giáo, từ miền Bắc và từ miền Trung, quê hương của Diệm. Diệm và gia đình hắn bổ nhiệm những người Công giáo vào cấp chỉ huy quân đoàn, hành chánh và cảnh sát. Nông dân ở miền đồng bằng sông Cửu Long thấy mình bị cai trị bởi những tỉnh trưởng, hạt trưởng, bởi những viên chức hành chánh ngoại lai và thường là cao ngạo và tham nhũng…

(Lansdale let his preconceptions lead him to false assumptions…Lansdale thought the Catholic refugees from the North were Vietnamese patriots who had “fought for their country’s freedom from the French”..He saw nothing wrong with the US singling out these Catholics for special assistance. He saw nothing inappropriate about having a Catholic as president of what he perceived to be a “Free Vietnam”

Roman Catholics were a tainted minority in Vietnam. Lansdale was anxious to draw a distinction between Americans and French “colonialists.” What he did was to make the distinction one without a difference…By singling out the Catholics for help, and by putting a Catholic in office in Saigon, he announced that the US was stepping in to replace the French. Vietnamese converts to Catholicism had been used by the French as a fifth column to penetrate precolonial Vietnam and then had been rewarded by the colonizer for their collaboration. They were popularly regarded as a foreign-inspired, “un-Vietnamese” religious sect. With the French leaving, the Catholics were naturally seeking another foreign protector. They told Lansdale what they sensed he wanted to hear.

…As Lansdale guided Diem to success in crushing the sects on the theory that Diem was the Magsaysay to form a new and central government, it would never have occured to Lansdale that Diem was beginning his rule by eliminating the most effective OPPONENTS of the Communists in the South.

…The Ngo Dinhs proceeded to impose on South Vietnam what amounted to their own alien sect of Catholics, Northern Tories, and Central Vietnamese from their home region. Diem and his family filled the officer corps of the army and the civil administration and the police with Catholics, Northerners, and Central Vietnamese they trusted. The peasants of the Mekong delta found themselves being governed by province and district chiefs, and by civil servants on the province and district administrative staffs, who were outsiders and usually haughty and corrupt men.)

6. “American in Vietnam” by Dr. John Guilmartin, United Press International/Bettmann, England 1991, p.69:

Những ảnh hưởng đối nghịch của sự thiếu khả năng và tính toán sai lầm của Diệm không chỉ chấm dứt ở sự thất bại về quân sự chống Việt Cộng. Nghi ngờ tất cả những người không có cùng đức tin Công giáo của mình, và hoan hỉ với sự thành công trong việc dẹp bỏ các giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo, họ khởi sự chiến dịch chống Phật Giáo.

(The adverse effects of the Diem’s ineptitude and miscalculation did not end with military failure against the Viet Cong. Suspicious of all who did not share their Catholic faith, and having enjoyed success in suppressing the Hoa Hao and Cao Dai, they embarked on an anti-Buddhist campaign.)

7. “Vietnam: The Valor and the Sorrow” by Thomas D. Boettcher, Little Brown & Company, Boston 1985, p.150:

“Trong 10 đô la viện trợ thì 8 được dùng cho nội an chứ không dùng cho công tác chiến đấu chống du kích Cộng sản hay cải cách ruộng đất. Diệm lo lắng về những cuộc đảo chánh hơn là Cộng sản.

…Như là hậu quả của những biện pháp đàn áp càng ngày càng gia tăng, sự bất mãn của quần chúng đối với Diệm cũng càng ngày càng tăng, bất kể là toan tính của Diệm dập tắt sự bất mãn này trong mọi cơ hội. Hàng triệu nông dân ở những vùng quê trở thành xa lạ đối với Diệm. Không lạ gì, hoạt động của Cộng sản gia tăng cùng với sự bất mãn của quần chúng. Và những biện pháp đàn áp của Diệm cũng gia tăng theo cùng nhịp độ. Nhiều ngàn người bị nhốt vào tù.

Cho tới năm 1960, điều khác biệt duy nhất giữa hai chính quyền Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh là ở những lá cờ của họ.”

(Eight of ten American aid dollars went for internal security, not to fight Communist guerrillas or implement reforms such as land redistribution. Diem was more worried about coups than Communists.

..As a consequence of his increasingly repressive internal measures, popular discontent with Diem gradually intensified, despite his attempt to squelch it at every opportunity. The millions of peasants in the countryside became estranged from him.. Not surprisingly, Communist activity intensified as discontent increased. And Diem’s repressive measures increased accordingly. Thousands were put in jail..

By 1960, the only difference between the governments of Ngo Dinh Diem and Ho Chi Minh was their flags.)

8. “The Indochine Story” by the Committee of Concerned Asian Scholars, A Bantam Book, New York 1970, pp. 32 & 34:

“Một nhân vật Mỹ ủng hộ Diệm lúc đầu kết luận: Lạm dụng quyền lực, độc tài, tham nhũng, coi thường cấp dưới, và không đếm xỉa gì đến nhu cầu của dân chúng một cách ác độc, đó là tấm gương mà gia đình họ Ngô để cho những bộ trưởng, nhà lập pháp, tướng lãnh, tỉnh trưởng, trưởng làng mà họ Ngô dùng như những quân cờ noi theo.

Đàng sau gia đình nhà Ngô là Mỹ. Ở dưới gia đình này chẳng có gì mấy. Gia đình này đã trải cái bóng của họ trên xã hội Việt Nam; tuy nhiên cái rễ của họ thật sự chỉ cắm nông vào đất Việt. Điều này định trước những phương pháp Diệm dùng để kiểm soát đất nước… Chỉ có một đường lối: đàn áp và củng cố quyền lực trong tay những anh em và thuộc hạ của Diệm.. Săn lùng toàn diện những người bất mãn được tổ chức ở thôn quê năm 1956, và tăng gia cường độ khi tình hình suy kém.

75000 người hay hơn nữa bị giết trong chiến dịch này. Còn nhiều người hơn nữa bị tống giam bởi sắc lệnh số 6 của tổng thống, ký trong tháng 1, 1956. Sắc lệnh nói: “Những cá nhân coi là nguy hiểm cho quốc phòng và an ninh chung có thể bị bắt giam trong những trại tập trung do lệnh của cơ quan hành pháp. Tình trạng trong những trại tập trung của Diệm, chỉ bị phanh phui sau khi Diệm đổ, thật sự nhơ nhớp. Cố ý để cho chết đói, cố ý làm cho mù, cố ý hành hạ…, danh sách này thật là dài.”

(An early American supporter of Diem concluded: Abuse of power, nepotism, corruption, contempt for inferiors, and cruel disregard of the needs of the people were the example set by the Ngo’s “Family” for the ministers, legislators, generals, province chiefs, and village commissioners whom they used as pawns.

Behind the family stood the US. Below it stood very little at all. It threw its shadow over all Vietnamese society; yet its roots penetrated shallowly indeed into Vietnamese soil. This predetermined the methods by which Diem could extend his control over the country…Only one way was open: repression and further consolidation of power in the hands of his brothers and their followers…Full scale manhunts against dissidents were organized on the rural areas in 1956, and increased in later years as the situation deteriorated.

75,000 or more people were killed in this campaign. As many or more were incarcerated under Presidential Ordinance No. 6, signed in January 1956 “Individuals considered dangerous to national defense and commun security,” it said, could be confined by executive order in a “concentration camp.” Conditions in Diem’s “reeducation centers,” brought to light only after his overthrow in 1963, were sordid indeed. Deliberate starvation, deliberate blinding, deliberate maiming. The list is long.”

9. “The Story of Vietnam” by Hal Dareff, An Avon Camelot Book, New York 1966, p. 108:

“Nay Diệm đã thắng mọi kẻ thù, anh em nhà Diệm muốn chắc rằng không ai có thể bứng họ đi. Ở ngoài mặt, Nam Việt Nam là một thể chế Cộng Hòa với một hiến pháp mới toanh hứa hẹn tự do và dân chủ cho quần chúng. Tuy nhiên, thực tế thì lại trái ngược hẳn… Nhu là cánh tay phải của Diệm.. Hắn tổ chức gian lận bầu cử, đưa vào quốc hội những tay sai của hắn, và sai bọn Cần Lao đi rình mò khắp nước để kiếm những người chống đối hắn.

Chế độ Diệm bắt đầu thoái trào vào đầu năm 1963. Tổng thống cai trị dân trong dinh thự của mình như là một thể chế quân chủ, cắt lìa khỏi quần chúng. Sự thù ghét Diệm và gia đình hắn gia tăng đến độ người ta có thể cảm thấy đầy trong bầu không khí ở Saigon. Tin đồn về đảo chánh loan truyền trong thành phố hầu như hàng ngày. Trong những hoàn cảnh như vậy, Diệm chỉ lo bám chặt vào quyền lực. Cuộc chiến (chống Cộng) trở thành thứ yếu. Sĩ quan được thăng cấp nếu giữ được mức tổn thất thấp. Chỉ có một cách chắc chắn giữ được như vậy – không tác chiến. Không tác chiến đã trở thành một cách sống đối với một số cấp chỉ huy và là cách duy trì địa vị.

…Cuộc tranh chấp giữa Diệm và các Phật tử đã được tích lũy kể từ ngày Diệm lên làm thủ tướng năm 1954. Diệm, một tín đồ Công giáo, đương nhiên là cảm thấy thoải mái hơn đối với những tín đồ Công giáo khác. Nhiều chức vụ chỉ huy trong chính quyền và quân đội được trao cho những người Công giáo, những người này được đặc quyền đặc lợi làm tiền trong những thương vụ của chế độ.

Trong số 15 triệu dân ở miền Nam Việt Nam, hơn 1 triệu một chút là người Công giáo. Phần còn lại, phần lớn là Phật tử, phẫn nộ vì chính sách thiên vị người Công giáo. Sự đối xử khác biệt này còn trắng trợn hơn ở các tỉnh lỵ, nơi đây các linh mục địa phương và các giới chức chính quyền, hầu hết là Công giáo, có toàn quyền. Khi các ấp chiến lược được dựng lên, những người Công giáo được miễn làm việc và những người phi-Công giáo bị đưa vào chỗ thay thế họ để làm những công việc lao dịch. Những vùng đất mới được mở mang và phát triển, người Công giáo được chọn những miền đất phì nhiêu ở những miền duyên hải có an ninh. Những đất đai dành cho Phật tử ở sâu trong nội địa, ở đây họ phải lao động dưới sự đe dọa của Việt cộng. Nhiều Phật tử theo đạo (không có nghĩa là tin đạo. CTN) để được sống dễ dàng hơn.”

(Now that Diem had won out over all his foes, the brothers wished to make sur that no one else would unseat them. On the surface, South Vietnam was a republic with a brand-new constitution promising freedom and democracy to its people. In practice, however, the very opposite was true…Nhu was Diem’s right arm…He fixed elections, packed the National Assembly with his henchmen and hirelings, and sent his Can Lao prowling the country in search for dissidents..

Twilight had begun to settle over the regime of Ngo Dinh Diem as the year 1963 began. The president ruled in his palace like a monarch cut off from his people. Hatred of him and his family mounted until the air of Saigon seethed with it. Runors of plots and coups swirled through the city almost daily. In these circumstances, Diem sought only to hold on to his power. The war became secondary. Officers were promoted when they kept the casualty lists down. There was only one sure way to do that – not to fight. Not fighting became a way of life with some commanders and a way of keeping their jobs.

…A showdown between Diem and the Buddhists had been building ever since he became premier in 1954. Diem, a Catholic, naturally felt more at home with other Catholics. Many of the leading posts in the government and army were held by Catholics, who were also privileged when it came to making money out of business deals engineered by the regime.

Of the 15 million people of South VN, a little more than a million were Catholic. The rest, mainly Buddhist, resented the favoritism shown Catholics. The difference in treatment was even more blatant in the provinces where the local priests and government officials, mostly Catholic, too, were all-powerful. When strategic hamlets were built, the Catholic inhabitants were exempted from working and non-Catholics were brought in to labor in their places. When new land was opened for development, Catholics got the pick of the land in the safe coastal regions. The land given to Buddhists was inland, where they would have to work under the menacing shadow of the Viet Cong. Many Buddhists, seeing where the grass was greener, tried to become Catholics.)

10. The Two Viet-Nams” by Bernard B. Fall, Frederik A. Praeger Publisher, New York 1967:

Trang 236: Tính hiếu chiến của ông Ngô Đình Diệm thuộc loại như thế này: Đức tin của ông ta ít có tính chất từ ái của các tông đồ hơn là tính hiếu chiến tàn nhẫn của một Đại Phán Quan Tây Ban Nha của Tòa Án Dị Giáo (Torquemada); và Quan điểm của ông ta về chính quyền thì ít có tính chất của một tổng thống theo hiến định của một nước cộng hòa hơn là một bạo chúa theo truyền thống quan lại phong kiến . Một người Pháp theo Công Giáo khi nói chuyện với ông ta muốn nhấn mạnh về ảnh hưởng văn hóa Pháp đối với ông Diệm đã nhấn mạnh những từ như “tín ngưỡng của chúng ta”, thì Diệm thản nhiên trả lời rằng: “Ông biết mà, tôi tự coi tôi như là một người Công Giáo Tây Ban Nha”, có nghĩa là, ông ta là một đứa con tinh thần (của Giáo Hội La Mã) của một đức tin hung hăng, hiếu chiến hơn là một tín đồ dễ dãi và khoan dung giống như người Pháp theo hệ phái Công Giáo Gallican.”

(Ngo Dinh Diem’s militancy is of that kind: His faith is made less of the kindness of the apostles, than of the ruthless militancy of the Grand Inquisitor; and his view of government is made less of the constitutional strength of a President of the republic than of the petty tyranny of a tradition-bound mandarin. To a French Catholic interlocutor who wanted to emphazise Diem’s bond with French culture by stressing “our common faith,” Diem was reported to have answered calmly: “You know, I consider myself rather as a Spanish Catholic,” i.e., a spiritual son of a fiercely aggressive and militant faith rather than of the easygoing and tolerant approach of Gallican Catholicism.)

Trang 250: “Trong số những người lên cầm quyền cùng với Diệm năm 1954-55, KHÔNG MỘT NGƯỜI NÀO còn giữ chức vụ bộ trưởng khi Diệm bị giết năm 1963. Một vài người bị lưu đày ở Pháp hoặc Mỹ, và một vài người rút lui với thái độ trông chờ ở Saigon. Một sự dập theo những phương pháp toàn trị của Cộng sản Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng của Ngô Đình Nhu. Đảng này trở thành một hệ thống quyền lực hoàn toàn giống như của Cộng sản, với những thành viên mật và chỉ biết nhau trong những tổ 5 người, và những “nhóm hành động” có nhiệm vụ dẹp bỏ mau chóng và kín đáo những người đối lập… Như vậy, chế độ Diệm sai lầm trong hai phương diện: Quân đội không bao giờ thực sự hữu hiệu, và các sĩ quan ở quân đoàn thì không trung thành với những ông chủ dân sự và nhắm mắt làm ngơ trước sự thất bại của chế độ.

Trong sự mô tả đảng Cần Lao, John C. Donnell định nghĩa Cần Lao như là “một đảng chính trị mạnh gồm những thành viên thường tin rằng mình thuộc những đảng chính trị khác và ngự trị những đảng này.” Nói cách khác, những hoạt động trong hệ thống nội bộ của họ y hệt như của đảng Cộng sản: dò thám bạn bè, xâm nhập đồng minh, và hoạt động như “một quốc gia trong một quốc gia” trong chính guồng máy chính quyền của mình. Nếu không còn cái gì khác, những điều trên có thể làm cho chế độ Nam Việt Nam mang nhãn hiệu một loại “dân chủ của quần chúng” chống-Cộng mà sự khác biệt lớn nhất đối với người anh em song sinh Cộng sản Bắc Việt Nam là thái độ hành trì Công giáo và là sở hữu chủ của những đồn điền cao su.”

(Of the men who came to power with Diem in 1954-55, NOT ONE still held a cabinet portfolio when he was murdered in 1963. Some were sent into exile in France or the US, and a few simply retired and maintained a “wait-and-see” attitude in Saigon. Another imitation of Communist totalitarian methods was Ngo Dinh Nhu’s Can-Lao Nhan-Vi Cach Mang Dang, which became the perfect hierarchie paralle’le, with its secret membership and five-men cells whose members knew only each other, and “action groups” that could swiftly and quietly do away with bothersome oppositionists…As it was, the Diem regime erred on both counts: Its army never became really proficient, and its officer corps remained disloyal to its civilian masters and connived in their demise.

In his description of the Can Lao, John C. Donnell defined the Can-Lao as a “powerful elite political party whose members are commonly believed to belong to other political parties also and to dominate them.” In other words, it did within its own system exactly what a Communist Party would do: It spied on its own friends, infiltrated its own allies, and acted as a “state within a state” in its own government’s machinery. If nothing else, this would brand the South Vietnamese regime as a sort of anti-Communist “people’s democracy” whose major difference from its Communist North Vietnam TWIN was its attitude toward the practice of Catholicism and the ownership of rubber plantations.)

11. “An Eye For The Dragon” by Dennis Bloodworth; Farrar, Straus & Giroux, New York 1970, p. 209:

“Cho tới năm 1963 mật vụ của Diệm đã bắt giữ hoặc đẩy vào tay những kẻ thù hầu như mọi người quốc gia có tên tuổi đã chiến đấu cho tự do của đất nước trong 20 năm trước. Hắn và gia đình hắn đã đàn áp mọi đối lập, chất đầy nhà tù, bịt miệng báo chí, gian lận bầu cử, và bám vào quyền lực.”

(…By 1963 Diem’s secret police had picked up or pushed into the arms of his enemies nearly every prominent nationalist who had fought for the freedom of his country during the previous 20 years. He and his familly suppressed all opposition, filled the jails, muzzled the press, rigged the elections, and clung to all power..)

12. ” Intervention and Revolution” by Richard J. Barnet, A Meridian Book, New York 1972, pp. 233-235:

“Khuyến cáo rằng “nếu bầu cử được tổ chức ngày nay (1956) thì tuyệt đại đa số dân Việt sẽ bầu cho Cộng sản,” Cherne tuyên bố rằng uy tín của Mỹ ở Á Châu tùy thuộc vào sự ngăn chận cuộc bầu cử này. Phương pháp giải quyết là củng cố lớp người Công giáo ở miền Nam Việt Nam, chỉ có những người này mới có lý do thuộc về lý tưởng chống Cộng. Nhà văn Công giáo người Anh, Graham Greene, đã mô tả việc Mỹ sử dụng giáo hội Công giáo trong cuộc chiến tranh lạnh ở Việt Nam như sau:

Chính cái ý hệ Công giáo đã làm cho chế độ của ông Diệm sụp đổ, vì sự sùng tín của ông ta đã bị các cố vấn Hoa Kỳ khai thác cho đến khi giáo hội Công giáo ở Việt Nam ở trong cơ nguy cùng chung số phận bất thiện cảm của người dân Việt đối với Mỹ…Những khoản tiền to lớn được dùng để tổ chức những cuộc đón tiếp quan khách ngoại quốc và tạo nên ý niệm giáo hội Công giáo là của Tây phương và là đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh. Trong những trường hợp hiếm hoi mà Diệm đi kinh lý những vùng trước đây bị Việt Minh chiếm, bao giờ cũng có một linh mục ở bên cạnh, và thường là một linh mục Mỹ…

Điều quan tâm chính của chính quyền Diệm là sự an toàn của chính quyền. Chính quyền Diệm sợ rằng cuộc bầu cử dự định tổ chức vào tháng 7, 1956 đưa đến sự thắng lợi của Hồ Chí Minh và chấm dứt quyền lực của những chính trị gia không Cộng sản..

Những ước tính của cơ quan tình báo quốc gia CIA, soạn trong tháng 2, 1957, mô tả chế độ Diệm như sau:

Chế độ Diệm phản ánh ý nghĩ của Diệm. Một bộ mặt chính quyền đại diện cho dân được duy trì, nhưng thực chất chính quyền là độc tài. Quyền lập pháp của quốc hội bị hạn chế gắt gao; quyền tư pháp chưa phát triển và tùy thuộc quyền hành pháp; và những nhân viên trong ngành hành pháp không gì hơn là những tay sai của Diệm. Không có một tổ chức đối lập nào, dù trung thành hay không, được phép thành lập, và mọi chỉ trích chính quyền đều bị đàn áp…Quyền lực và trách nhiệm tập trung nơi Diệm và một nhóm nhỏ gồm có những thân nhân của Diệm, những người quan trọng nhất là Nhu và Cẩn.”

Chế độ độc tài của Diệm, dựa trên một mạng lưới mật vụ, tòa án quân sự, và công chức tham nhũng, tuyên bố không những chiến đấu chống Cộng mà cho tới năm 1957 Cộng sản vẫn chưa có hoạt động gì, mà còn chống bất cứ nhóm nào không chắc là trung thành với Diệm. Thật vậy, nhiều người không-Cộng-sản vào tù hơn là người Cộng sản.

…Sự chuyên chế của Diệm, sự thiên vị trơ trẽn của hắn đối với những người Công giáo tị nạn từ ngoài Bắc vào so với phần còn lại của dân chúng, và sự bạo hành của hắn đối với mọi người không đồng quan niệm chính trị với hắn đã tạo nên một sự liên kết chống hắn mà hắn rất sợ.”

(Warning that “if the elections were held today the overwhelming majority of Vietnamese would vote Communist,” Cherne declared that American prestige in Asia was dependent upon preventing that result. The answer was to strengthen the Catholic faction in South Vietnam, who alone among Vietnamese had ideological reasons to be against the communists. The British Catholic writer Graham Greene has described the American use of the Catholic Church in fighting the Cold War in Vietnam:

It is a Catholicism which has helped to ruin the government of Mr. Diem, for his genuine piety…has been exploited by his American advisors until the Church is in danger of sharing the unpopularity of the US…Great sums are spent on organized demonstration for the visitors, and an impression is given that the Catholic Church is occidental and an ally of the US in the cold war. On the rare occasions when Mr. Diem has visited the areas formerly held by the Viet Minh, there has been a priest at his side, and usually an American one.

…The major interest of the Diem government was its own security. It feared that the elections scheduled for July, 1956, would spell a victory for Ho Chi Minh and the end of power for noncommunist politicians….

The CIA national intelligence estimates prepared in February, 1957, described the Diem regime in these words:

Diem’s regime reflects his idea. A facade of representative government is maintained, but the government is in fact essentially authoritarian. The legislative powers of the National Assembly are strictly circumscribed; the judiciary is underdeveloped and subordinate to the executive; and the members of the executive branch are little more than the personal agents of Diem. No organized opposition, loyal or otherwise, is tolerated, and critics of the regime are often repressed…The exercice of power and responsibility is limited to Diem and a very small circle mainly composed of his relatives, the most important being Nhu and Can.

…Diem’s dictatorship, supported with a network of informers, military tribunals, and corrupt functionaries, declared war not only on the communists, who until 1957 were quiescent, but also against any group whose personal loyalty was not assured. Indeed, more non-communists than communists ended up in Diem’s jails.

…Diem’s despotism, his shameless favoring of Catholic refugees from the North over the rest of the population, and his persecution of all political dissidents produced the coalition against him that he dreaded.)

13. “Vietnam Revisited” by David Dellinger, p. 35:

Ngay từ lúc đầu Diệm đã có khuynh hướng toàn trị và gia đình trị mà 8 năm sau dư luận quần chúng lên án chính quyền của hắn.

“Khuynh hướng toàn trị” của Diệm đã đưa đến việc thành lập một đảng chính trị riêng tư, đảng cần Lao, một đảng duy nhất. [Thời đó không thấy ai đòi đa nguyên đa dảng. TCN]

Đảng Cần Lao cũng phục vụ hắn như là mật vụ, dập theo khuôn mẫu của Nhật Bản trong Thế Chiến II – mà Diệm đã nghiên cứu kỹ chi tiết.

Như chúng ta đã thấy, đảng này đã giết hại 90000 người và cầm tù 800000 trong đó có nhiều người bị tra tấn.

..Khi Diệm về Việt Nam năm 1954, một người Công giáo theo lệnh của một thế lực ngoại quốc về cai trị một nước mà 80% là Phật tử, CIA đã thuê vài trăm người để hoan hô hắn tại bến tàu. Nhưng cả CIA lẫn những giới chức Mỹ ủng hộ Diệm đều không làm sao làm ngược được sự kiện là Diệm không có sự ủng hộ của quần chúng, chính sách đàn áp đẫm máu của Diệm đối với từ các nhà sư Phật giáo và các tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài cho tới những nông dân yêu nước, giới tư sản tôn trọng luật pháp, trật tự và một chút công lý, và những tướng lãnh đối thủ – “kéo theo (và đã xảy ra) tất cả những khó khăn vì một con người với nhân cách như vậy.”

(From the very beginning Diem displayed that tendency toward autocracy and family rule for which the mass media would belatedly condemn his administration 8 years later.

Diem’s “tendency toward autocracy” led to the formation of a private political party, the Can Lao, which was the only party.

The Can Lao also served as a secret police, modeled after the system the Japanese used in Vietnam during WWII – which Diem had studied in detail.

It also produced, as we have seen, the death of 90,000 opponents and the imprisonment of another 800,000, with many of them tortured…

…When Diem first arrived in Vietnam in 1954, a Catholic coming to rule at the behest of a foreign power in a country whose population was 80% Buddhists, the CIA had hired a crowd of several hundred “welcomers” to greet him at the dock.

But not even the CIA and Diem’s more respectable US backers could permanently counteract his lack of an indigenous base, his bloody suppression of all opposition, from Buddhist monks and members of the Hoa Hao and Cao Dai indigenous religions to peasant patriots, bourgeois devotees of law, order and a modicum of justice, and rival generals – “all the difficulties the presence of such a personality would [and did] entail.”)

14. “Vietnam: Why Did We Go?” by Avro Manhattan, Chick Publication, California 1984, pp. 56 & 89:

“Tổng thống Ngô Đình Diệm của Nam Việt Nam là một ngưòi theo đạo Công giáo cai trị Nam Việt Nam bằng một bàn tay sắt. Hắn ta thật tình tin rằng Cộng sản là ác và giáo hội Công giáo là duy nhất. Hắn đã được hồng y Spellman và giáo hoàng Pius XII trồng vào cái ghế tổng thống. Hắn đã biến cải ngôi vị tổng thống thành một nhà độc tài Công giáo, tàn nhẫn nghiền nát những đối lập chính trị và tôn giáo. Nhiều nhà sư Phật giáo tự thiêu để phản đối những sự bạo hành tôn giáo của hắn. Sự bạo hành kỳ thị đối với người phi-Công giáo, đặc biệt là các Phật tử, đã gây nên sự rối loạn trong chính phủ và trong quân đội thì quân nhân đào ngũ hàng loạt. Điều này đưa đến sự can thiệp quân sự của Mỹ.

Trong chính sách khủng bố này hắn được sự phụ giúp của hai người anh em Công giáo, người đứng đầu mật vụ (Ngô đình Nhu) và tổng giám mục ở Huế (Ngô đình Thục).

Người ta ghi nhận rằng, và những con số sau đây tuy không được chính quyền chính thức khẳng định nhưng có thể coi là đáng tin cậy, là trong thời gian kinh hoàng từ 1955 đến 1960 – ít nhất là có 24000 người bị thương, 80000 bị hành quyết hay bị ám sát, 275000 người bị cầm tù, thẩm vấn hoặc với tra tấn hoặc không, và khoảng 500000 bị đưa đi các trại tập trung. Đây chỉ là những con số ước tính bảo thủ, khiêm nhường.

Đặt quyền lợi quốc gia ra đàng sau để đẩy mạnh quyền lợi tôn giáo của hắn, kết quả là tên độc tài Diệm đã đưa đất nước xuống vực thẳm.”

(President Ngo Dinh Diem of South Vietnam was a practicing Catholic who ruled South Vietnam with an iron fist. He was a genuine believer in the evil of Communism and the uniqueness of the Catholic Church. He had originally been “planted” into the presidency by Cardinal Spellman and Pope Pius XII. He transformed the presidency into a virtual Catholic dictatorship, ruthlessly crushing his religious and political opponents. Buddhist monks committed suicida by fire, burning themselves alive in protest against his religious persecutions. His discriminatory persecution of non-Catholics, PARTICULARLY BUDDHISTS, caused the disruption of the government and mass desertions in the army. This eventually led to US intervention in South Vietnam.

In this terrorization he was aided by his two Catholic brothers, the Chief of the Secret Police and the Archbishop of Hue.

…It has been reckoned, and the figures although lacking any official confirmation are considered to be concretly reliable, that during this period of terror – that is from 1955 to 1960 – at least 24,000 were wounded, 80,000 people were executed or otherwise murdered, 275,000 had been detained, interrogated with or without torture, and about 500,000 were sent to concentration or detention camps. This is a conservative estimate.

…With the result that by relegating the interest of his country to the background, so as to further the interests of his religion, dictator Diem finally brought his land into the abyss.)

15. “Nobody Wanted War” by Ralph K. White, A Doubleday Anchor Book, New York 1970, p. 91:

“Diệm, người em dở điên và vợ hắn (Nhu và vợ), đã làm cho mọi nhóm quan trọng trong nước, kể cả nhóm chống Cộng thực tế nhất, nhóm này đã thấy rõ gia đình Diệm đã hạ thấp và làm yếu đi cuộc tranh đấu chống Cộng, và sau cùng cả những sĩ quan cao cấp trong quân đội, những người mà mọi tên độc tài không được lòng người phải trông cậy vào họ để sống còn, xa lìa.

Theo Malcolm Browne, chế độ Diệm đã bị cả nước oán ghét. Nếu nhà Ngô còn cầm quyền cho đến ngày nay (1965) thì chắc chắn là Việt Nam sẽ hoàn toàn là Cộng sản.” [Bọn Công giáo hoài Ngô ngày nay vẫn còn đưa ra luận điệu “Còn cụ thì không mất nước”]

(Diem, his half-mad brother Nhu and his brother’s wife had alineated one by one every important group in the country, including most of the realistic anti-Communists who saw how the Ngo family was debassing and weakening the anti-Communist struggle, and at last including the upper echelon of the armed forces, on which every unpopular dictator must rely for survival.

According to Malcolm Browne, there was a “sweeping hatred” of the regime throughout the country. If the Ngo family had remained in charge there is little doubt that Vietnam would be entirely Communist today. (1965).)

16 “The Political Economy of Human Rights. Vol I” by Noam Chomsky and Edward S. Herman, Black Rose Books, Canada 1979, pp. 30, 302-303:

“Joseph Buttinger, một cố vấn của Diệm lúc đầu và là người đã bày tỏ sự ủng hộ Diệm nồng nhiệt nhất trong thập niên 1950, khẳng định là gọi Diệm là phát xít thì không thích hợp vì, tuy chế độ Diệm có tất cả những sự xấu xa của chế độ phát xít, Diệm thiếu cơ sở quần chúng mà Hitler và Mussolini đã có thể tập hợp được.

..Theo Jeffrey Race, một cựu cố vấn quân sự Mỹ cho Nam Việt Nam có rất nhiều tài liệu về lịch sử Việt Nam cận đại, chính quyền Diệm đã khủng bố người dân nhiều hơn là phong trào cách mạng nhiều – thí dụ, thủ tiêu các cựu kháng chiến quân Việt Minh, bắn pháo binh vào những “làng cộng sản” và bắt bớ những người “có thiện cảm với cộng sản”. Cũng chính vì những chiến thuật đó mà lực lượng của phong trào cách mạng càng ngày càng gia tằng ở Long An từ 1960 đến 1963.

..Sử gia của Ngũ Giác Đài viết về “bệnh gần như hoang tưởng của Diệm lo lắng về vấn đề an ninh,” đưa đến những chính sách “khủng bố toàn diện nông dân Việt Nam, và làm suy giảm trầm trọng sự ủng hộ chế độ của quần chúng.”

Sự dùng bạo lực quá mức và trả thù những người cựu kháng chiến của Diệm là sự vi phạm trắng trợn Hiệp Định Genève (Khoản 14c), cũng như là sự từ chối không thi hành điều khoản tổng tuyển cử trên toàn quốc (vào tháng 7, 1956) của Diệm. Lý do chính mà Diệm từ chối không thi hành điều khoản này vào những năm 1955-56 (tổ chức và tổng tuyển cử trên toàn quốc) thật là hiển nhiên: viên quan lại ly hương nhập cảng từ Mỹ vào chỉ có một sự ủng hộ tối thiểu của quần chúng và ít có hi vọng thắng trong một cuộc tổng tuyển cử…Diệm là mẫu người điển hình của một tên bạo chúa phát xít, dùng khủng bố để bù đắp cho sự thiếu hụt sự ủng hộ của quần chúng..”

(Joseph Buttinger, an early advisor to Diem and one of his most outspoken advocates in the 1950s, contends that the designation “fascist” is innapropriate for Diem because, although his regime had most of the vicious characteristics of fascisme, he lacked the mass base that a Hitler or Mussolini could muster.

…According to Jeffrey Race, a former US Army advisor in South Vietnam who had access to extensive documentation on recent Vietnamese history, ..the government terrorized far more than did the revolutionary movement – for example, by liquidations of former Vietminh, by artillery and ground attacks on “communist villages” and by roundups of “communist sympathizers”. Yet it was just these tactics that led to the constantly increasing strength of the revolutionary movement in Long An from 1960 to 1963.

…The Pentagon historian refers to “Diem’s nearly paranoid preoccupation with security,” which led to policies that “thoroughly terrified the Vietnames peasants, and detracted significantly from the regime’s popularity.”

…Diem’s extensive use of violence and reprisals against former Resistance fighters was in direct violation of the Geneva Accords (Article 14c), as was his refusal to abide by the election proviso. The main reason for Diem’s refuse to abide by this mode of settlement in 1955-56 was quite evident: the expatriate mandarin imported from the US had minimal popular support and little hope for winning in a free election…Diem was a typical subfascist tyrant, compensating for lack of indigenous support with extra doses of terror..)

17. “The American Pope” by John Cooney, A Dell Book, New York 1984, pp. 309-312:

“Lập trường của (hồng y) Spellman về Việt Nam phù hợp với những mong ước của giáo hoàng. Malachi Martin, một cựu tu sĩ dòng tên phục vụ tại Vatican trong những năm Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam, nói rằng giáo hoàng muốn Mỹ ủng hộ Diệm vì giáo hoàng đã bị người anh của Diệm, Tổng giám mục Thục, ảnh hưởng. “Giáo hoàng quan tâm đến sự càng ngày càng thắng lợi của Cộng sản do đó làm suy yếu giáo hội,” Malachi xác nhận rằng: “Giáo hoàng ra lệnh cho Spellman khuyến khích Mỹ tham chiến ở Việt Nam.”

Do đó Spellman xếp đặt một chiến dịch hòa điệu kỹ càng để dựng lên chế độ Diệm. Qua báo chí và vận động trong hậu trường ở Washington, vấn đề đối đầu chống Cộng ở Đông Dương được phổ biến rộng rãi ở Mỹ.

Spellman và Kennedy cũng còn giúp lập lên một nhóm vận động hậu trường Washington. Chủ trương của sự đồng minh này là chống Cộng và phát huy ý hệ Công giáo.

..Do đó, rất nhiều người Mỹ tin rằng Việt Nam là một quốc gia phần lớn là Công giáo. Một phần của cái ấn tượng sai lầm này là kết quả của việc Diệm lên cầm quyền. Với sự giúp đỡ của CIA tổ chức cuộc bầu cử gian lận năm 1955, Diệm hủy bỏ chế độ quân chủ và Bảo Đại bị cưỡng bức phải sống trong cảnh lưu đầy. Cái màu sắc Công giáo đậm đà trong cuộc vận động hậu trường Việt Nam cũng góp phần tạo nên quan niệm sai lầm trên. Còn một yếu tố khác là sự đặt mình vào trong đường lối trên của Spellman.

…Sự tuyên truyền của Spellman về bản chất Công giáo của chính quyền Diệm đã làm rõ rệt thêm hình ảnh không đẹp về vị thế của giáo hội ở Việt Nam. Cái bản chất tôn giáo của chính quyền Diệm và những vấn đề chính quyền đó tạo ra đã được ghi nhận bởi Graham Greene, một tín đồ Ca Tô, trong một bài viết từ Saigon, in trong tờ London Sunday Times ngày 24 tháng 4, 1955:

“Một cuộc viếng thăm không thích hợp của Hồng y Spellman đã được tiếp nối bởi những cuộc viếng thăm của Hồng y Gillroy và Tổng Giám mục ở Canberra. Những số tiền lớn lao đã được dùng để tổ chức những cuộc biểu tình đón tiếp những vị khách này, đưa ra một ấn tượng là giáo hội Ca Tô là của Tây phương và là đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh.

…Nam Việt Nam, thay vì đối đầu với chế độ toàn trị của miền Bắc bằng những bằng chứng về tự do, lại rơi vào một chế độ độc tài bất hiệu lực: dẹp bỏ báo chí, kiểm duyệt chặt chẽ, lưu đầy bằng lệnh của chính quyền thay vì phải được xét xử ở tòa án. Thật là bất hạnh khi một chính quyền như vậy lại đồng nhất hóa với một đức tin. Ông Diệm rất có thể đã để lại trên đất nước có tinh thần khoan nhượng này một di sản chống-CaTô.”

(Spellman’s Vietnam stance was in accordance with the wishes of the Pope. Malachi Martin, a former Jesuit who worked at the Vatican during the years of the escalating US committment to VN, said the Pope wanted the US to back Diem because the Pope had been influenced by Diem’s brother, Archbishop Thuc.

“The Pope was concerned about Communism making more gains at the expense of the Church,” Martin averred. “He turned to Spellman to encourage American committment to Vietnam.”

Thus Spellman embarked on a carefully orchestrated campaign to pop up the Diem regime. Through the press and a Washington lobby, the problem of confronting anti-Communism in Indochina became widely known in America.

Spellman and Kennedy also helped form a pro-Diem lobby in Washington. The rallying cries were anti_Communism and Catholicism.

…To a large extent, many Americans came to believe that Vietnam was a preponderantly Catholic Nation. This misimpression resulted partly from Diem’s emergence as ruler. With the help of CIA-rigged election in 1955, Diem abolished the monarchy and Bao Dai was forced to live in exile. The heavily Catholic hue to the Vietnam lobby also accounted for much of the widespread belief. Still another factor was Spellman’s identification with the cause.

…Spellman’s propagandizing of the Catholic nature of Diem’s regime reinforced a negative image of the Church’s position in Vietnam. The sectarian nature of Diem’s government and the problems of that government were noted by the writer Graham Greene, himself a Catholic, in a dispatch from Saigon printed in the London Sunday Times on April 24, 1955:

An unfortunate visit by Cardinal Spellman has been followed by those of Cardinal Gillroy and the Archbishop of Canberra. Great sums are spent on organizing demonstrations for the visitors, and an impression is given that the Catholic Church is occidental and an ally of the US in the cold war.

…The South, instead of confronting the totalitarian North with the evidence of freedom, has slipped into an inefficient dictatorship: newspapers suppressed, strict censorship, men exiled by administrative order and not by judgement of the courts. It is unfortunate that a government of this kind should be identified with one faith. Mr. Diem may well leave his tolerant country a legacy of anti-Catholicism.)

18. “The Final Superstition” by Joseph L. Daleiden, Prometheus Books, New York, 1994, p. 62):

“Spelllman là người chủ chốt của giáo hoàng làm cho Mỹ tham chiến sâu đậm ở Việt Nam. Theo một bức thư chính thức của Vatican, giáo hoàng “dùng Spellman để khuyến khích Mỹ tham chiến ở Việt Nam.”

Mọi viện trợ nhân đạo cho miền Nam đều đi qua các cơ sở của giáo hội Công Giáo và chỉ có những người Công Giáo là được Diệm bổ nhiệm vào trong chính phủ. Tuy rằng những chính sách như vậy đưa đến việc cải đạo hàng loạt, số tín đồ Công Giáo chỉ chiếm vào khoảng từ 12 tới 13 phần trăm của dân số miền Nam. Không lạ lùng gì mà khối đa số Phật Giáo bất bình đưa đến việc công khai chống đối chính sách của Diệm. Tình trạng ngày càng suy kém, Diệm đã dùng đến biện pháp bắt giữ hàng loạt, đàn áp Phật tử, đóng cửa chùa chiền và tu viện. Qua kinh nghiệm quá khứ, Giáo hội chắc hẳn đã biết rằng sự đàn áp chỉ làm cho lý tưởng mạnh hơn. Trước sự quan sát kinh hoàng của thế giới, giới Phật tử đã phải dùng tới hành động chống đối tiêu cực rốt ráo và nhiều tăng sĩ đã tự thiêu. Trong những khoảng thời gian đáng sợ đó, tôi, một tín đồ Công Giáo, không nhớ có một lời chỉ trích chính sách của Diệm từ một linh mục hay giám mục Công Giáo nào. Tuy nhiên, sự việc đã lên quá mức đối với Tổng Thống John Kennedy, ông ta thôi không ủng hộ Diệm nữa. Ít lâu sau đó Diệm bị hành quyết trong một cuộc lật đổ chính quyền. Qua cái diễn tiến kinh khủng này vai trò của giáo hội đã theo đúng cái tiến trình lịch sử nhơ nhớp của giáo hội.”

(Spellman was the papal point man to lead America into deeper involvement in Vietnam. According to a Vatican official letter, the pope “turned to Spellman to encourage American commitment to Vietnam.”

All US relief to the South was funneled through the Catholic Church’s agencies and only Catholics were appointed to government positions by Diem. Although these policies resulted in a wave of conversions, Catholics still made up only about 12 to 13 percent of the South Vietnamese population. Not surprisingly, the resentment among the Buddhist majority soon resulted in their open resistance to Diem’s policies. As the situation deteriorated, Diem resorted to mass arrests and suppression of the Buddhists, closing shrines and monateries. As the Church should have known from its own early experience, persecution can only strengthen a cause. As a horrified world watched, the Buddhists resorted to the ultimate act of passive resistance and several monks set themselves ablaze. During these terrible times, when I, too, was a Catholic, I don’t recall one word of criticism of Diem’s policies from a Catholic priest or bishop. However, it finally became too much for President John Kennedy, who withdrew US support for Diem. Diem was soon executed in a coup. Throughout this dreadful ordeal the role of the Church followed true to the course of its sordid history.)

19. “America’s Longest War” by George C. Herring, John Wiley & Sons, New York 1979, pp. 62-65:

“Để làm vui lòng các cố vấn Mỹ, thỉnh thoảng Diệm cũng nói trên đầu môi chót lưỡi về dân chủ, nhưng trong thực hành hắn nắm lấy những quyền lực tuyệt đối. Đích thân hắn ngự trị ngành hành pháp của chính phủ, dành cho hắn và anh em hắn mà hắn đã đưa ba người vào nắm ba chức trong nội các có sáu bộ, mọi quyền quyết định.

Sự tấn công dữ dội của Diệm vào những đối lập chính trị đã gây nên sự bất mãn trong các thành phố cũng như ở thôn quê. Báo chí chỉ trích chính phủ bị đóng cửa ngay.. Dùng quyền hành trong các sắc lệnh của tổng thống, chính quyền Diệm đã lùa vào những “ trại cải huấn” nhiều ngàn người Việt Nam, cộng sản cũng như không cộng sản, những người bị coi như là đe dọa cho trật tự công cộng. Chương trình cải huấn lúc đầu nhắm vào các thành phần kháng chiến Việt Minh ở lại miền Nam, nhưng rồi với thời gian chương trình này được áp dụng cho bất cứ ai dám chống đối chính quyền.

…”Chính quyền có khuynh hướng cai trị dân với lòng nghi ngờ và cưỡng bức”, một phúc trình tình báo của Mỹ kết luận năm 1960, và “đã được đáp ứng bởi thái độ bất thiện cảm và bất mãn của người dân”.

(To please his American advisors, Diem occasionally paid lip-service to democracy, but in actual practice he assumed absolute powers. He personally dominated the executive branch of government, reserving to himself and his brothers, three of whom were appointed to a cabinet of six, all power of decision-making.

…Diem’s vigorous assault against political opponents spawned rising discontent in the cities as well as the countryside. Newspapers which criticized the government were promptly shut down…Using authority handed down in various presidential ordinances, the government herded into “reeducation centers” thousands of Vietnamese, Communists and non-Communists alike, who were alleged to be threats to public order. The reeducation program was originally aimed at the Viet Minh “stay-behinds,” but in time it was extended to anyone who dared speak out against the government.

…The government “has tended to threat the population with suspicion or coerce it,” an American intelligence report concluded in 1960, “and has been rewarded with an attitude of apathy or resentment.”)

20. “Unwinding the Vietnam War: From War Into Peace” by Reese Williams, The Real Comet Press, Seattle 1987, p. 431:

Sau khi Pháp bị đánh bại và có vẻ như nền độc lập (của Việt Nam) sẽ tới, theo hiệp định Genève. Nhưng thay vào đó Mỹ đã nhảy vào, quyết định là Hồ (Chí Minh) không được thống nhất đất nước đang tạm thời chia cắt, và những nông dân lại cảnh giác khi chúng ta ủng hộ một trong những tên độc tài đồi bại nhất của thời hiện đại – Thủ tướng Diệm, người chúng ta chọn. Người nông dân cảnh giác và co rúm người lại khi Diệm tàn nhẫn dẹp mọi đối lập, hỗ trợ những tên địa chủ bóc lột họ, và từ chối thảo luận với Bắc Việt về sự thống nhất của đất nước

(After the French were defeated it looked as if independence would come again through the Geneva Agreements. But instead there came the US, determined that Ho should not unify the temporarily divided nation, and the peasants watched again as we supported one of the most vicious modern dictators – our chosen man, Premier Diem. The peasants watched and cringed as Diem ruthlessly routed out all opposition, supported their extortionist lanlords, and refused even to discuss reunification with the North.)

(From an address delivered by Dr. Martin Luther King in New York City on April 4, 1967).

Trên đây chỉ là 20 lời phê phán điển hình về chế độ Ngô Đình Diệm của một số trí thức ngoại quốc: ký giả, chính trị gia, giáo sư đại học, nhà quân sự, trong số hàng trăm lời phê phán tương tự khác. Chúng ta cũng nên để ý là hơn phân nửa số tài liệu trích dẫn ở trên được viết sau năm 1975. Nếu độc giả muốn đọc những lời phê phán của người Việt, xin tìm đọc cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của cố Thiếu Tướng Đỗ Mậu, trong đó ở phần cuối có 100 lời phê phán của các nhân sĩ, chính trị gia, tướng lãnh, giáo sư đại học, nhà báo v..v.. về Ngô Đình Diệm và chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Cho tới ngày nay, cuốn hồi ký chính trị này, với rất nhiều chi tiết lịch sử, vẫn là cuốn sách có giá trị nhất trong những cuốn viết về chế độ Ngô Đình Diệm và những diễn biến chính trị trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa..

Từ 20 lời phê phán của các tác giả ngoại quốc trên, chúng ta có thể rút tỉa ra được những gì? Sau đây là vài điểm chính.

1). Ngô Đình Diệm là người vô tài, vô đức, nhu nhược, được Hồng Y Spellman, với sự phụ giúp của ngoại trưởng John Foster Dulles cùng một vài chính khách Công giáo Mỹ khác, theo lệnh của Vatican, vận động với Mỹ đưa Diệm về cầm quyền ở Nam Việt Nam vì Diệm thuộc loại người Công giáo cuồng tín khát máu Tây Ban Nha trong thời Trung Cổ, chống Cộng điên dại nên đương nhiên có thể tin cậy để chống Cộng cho Mỹ và cho Vatican. Ngoài ra Vatican cũng còn góp phần vận động, thuyết phục Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Cái tội này của Vatican đối với Việt Nam sẽ được ghi vào sử sách.

2). Chế độ Ngô Đình Diệm là một chế độ bạo ngược, chuyên chế, không có sự hậu thuẫn của quần chúng. Đó là một chế độ mà hầu hết những người nắm quyền hành chánh, quân sự là những gia nô vô liêm sỉ.

3). Chính cái chất Công Giáo cuồng tín, tổng hợp của ngu dốt, kiêu căng, huênh hoang, hợm hĩnh [theo giáo sư Nguyễn Mạnh Quang] của Diệm đã làm hại Diệm. Sách lược Công giáo hóa miền Nam bằng thủ đoạn tiêu diệt các giáo phái khác của Diệm trong một nước mà Công giáo chỉ chiếm có 7% là một sách lược ngu xuẩn, đi ngược lại tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên của dân tộc, đã đưa đến sự oán ghét của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam. Sách lược này đã ghi thêm một chương ô nhục vào lịch sử giáo hội Công giáo Việt Nam, một giáo hội vốn đã nổi tiếng là: “Hễ phi dân tộc thì thể nào cũng phản bội dân tộc.”

Kết Luận: Trước sách lược “Công giáo hóa miền Nam” ngu xuẩn, bạo tàn, hại dân, hại nước của chính quyền Ngô Đình Diệm, con cờ giai đoạn của Vatican và Mỹ, Phật Giáo Việt Nam không còn có thể chọn lựa con đường nào khác ngoài con đường tranh đấu, không riêng gì cho Phật Giáo mà còn cho cả dân tộc. Những bằng chứng tràn ngập về tính cách bạo tàn, kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm, đã chứng minh một cách hùng hồn là cuộc tranh đấu của Phật Giáo cách đây 40 năm ở miền Nam Việt Nam là có chính nghĩa, hợp với lòng dân.

Thật vậy, tuy Phật Giáo phát động phong trào chống chế độ Ngô Đình Diệm nhưng lòng dân oán ghét chế độ bạo tàn phi dân chủ này đã âm ỉ từ lâu, như chúng ta đã thấy trong một số tài liệu vừa trích dẫn ở trên. Chúng ta không nên quên là ông Diệm đã bị ám sát hụt tại Ban Mê Thuột ngay từ năm 1957, ngày 21 tháng 5. Rồi đến cuộc đảo chánh thất bại của lực lượng nhảy dù ngày 11 tháng 11, 1960, vụ dội bom dinh độc lập của 2 sĩ quan VNCH ngày 27 tháng 2, 1962. Và sự kiện là, trong cuộc tranh đấu Phật Giáo 1963, không phải chỉ có Phật tử mới tham gia tranh đấu mà gồm đủ mọi thành phần dân tộc, từ các em học sinh trung học đến các sinh viên đại học, các giới sĩ, nông, công, thương, kể cả những người Công giáo tiến bộ gồm một số linh mục và tín đồ Công giáo.

Phật Giáo là tôn giáo hòa bình. Những bậc tôn đức trong cuộc tranh đấu Phật Giáo 1963 không chủ trương lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm bằng bạo động, kể cả Bồ Tát Thích Quảng Đức. Nhưng không ai có thể phủ nhận là cuộc tranh đấu này đã góp phần lớn lao đưa đến sự cáo chung của chế độ Công giáo trị, gia đình trị Ngô Đình Diệm vào ngày 1 tháng 11, 1963. Ý thức được lòng dân, chính quân đội Việt Nam, chỉ huy bởi nhiều tướng lãnh, trước đã theo và ủng hộ ông Diệm, đã đứng lên làm tròn sứ mạng dẹp bỏ một chế độ Công giáo độc tài, phi dân tộc, phi tổ quốc. Như đã từng nhiều lần có công với dân tộc trong nhiệm vụ bảo vệ, giữ nước, cuộc tranh đấu 1963 của Phật Giáo ở miền Nam cũng đã góp được nhiều công to lớn cho dân tộc. Ngoài việc đưa đến sự chấm dứt một chế độ ác ôn đã mất đi lòng dân, chính yếu là cuộc tranh đấu của Phật Giáo đã thành công trong việc bảo vệ được nền văn hóa truyền thống và tôn giáo dân tộc, tôn giáo dân tộc ở đây phải được hiểu theo nghĩa tôn giáo của tuyệt đại đa số người dân trong nước, thí dụ như Ki Tô Giáo ở Mỹ, ngăn chận được hiểm họa của Công giáo trong toan tính đưa toàn dân Việt Nam xuống hàng súc vật (con chiên), cúi đầu tuân phục một định chế có thủ phủ đặt tại Vatican, ngự trị bởi một số người ngoại quốc vô đạo đức tôn giáo như John Paul II và Benedict XVI, mà lịch sử đen tối ô nhục của tôn giáo này đã không còn là một vấn đề xa lạ đối với thế giới ngày nay.

Trần Chung Ngọc, giaodiemonline.com
Trích ĐDTB, ngày 12/12/06
NDVN, ngày 19/12/06

nhandanvietnam.org

Categories: Lật đổ chính quyền | Bình luận về bài viết này

Vài nét về chí sĩ anh minh “Cụ Diệm”: Chính nghĩa đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa – Phần I.

Tam Đại Việt Gian Ngô Đình, Phú Cam, Huế

Đã viết về “Cụ Hồ” mà lại không viết về “Cụ Diệm” thì quả là một điều thiếu sót, vì dù sao ông Diệm cũng đã là Tổng Thống của miền Nam trong 9 năm . Nhưng bài này tuyệt đối không phải để đối chiếu so sánh “Cụ Diệm” với “Cụ Hồ” vì không ai có đôi chút hiểu biết lại đi làm công việc vô trí này. Tại sao? Vì một đằng suốt đời sống gian khổ, tổ chức, tập họp những người yêu nước chống Pháp, mong giành lại độc lập và thống nhất cho đất nước [Cụ Hồ], một đằng làm quan cho Pháp, bắt người yêu nước chống Pháp tra khảo, rồi nằm yên vị trong các Trường Dòng Công Giáo ở Mỹ, Bỉ trong khi nước nhà sôi bỏng vì chiến tranh, kháng chiến chống Pháp trở lại Đông Dương, rồi phút cuối trở về làm “chí sĩ cứu tinh dân tộc” [Cụ Diệm]. Đã có nhiều sách viết về biến cố ông Ngô Đình Diệm về chấp chánh ở miền Nam. Và không ai có thể phủ nhận là chính cựu Hoàng Bảo Đại đã bổ nhiệm ông Diệm về làm Thủ Tướng. Nhưng những chi tiết từ đâu mà cựu Hoàng Bảo Đại bổ nhiệm ông Diệm thay vì không phải ai khác thì rất ít được viết đến. Có chăng chỉ là sơ sài như ông Diệm được Hồng Y Spellman ủng hộ hay được chính giới Mỹ ủng hộ, tuy rằng dân Việt không có ủng hộ, vì khi đó chẳng có mấy người biết đến ông Diệm.

Chúng ta biết rằng Ông Ngô Đình Diệm không phải là một khuôn mặt chính trị có tầm vóc ở Việt Nam, được nhiều người biết đến trước khi được đưa về Việt Nam làm Thủ Tướng vào tháng 6, 1954. Thành tích của ông trong thời Pháp thuộc không lấy gì làm sáng sủa, chưa kể ông thuộc dòng họ ba đời làm Việt Gian. Thành tích “yêu nước” nổi bật nhất của ông là trong thời Pháp thuộc, khi làm Tri Phủ Hòa Đa, ông đã dùng đèn cầy đốt hậu môn của những người yêu nước chống Pháp để tra khảo. Chúng ta cũng biết, từ năm 1950, ông đã rời quê hương đất tổ của ông để sống trong các Trường Dòng Công Giáo ở Mỹ và ở Bỉ. Vì những thành tích này mà khi ông về cầm quyền, những người Công giáo đã tôn ông lên làm “chí sĩ”, và người dân miền đã Nam bị cưỡng bức phải ca bài “Toàn dân Việt Nam biết ơn Ngô Tổng Thống; Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm”. Cuối cùng, “muôn năm” chỉ có vỏn vẹn “chín năm”, và ông đã yên nghỉ cùng Chúa và ông bạn vàng Torquemada (một Đại Phán Quan Tây Ban Nha giống như ông Diệm đã từng tự nhận), tới nay được 43 năm rồi.

Một câu hỏi được đặt ra: với một thành tích “yêu nước” và chính trị không có gì, với một khả năng rất giới hạn, tài và đức đều không có, vậy tại sao ông Diệm lại được chọn để làm Thủ Tướng ở miền Nam? Có lẽ những chi tiết trong cuốn “The American Pope: The Life and Times of Francis Cardinal Spellman”, A Dell Book, NY, 1985, của John Cooney, tạm gọi là đầy đủ nhất. Để viết cuốn sách này, tác giả Cooney đã xử dụng những nguồn tài liệu từ chính Nhật Ký của Spellman, những hồ sơ mật của FBI, và qua những cuộc phỏng vấn, nên tác phẩm của Cooney là một nguồn tài liệu rất có giá trị [By using Spellman’s personal diary, FBI classified files, and interviews, Cooney’s volume is an engrossing, valuable document]. Vậy sau đây, tôi xin trích dẫn vài đoạn trong phần nói về ông Diệm trong cuốn sách trên, từ trang 307 đến trang 314.

“Tuy rằng không có mấy người biết điều này, Hồng Y Spellman đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên sự nghiệp chính trị của một người đã ở trong một Trường Dòng ở New York trước đây, vừa trở thành Thủ Tướng của miền Nam Việt Nam: Ngô Đình Diệm. Ở Diệm, Spellman nhìn thấy những đặc điểm mà ông ta muốn có trong mọi người lãnh đạo: Công Giáo nồng nhiệt và chống Cộng điên cuồng.

Spellman đã gặp Diệm ở New York vào năm 1950, khi người Việt Nam này ở trong Trường Dòng Marykoll ở Ossining, New York. Một tín đồ Công giáo trung thành, sinh ra từ một gia đình gia giáo, Diệm ở trong Trường Dòng do sự cầu xin của người Anh, Ngô Đình Thục, một Giám mục Công giáo. Là một người độc thân rất sùng tín, Diệm đã tự tách mình ra khỏi thế giới, đặc biệt là ra khỏi quốc gia tan tác bởi chiến tranh của ông ta. Và ông ta chỉ được biết đến bởi một nhóm nhỏ hoạt động chính trị ở Mỹ. Ở Việt Nam tên ông ta không gây nên một hứng thú nào. Trên chính trường Mỹ, ông ta không được ai biết đến, một tình trạng mà Spellman giúp ông sửa đổi. Lai lịch của Diệm không tránh được sự chú ý của Spellman.

Người đưa Diệm đến Spellman là Linh mục Fred McGuire. Một cựu thừa sai ở Á Châu, kiến thức về Viễn Đông của McGuire được biết rõ ở Bộ Ngoại Giao. McGuire nhớ lại, một ngày nọ ông được Dean Rusk, khi đó làm trưởng ban Á Châu vụ, nhờ dàn xếp để Giám mục Thục, sắp đến Mỹ, tới gặp các viên chức của Bộ Ngoại Giao. Rusk cũng tỏ ý muốn gặp Diệm.

McGuire tiếp xúc với người bạn lâu đời, Giám Mục Griffiths, vẩn còn là chuyên viên ngoại vụ của Spellman. Hắn ta yêu cầu sẽ để cho Thục được tiếp kiến đúng nghi thức bởi Hồng Y. Trong dịp này Diệm đã từ Trường Dòng đến nhà riêng của Spellman. Cuộc gặp gỡ giữa Spellman và Diệm có thể là một cuộc gặp gỡ lịch sử. Joseph Buttinger, một người hoạt động cho những người tị nạn Việt Nam, tin rằng Hồng Y Spellman là người Mỹ đầu tiên nghĩ đến việc đưa Diệm về lãnh đạo Nam Việt Nam.

Tháng 10 1950, hai anh em Diệm đã gặp các viên chức Bộ Ngoại Giao ở khách sạn Mayflower, có cả Rusk. Diệm và Thục được tháp tùng bởi McGuire và ba giới chức chính trị của giáo hội khi đó đang hoạt động để ngăn chận Cộng Sản: Linh mục Emmanuel Jacque, Giám mục Howard Carroll, và Edmund Walsh ở đại học Georgetown. Mục đích của cuộc gặp gỡ này là hỏi hai anh em Diệm Thục về đất nước của họ và xác định những niềm tin chính trị của họ. Điều rõ ràng sau đó là cả Thục và Diệm đều tin rằng Diệm sẽ cai trị đất nước của họ. Sự kiện là Việt Nam chỉ có 10% Công Giáo không đáng quan tâm đối với hai anh em Diệm.

Khi bày tỏ ý kiến trong bữa ăn tối, hai lập trường Diệm tin tưởng nhất đã rõ ràng. Hắn ta tin vào quyền năng của Giáo hội Công Giáo và hắn ta thù địch dữ dội và quyết liệt chống Cộng. Điều này chắc đã phải gây ấn tượng trên các viên chức Bộ Ngoại Giao. Quan tâm đến Việt Nam từ khi Truman bắt đầu giúp tài chánh cho Pháp ở đó (Việt Nam), những viên chức Bộ Ngoại Giao đã luôn luôn để ý đến những người lãnh đạo chống Cộng cực đoan vì ảnh hưởng của Pháp đã phai nhạt. Sau Điện Biên Phủ, Eisenhower muốn ủng hộ một chính phủ mở rộng hơn là chính phủ của ông Vua, người không được quần chúng ủng hộ mấy vì đã từ lâu bị coi như là một bù nhìn của Pháp và Mỹ. Do đó Mỹ muốn có một người Quốc Gia ở địa vị cao ở Nam Việt Nam để làm giảm sự hấp dẫn của Hồ Chí Minh. Kết quả là Bảo Đại đã cho Diệm một chức vụ mà Diệm mà Diệm vẫn muốn – Thủ Tướng. [[Về chuyện này Bernard Fall viết trong The Two Viet-Nams, trang 244: “Ý thức được rằng mình đang ném ngai vàng đi, Bảo Đại bắt Diệm phải thề (Theo Stanley Karnow, trang 218, Bảo Đại bắt Diệm thề trước cây Thánh Giá [before the crucifix]) trung thành với ông, và nhiều nhân chứng có thẩm quyền quả quyết là Diệm cũng còn quỳ xuống trước Hoàng Hậu Nam Phương là sẽ làm hết sức trong phạm vi quyền lực của mình để “giữ ngai vàng cho Hoàng Tử Bảo Long, con của Bảo Đại” (Fully realizing that he was throwing his throne away, Bao Dai allegedly made Diem swear a solemn oath of allegiance to him, and several authorative witnesses affirm that Diem also swore on his knees to Empress Nam-Phuong that he would do everything in his power “to preserve the throne of Viet-Nam for Crown Prince Bao-LOng”, son of Bao Dai.) Nhưng chúng ta đã biết, chỉ hơn 1 năm sau, Diệm đã dùng tiền của CIA để tổ chức cuộc Trưng Cầu Dân Ý gian lận để phế bỏ Bảo Đại và lên làm Tổng Thống. Về vụ này Bernard Fall cũng viết, trang 257: “Trong hầu hết các nơi bỏ phiếu, có nhiều ngàn phiếu nhiều hơn là số cử tri đã bỏ cho Diệm . Thí dụ, Ở vùng Saigon-Chợ Lớn, đếm được 605,205 phiếu trên số 450,000 cử tri ghi danh”. (In nearly all electoral areas, there were thousands more “Yes” votes than voters. In the Saigon-Cholon area, for example, 605,025 votes were cast by 450,000 registered voters)]

Diệm trở về Saigon ngày 26 tháng 6, 1954, sau Edward Lansdale vài tuần. Lansdale là trùm CIA về quân sự ở Saigon, đặc trách cuộc chiến không theo quy ước [có nghĩa là đánh phá ngầm]

Lập trường của Spellman về Việt Nam phù hợp với những mong ước của giáo hoàng. Malachi Martin, một cựu tu sĩ dòng Tên phục vụ tại Vatican trong những năm Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam, nói rằng giáo hoàng muốn Mỹ ủng hộ Diệm vì giáo hoàng đã bị người anh của Diệm, Tổng giám mục Thục, ảnh hưởng. “Giáo hoàng quan tâm đến sự càng ngày càng thắng lợi của Cộng sản do đó làm suy yếu giáo hội,” Malachi xác nhận rằng: “Giáo hoàng ra lệnh cho Spellman khuyến khích Mỹ tham chiến ở Việt Nam.”

Do đó Spellman xếp đặt một chiến dịch hòa điệu kỹ càng để dựng lên chế độ Diệm. Qua báo chí và vận động trong hậu trường ở Washington, vấn đề đối đầu chống Cộng ở Đông Dương được phổ biến rộng rãi ở Mỹ.

Spellman và Kennedy cũng còn giúp lập lên một nhóm vận động hậu trường Washington. Chủ trương của sự đồng minh này là chống Cộng và phát huy ý hệ Công Giáo.

..Do đó, rất nhiều người Mỹ tin rằng Việt Nam là một quốc gia phần lớn là Công Giáo. Một phần của cái ấn tượng sai lầm này là kết quả của việc Diệm lên cầm quyền. Với sự giúp đỡ của CIA tổ chức cuộc bầu cử gian lận năm 1955, Diệm hủy bỏ chế độ quân chủ và Bảo Đại bị cưỡng bức phải sống trong cảnh lưu đầy. Cái màu sắc Công Giáo đậm đà trong cuộc vận động hậu trường Việt Nam cũng góp phần tạo nên quan niệm sai lầm trên. Còn một yếu tố khác là sự đặt mình vào trong đường lối trên của Spellman.

Rồi còn có vai trò hấp dẫn của một bác sĩ Công giáo trẻ hoạt động ở Việt Nam tên là Tom Dooley. Một Trung Úy hải quân hoạt động ở Hải Phòng, Dooley làm việc với các người tị nạn.

Là con cưng của Spellman, có một lúc Dooley tổ chức được 35,000 tín đố Công Giáo Việt Nam ở miền Bắc đòi di cư. Có lẽ những nỗ lực của Dooley thành công ở Mỹ hơn là ở Việt Nam. Hắn viết ra những bài trong nhật báo và tuần báo và 3 cuốn sách bán chạy nhất để tuyên truyền cho Công Giáo và chống Cộng theo những niềm tin của hắn. Hắn dựng lên những chuyện người Công Giáo bị khổ nạn trong tay của những người Cộng Sản đã đánh đập vào bộ sinh dục của các linh mục trần truồng, chọc thủng màng tai của những đứa trẻ bằng đũa để cho chúng không nghe được về Thiên Chúa, và mổ bụng phụ nữ có thai. Tốt nghiệp đại học Notre Dame ở Indiana [thực ra Dooley không tốt nghiệp bác sĩ từ đại học Notre Dame mà từ đại học St. Louis. Trường Notre Dame có tiêu chuẩn cao nên Dooley không theo được và phải bỏ Notre Dame theo học ở St. Louis. Nhưng ngay ở đây, Dooley cũng học rất kém, phải học lại năm cuối, và khi làm nội trú cũng phải làm thêm 6 tháng. Nhưng vì những công việc chống Cộng bịp bợm nên Dooley đã trở thành nổi tiếng như là một bác sĩ tận tụy giúp người di cư và chống Cộng cực đoan. Vì vậy năm 1960, trường Notre Dame trao tặng cho Dooley chức bác sĩ hàm] , Dooley đi khắp nước Mỹ để quảng cáo những cuốn sách của mình và hô hào chống Cộng, rồi chết năm 1961, khi mới có 34 tuổi. Người cuối cùng đến bên giường bệnh của Dooley là Hồng Y Spellman, người đã tôn ông bác sĩ trẻ như là nguồn cảm hứng cho mọi người – một thánh tử đạo khác. Tiếng tăm của Dooley không suy giảm cho đến khi Ủy Ban phong Thánh của Công Giáo La Mã điều tra năm 1979 và khám phá ra rằng Dooley có liên hệ với CIA. [Muốn biết sự thực về con người của Tom Dooley, xin đọc bài “Doctor Tom Dooley” của Peter Brush trong mục các bài tiếng Anh]

Dooley đã giúp CIA tạo loạn cho Bắc Việt qua những chương trình tị nạn của hắn. Những người Công Giáo đổ vào miền Nam đã mang đến cho Diệm một hậu thuẫn chính trị lờn và được hứa hẹn của Mỹ giúp đỡ để tái định cư. Quần chúng Mỹ phần lớn tin rằng hầu hết những người Việt Nam đều khiếp sợ sự độc ác và khát máu của Việt Minh và tìm đến ông Diệm sợ Chúa để được giải thoát. Nhiều người tị nạn chỉ sợ bị trả thù vì mình đã ủng hộ Pháp.

…Sự tuyên truyền của Spellman về bản chất Công Giáo của chính quyền Diệm đã làm rõ rệt thêm hình ảnh không đẹp về vị thế của giáo hội ở Việt Nam. Cái bản chất tôn giáo của chính quyền Diệm và những vấn đề chính quyền đó tạo ra đã được ghi nhận bởi Graham Greene, một tín đồ Công Giáo, trong một bài viết từ Saigon, in trong tờ London Sunday Times ngày 24 tháng 4, 1955:

“Chính cái giáo thuyết Công Giáo đã làm cho chính quyền Diệm sụp đổ, vì sự sùng tín của ông ta đã bị những cố vấn Mỹ khai thác cho đến khi giáo hội ở trong nguy cơ làm mất lòng dân như Mỹ. Một cuộc viếng thăm không thích hợp của Hồng y Spellman (Hồng Y Spellman đến Việt Nam để nâng uy tín của Diệm đồng thời bi thảm hóa của cuộc di cư lớn lao của người Công Giáo “dramatizing once more the great exodus of refugees from the North, the greater part of whom are Catholics.”) Một linh mục Việt Nam nói: Ông ta (Spellman) nói nhiều về con bò vàng [mà một số người Do Thái thờ phụng như được viết trong Cựu ước. TCN] hơn là về Mẹ Thiên Chúa] đã được tiếp nối bởi những cuộc viếng thăm của Hồng y Gillroy và Tổng Giám mục ở Canberra. Những số tiền lớn lao đã được dùng để tổ chức những cuộc biểu tình đón tiếp những vị khách này, đưa ra một ấn tượng là giáo hội Công Giáo là của Tây phương và là đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh. Trong những trường hợp hiếm hoi mà ông Diệm thăm viếng những vùng của Việt Minh trước đây, bao giờ cũng có một linh mục đứng bên, và thường là một linh mục Mỹ.

…Nam Việt Nam, thay vì đối đầu với chế độ toàn trị của miền Bắc bằng những bằng chứng về tự do, lại rơi vào một chế độ độc tài bất hiệu lực: dẹp bỏ báo chí, kiểm duyệt chặt chẽ, lưu đầy bằng lệnh của chính quyền thay vì phải được xét xử ở tòa án. Thật là bất hạnh khi một chính quyền như vậy lại đồng nhất hóa với một đức tin. Ông Diệm rất có thể đã để lại trên đất nước đầy tinh thần khoan nhượng này một di sản chống-Công Giáo.”

Trong cuộc viếng thăm, Spellman đã trao một ngân phiếu 100,000 đô-la cho Tổ Chức Cứu Trợ Công Giáo, một tổ chức hoạt động tích cực trong chương trình tái định cư những người di cư và sau đó cai quản chương trình viện trợ của Mỹ, chứng tỏ Tổ Chức này sát cánh với nỗ lực chiến tranh của Mỹ và đưa tới sự nghi ngờ là Tổ Chức có liên hệ với CIA. Dùng Giáo hội để làm chức vụ như vậy đã được thi hành ở Châu Mỹ La-Tinh, ngoài nhiều nơi khác, nhưng ở Việt Nam có vẻ đúng như những lời khuyến cáo của Graham Greene là Giáo hội và Mỹ đã cùng nhau thi hành một đường lối thất nhân tâm đối với những người Việt Nam.

Khả năng tham nhũng ở Việt Nam rất cao và cũng làm hại tới uy tín của Tổ Chức Cứu Trợ. Drew Parson ước tính chỉ trong năm 1955 chính quyền Eisenhower đã bơm vào Việt Nam trên 20 triệu đô-la viện trợ giúp người tị nạn Công giáo. Không thể tránh được, có quá nhiều gắn ghép và tham nhũng trong việc phân phối thực phẩm, thuốc men, và các đồ dùng khác tới các làng mạc. Tờ National Catholic Reporter đã phúc trình những sự lạm dụng của Tổ Chức Cứu Trợ Công Giáo trong nhiều bài mà một bài có đầu đề là: “Việt Nam 1965-1975. Vai Trò của Tổ Chức Cứu Trợ Công Giáo: Công Trình Của Chúa – Hay Của CIA?” Những sự lạm dụng bị phanh phui gồm có: dùng viện trợ để truyền đạo, chỉ giúp những người Công Giáo tuy viện trợ là cho tất cả mọi người, đồng nhất hóa với quân lực, và đem cho binh lính Mỹ và Việt thay vì cho dân sự như mục đích của viện trợ. [Những người ở Việt Nam thời đó đều biết rõ các Linh mục Công Giáo Việt Nam và tổ chức Công Giáo được giữ độc quyền để phân phát viện trợ. Sự phanh phui trên là từ một tờ tuần báo của chính Công Giáo] 1

Qua tài liệu trên, và phối hợp với nhiều tài liệu khác, thí dụ như của Joseph L. Daleiden, một học giả Công Giáo trong cuốn The Final Superstition, chúng ta thấy rõ vai trò then chốt của Vatican đã dự phần đưa tới việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Chúng ta cũng còn biết, Hồng Y Spellman đã đến Việt Nam nhiều lần, đi tới các tiền đồn để khuyến khích lính Mỹ chiến đấu cho Chúa: “Trong một bài học thuộc Giáo hội thời Trung Cổ, Spellman bảo với binh sĩ Mỹ là họ là những “thánh chiến quân” tham gia vào cuộc chiến của Chúa Ki Tô chống Việt Cộng và dân chúng Bắc Việt” (John Cooney, p.384: In a lesson from the medieval Church, Spellman told the troops they were “holy crusaders” engaged in “Christ’s war against the Viet-cong and the people of North Vietnam). Nhưng tại sao Chúa lại chống Cộng ở một nước nhỏ bé như Việt Nam, sao Chúa không chống Cộng ở Nga, ở Tàu, hay ở Ba Lan, Tiệp Khắc ngay bên Âu Châu? Vatican, thêm một lần nữa, đã mang tội với dân tộc Việt Nam và các tín đồ Công Giáo Việt Nam phải gánh cái hậu quả này. Chúng ta cũng thấy rõ, Ngô Đình Diệm chẳng qua chỉ là một con cờ của liên minh Mỹ-Vatican. Và Ngô Đình Diệm không thể ngờ được rằng về sau, vì quyền lợi của Vatican và của Mỹ, cả Vatican và Mỹ đều bỏ rơi mình, đưa đến một kết quả quá bi thảm cho chính bản thân. Thật là tội nghiệp. Dưới hình thức nào thì thực dân cũng đều như nhau. Ngày nay, những tàn dư của Cần Lao còn cố gắng “phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm” mà không biết rằng họ đang phục hồi tinh thần Trần Ích Tắc.

Để cho công bình, chúng ta cũng còn phải xét thêm việc từ khi về làm Thủ Tướng và rồi tự lên làm Tổng Thống, “Cụ Diệm” đã làm gì cho đất nước? Đã có nhiều sách viết về nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa: Đỗ Mậu, Lê Trọng Văn, Hồ Sĩ Khuê, Nguyệt Đam & Thần Phong, Nguyễn Mạnh Quang, Vũ Ngự Chiêu v..v… Nhưng xin đọc Phần II để biết người Tây Phương đánh giá ông Ngô Đình Diệm như thế nào.

1. Though few people knew this, the Cardinal played a prominent role in creating the political career of a former seminary resident in New York who had just become Premier of South Vietnam, Ngo Dinh Diem. In Diem, Spellman had seen the qualities he desired in any leader: ardent Catholicism and rabid anti-Communist.

Spellman had met Diem in New York in 1950, when the Vietnamese had been at the Marykoll Seminary in Ossining, New York. A staunch Catholic from a patrician family, Diem was at seminary at the intercession of his brother, Ngo Dinh Thuc, a Roman Catholic bishop. A lay celibate and deeply religious, Diem had cut himself off from the world, especially his war-shredded nation, and had been known only to a small, politically active circle in the United States. In his homeland his name had hardly evoked enthusiasm. On an official level in the United, Diem was an unknown quantity, a situation Spellman helped rectify. Diem’s background meant that he inevitably came to the attention of Spellman.

The man responsible for bringing them together was Father Fred McGuire. A former missionary to Asia, McGuire’s intimate knowledge of the Far East was well known at the State Department. One day the priest was asked by Dean Rusk, then head of the Asian section, to see that Bishop Thuc, who was coming to the United States, met with State Department officials, McGuire recalled. Rusk also expressed an interest in meeting Diem.

McGuire contacted his old friend Bishop Griffiths, who was still Spellman’s foreign affairs expert. He asked that Thuc be properly received by the Cardinal, which he was. For the occasion Diem came to the Cardinal’s residence from the seminary. The meeting between Spellman and Diem may well have been a historic one. Joseph Buttinger, a prominent worker with refugees in Vietnam, believed the Cardinal was the first American to consider that Diem might go home as the leader of South Vietnam.

In October 1950 the Vietnamese brothers met in Washington at the Mayflower Hotel with Stae Department officials, including Rusk. Diem and Thuc were accompanied by McGuire as well as by three political churchmen who were working to stop Communism: Father Emmanuel Jacque, Bishop Howard Carroll, and Georgetown’s Edmund Walsh. The purpose of the meeting was to ask the brothers about their country and determine their political beliefs. It soon became clear that both Diem and Thuc believed that Diem was destined to rule his nation. The fact that Vietnam’s population was only ten percent Catholic mattered little as far as the brothers were concerned.

As Diem spoke during the dinner, his two most strongly held positions were readily apparent. He believed in the power of the Catholic Church and he was virulently anti-Communist. The State Department officials must have been impressed. Concerned about Vietnam since Truman first made a financial commitment to helping the French there, they were always on the lookout for strong anti-Communist leaders as the French faded. After Dien Bien Phu, Eisenhower wanted to support a broader-based government than that of Emperor, who enjoyed little popular support and had long been considered a puppet of the French and the Americans. Thus US officials wanted a nationalist in high office in South Vietnam to blunt some of Ho Chi Minh’s appeal. The result was that Bao Dai offered Diem the job he had always wanted – Prime Minister. Diem returned to Saigon on June 26, 1954, or several weeks after the arrival of Edward Lansdale, the chief of the CIA’s Saigon Military Mission, who was in charge of unconventional warfare..

Spellman’s Vietnam stance was in accordance with the wishes of the Pope. Malachi Martin, a former Jesuit who worked at the Vatican during the years of the escalating U.S. commitment to Vietnam, said the Pope wanted the US to back Diem because the Pope had been influenced by Diem’s brother, Archbishop Thuc. “The Pope was concerned about Communism making more gains at the expense of the Church,” Martin averred. “He turned to Spellman to encourage American commitment to Vietnam”.

Thus Spellman embarked on a carefully orchestrated campaign to prop up the Diem regime. Through the press and a Washington lobby, the problem of confronting anti-Communism in Indochina became widely known in America. One of the men Spellman aided in promoting the Diem cause was Buttinger, a former Austrian Socialist who headed the International Rescue Committee, an organization that had helped refugees flee Communism after Worl War II and now helped people fleeing North Vietnam. The Geneva Accords provided that people moving between the north and south should have 300 days in which to do so. The refugee problems were enormous. When he visited New York, Buttinger met with Spellman and explained the situation. The Cardinal placed him in touch with Joe Kennedy, who arranged meetings for Buttinger with the editorial boards of major publications such as Time and the Herald tribune. Editorials sympathetic to the plight of refugees fleeing Ho Chi Minh’s Vietnam began appearing in the American press.

Spellman and Kennedy also helped form a pro-Diem lobby in Washington. The rallying cries were anti-Communism and Catholicism. Through their connections, they soon had a high-powered committee, which was a lumpy blend of intellectuals and conservatives… Spellman’s man on the board was Monsignor Harnett, who headed the Cardinal’s Catholic Near East Welfare Association and now served as the Vietnam lobby’s chief link with the Catholic Relief Services.

To a large extent, many Americans came to believe that Vietnam was a preponderantly Catholic Nation. This misimpression resulted partly from Diem’s emergence as ruler. With the help of the CIA-rigged election in 1955, Diem abolished the monarchy and Bao Dai was forced to live in exile. The heavily Catholic hue to the Vietnam lobby also accounted for much of the widespread belief. Still another factor was Spellman’s identification with the cause.

Then there was the role of a winsome young Catholic doctor working in Vietnam named Tom Dooley. A navy lieutenant who operated out of Haiphong, Dooley worked with refugees. At one point Dooley, a favorite of Spellman, even organized 35000 Vietnamese Catholics to demand evacuation from the north. Dooley’s efforts were perhaps even more successful in the US than in Vietnam. He churned out newspaper and magazine articles as well as three best selling books that propagandized both the Catholic and anti-Communist nature of his beliefs. He fabricated stories about the suffering of Catholics at the hands of perverted Communists who beat naked priests on the testicles with clubs, deafened children with chopsticks to prevent them from hearing about God, and disembowed pregnant women. A graduate of Notre Dame in Indiana, Dooley toured the US promoting his books and anti-Communism before he died, in 1964, at age 34. One of the last people to visit his sickbed was Cardinal Spellman, who held up the young physician as an inspiration for all – another martyr. Dooley’s reputation remained untarnished until a Roman Catholic sainthood investigation in 1979 uncovered his CIA ties.

Dooley had helped the CIA destabilize North Vietnam through his refugee programs. The Catholics who poured into South Vietnam provided Diem with a larger political constituency and were promised US-supported assistance in relocating. The American public largely believed that most Vietnamese were terrified of the cruel ad bloodthirsty Viet Minh and looked to the God-fearing Diem for salvation. Many refugees simply feared retaliation because they had supported the French…

Spellman’s propagandizing of the Catholic nature of Diem’s regime reinforced a negative image of the Church’s position in Vietnam. The sectarian nature of Diem’s government and the problems of that government were noted by the writer Graham Greene, himself a Catholic, in a dispatch from Saigon printed in the London Sunday Times on April 24, 1955:

An unfortunate visit by Cardinal Spellman has been followed by those of Cardinal Gillroy and the Archbishop of Canberra. Great sums are spent on organizing demonstrations for the visitors, and an impression is given that the Catholic Church is occidental and an ally of the US in the cold war.

…The South, instead of confronting the totalitarian North with the evidence of freedom, has slipped into an inefficient dictatorship: newspapers suppressed, strict censorship, men exiled by administrative order and not by judgement of the courts. It is unfortunate that a government of this kind should be identified with one faith. Mr. Diem may well leave his tolerant country a legacy of anti-Catholicism.)

During his visit Spellman presented a check for $100000 to the Catholic relief Services, which was active in the refugee-relocation program and later administer a great deal of the US aid program, which closely bound the CRS to the US war effort and later led to the suspicion that the CRS had CIA ties. Turning to the Church to perform such a function was done in Latin America, among other places, but in Vietnam it eventually seemed to bear out Graham Greene’s warnings that the Church and the US were being tied to a cause unpopular among Vietnamese.

The potential for corruption in Vietnam was tremendous and also harmed the CRS’s reputation. Drew Parson estimated that in 1955 alone, the Eisenhower administration pumped more than $20 million in aid into Vietnam for the Catholic refugees. Unavoidably, there was much graft and corruption involved in getting food, medical supplies, and other goods from ship to villages. By 1976 the National Catholic Reporter, a hard-nosed weekly newspaper, reported apparent CRS abuses in articles such as one entitled “Vietnam 1965-1975. CRS Role: Christ’s Work – or the CIA’s” The abuses cited included using supplies as a mean of proselytizing; giving only Catholics aid mean for everyone, being identified with the military; and giving CRS goods to American and Vietnamese soldiers rather than to the civilians for whom the goods were meant.)

Trần Chung Ngọc, giaodiemonline.com
Trích ĐDTB, ngày 12/12/06
NDVN, ngày 19/12/06

nhandanvietnam.org

Categories: Lật đổ chính quyền | Bình luận về bài viết này

Chống cộng hay chống gậy

Cứ nhìn vào tổ chức, hội đoàn, đảng phái dơ dáy chống Cộng đào thoát, đoàn thể chỉ có một, hai, lên đến nhăm ba đứa như Thông Luận, khùng điên bầy nhầy, “năm cha ba mẹ” ấu đá chửi nhau “như C” từ biểu tình biểu dục, thùng tiền chính nghĩa khiến cháng, xây tượng đến treo cờ…. thì hiểu ngay lực lượng không lực lượng của “phe ta”. Nghĩa là “Đừng nghe những gì lũ chống Cộng nói, mà hãy nhìn lũ chống Cộng làm”.

Vả lại nếu treo cờ, xây tượng và xây Bia ( tưởng niệm vượt biên di dân kinh tế, ngụy ngôn là phản kháng nhà nước VN, tìm tự do)…thắng được CS, sao không làm ngay từ trước, đến bây giờ “ nếu trúng số được kết quả ” cũng đã muộn và chỉ rơi vào sự khai thác lợi dụng của tư bản Mỹ. Để nếu có thể tái diễn tư do dân chủ cho miền Nam làm nô lệ như thời gian Mỹ ở Việt Nam, trước khi Mỹ tháo chạy!

Tiện đây, chúng tôi muốn nói đến “ tự hào ” rất vô duyên của người mình khi xưng nhận la “ đồng minh của Mỹ! Mỹ không có đồng minh chỉ có chư hầu tay sai, thằng bồi, con ở, cùng lắm là người làm công, như các trí thức khoa bảng Ph.D từ Mỹ về, hay các tướng lãnh cũ là công chức cao cấp của Mỹ mà thôi, như trước kia nhóm khoa bảng thân Pháp là công chức cao cấp của Pháp. Ngay cả Pháp nhận lãnh 80% chiến phí do Mỹ chi viện chống Cộng, cũng là công cụ nhất thời của Mỹ, sau này Mỹ đã hất cẳng Pháp ra khỏi Việt Nam để trực tiếp làm chủ nhân. Mà tòa đại sứ Mỹ chính là “ An Nam Đô Hộ Phủ ”, lịch sử tái diễn thay người Tàu bằng người Mỹ thôi

Trong một bài tham luận nhân chuyến viếng thăm của TT Phan Văn Khải, một người viết nọ đã mỉa mai miền Bắc cho trình diễn ca hát bài Việt Nam Minh Châu Trời Đông của nhạc sĩ Công Giáo La Mã Hùng Lân. Nhưng người viết này đã quên hay không dám nhắc đến tủi nhục hơn nhiều là miền Nam hay chính quyền tay sai bù nhìn VNCH,(lời bộ trưởng quốc phòng Mỹ)đã đánh cấp bài Thanh Niên Hành Khúc của Việt Cộng Lê Hữu Phước để làm quốc ca. Chưa kể những bài Không Quân Việt Nam, Hải Quân VN hay Lục Quân VN của Phạm Duy sáng tác vào thời CS nắm quyền miền Bắc, hay ngay cả bài thơ Mầu Tím Hoa Sim, miền Nam rầm rộ ngâm thơ và phổ nhạc cũng là của CS Hữu Loan, miền Bắc cho nên những thằng ăn cướp đừng nên kết án bậy!

Ngu muội nhất là phe chống Cộng cuội lại hồ hỡi tin rằng sau Iraq đến VN để phe ta về chia chác và nhất là cho Giặc Áo Đen cơ hội một lần nữa làm Việt gian bán nước cho thực dân đế quốc bá quyền Mỹ và thực dân giả cầy La Mã.

Cuộc Cách mạng tháng Tám 1945, bắt buộc phải lần lượt dẫn đến Nam Kỳ trở về với đất nước, rồi sau đó thống nhất lãnh thổ, VN trở thành một quốc gia có danh dự chủ quyền và người mình làm chủ. Một người quen của tôi ở trường ĐH/CTCT cũ, lúc nào cũng khoe con cái học thành tài bác sĩ, kỹ sư. Sự tự hào đó là của bậc cha mẹ thấy con ngoan ngoãn học hành thành tài và trở nên người hữu dụng thay vì sì ke băng đảng ma túy là tốt. Tuy nhiên xin đừng quên đó là cái giá chúng ta phải trả sau khi chịu làm bồi cho Mỹ, con Mỹ hay Mỹ con trong thời gian Mỹ chiếm đóng miền Nam mà luật lệ nhà nước bù nhìn VNCH bị coi như cỏ rác.

Hãy nhớ Ngô Đình Riệm chẳng có công lao gian khổ gì được Mỹ ẩm về lên làm lãnh tụ miền Nam còn ôm cứng lấy quyền lực, không do xương máu hy sinh và tài năng của một lãnh tụ để bị chết thảm. Theo tôi, Ngô gia, bị bế tắc không ra khỏi thế kẹt; vì nếu từ chức chắc chắn khó trả lời về vụ bà Cả Lễ độc quyền thầu những công tác cho bộ quốc phòng khi con rễ là Trần Trung Dung làm bộ trưởng. Cha Thục buôn lậu gỗ với Sáu Tộ, hay cậu Cẩn giết người cướp của và gởi vàng ở Dòng Chúa Cứu Thế Thổ Phỉ Huế!

Do đó đảng CSVN sau khi tranh đấu bảy mươi năm trời, với hình ảnh hào hùng của cán binh hy sinh gian khổ, cơm vắt quần cụt dùng chiến tranh tiêu hao khiến Mỹ phải chạy. Nghĩa là chịu buông tha dân ta dưới ách kìm kẹt của tư bản Mỹ, chúng ta phải cảm phục và ngày nay họ và con cháu họ cầm quyền là điều đương nhiên không có gì phải thắc mắc cả. Và họ và con cháu họ sẽ còn cầm quyền lâu hơn nữa, với tâm chất cách mạng và cần kiệm liêm chính, quyết tâm đưa đất nước trở thành con Rồng Á Châu, khi đối lực “ quốc gia ” không có, như đã nói chỉ là hình thức bề ngoài, còn bên trong hoàn toàn là chủ nghĩa lãnh tụ cá nhân khật khùng.

Nhân sự, tiền bạc và thế quốc tế quốc nội không có. Một Việt gian Nguyễn Chí Thiện đã mập mạp hết ho lao nhờ ăn cơm uống thuốc Mỹ, một Việt gian Đoàn Viết Hoạt đã được sang Mỹ ăn đám cưới lớn của con, một Việt gian Nguyễn Đan Quế chẳng có ai ngoài Tâm Vấn và Việt gian Nguyễn Quốc Quân…, một thứ tranh đấu Việt gian sa lông trông cậy vào ngoại bang, để đế quốc thực dân bá quyền khủng bố Mỹ lợi dụng tạo áp lực xía vào nội trị Việt Nam và ngoại thương, và chỉ rởm đời khi không nhìn thấy sự thờ ơ lãnh đạm của đại khối người Việt di dân kinh tế liên tục về Việt Nam, hàng hàng lớp lớp đã nhìn thấy tận mắt sự thật, hơn là dối trá gian manh của một thứ chống Cộng lỗi thời và chỉ dùng để moi tiền di dân Việt qua danh nghĩa kháng chiến ma.

Chống Cộng bằng những hành vi bạo động côn đồ như đánh viên chức chính quyền xuất ngoại chỉ là trò con nít của óc não chim sẽ than van khốn khổ khi bị tù. Thua trận thì phải đi tù, đông tây kim cổ định luật ấy không thay đổi. Đọc Kinh Cựu Ước thấy kẻ thua bị mất hết ruộng vườn nhà cửa vợ con. Đến nỗi Đức Chúa Trời còn dính máu ăn phần khi được chia cho 32 gái trinh, thì có đánh cán bộ công nhân viên nhà nước xuất ngoại, chính quyền VN vẫn không suy xuyển, và nhất là sự xa lánh coi thường của đại khối di dân kinh tế về hành vi côn đồ sẽ gia tăng sự khinh bỉ thờ ơ! Và luật chống khủng bố Mỹ đến nỗi ông Lasado một cộng tác viên CIA Mỹ người Cuba chống Fidel Castro, làm nổ một phi cơ gây chết 71 nạn nhân, trốn sang Mỹ đã phải ra đầu thú khi chính sách chống khủng bố của Mỹ sau vụ 911 được triệt để áp dụng dể chống lại khủng bố, nhất là Hồi Giáo.

Không ai ngăn cấm tự do chống Cộng, nhưng đừng chống an toàn ở hậu phương Mỹ và làm mồi cho Mỹ dùng làm áp lực với chính quyền Việt Nam. Dù biết áp lực đó chưa hẳn đi đến đâu. Hãy thành thật tự hỏi thời còn miền Nam trong tay Mỹ, chúng ta chống Cộng như thế nào?

Do đó cuốn “ Võ Văn Ái Con Nội Trùng Của Phật Giáo Việt Nam ” không muốn nói gì hơn là nhận tiền của Mỹ phải làm việc cho Mỹ và sẵn sàng đi ngược hay phản lại dân tộc tổ quốc. Nói như vậy, không phải là chúng ta ngu muội chống Mỹ mà phải làm sao giữ cho được sự tôn trọng danh dự chủ quyền của dân tộc. Không thể nào tin được đế quốc thực dân bá quyền Mỹ sẽ mang và thực hiện dân chủ tự do “ kiểu Mỹ ” cho Iraq hay Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào!, mà đế quốc bá quyền xâm lược Mỹ, ngụy tạo để xâm lăng cướp nước mà thôi. Hai địa phương và cách sống khác nhau không thể lẫn lộn.

Không thể nào chân trong chân ngoài. Ở ngoại quốc hưởng thụ, con cái được nuôi dưỡng ăn học thành tài, nhưng lại muốn làm đại lãnh tụ điều khiển việc đất nước. Việc làm đó, chẳng khác gì xuất cảng Nhà Thương Điên Biên Hòa đi khắp nơi. Hãy suy nghỉ và hành động thận trọng, hơn là làm đào kép trên sân khấu Quảng Lạc, mà sự tụ họp bất cứ vì lý do gì không đông bằng một đám cưới, không nhiều bằng một đám ma! Khi những tuyên cáo sẽ có tập hợp cả mấy chục ngàn người chỉ là sự cường điệu của những kẻ ươn hèn, chết nhát không dám nhìn vào sự thật!

PHT (Theo Đông Dương thời báo)
Trích, Người Việt Yêu Nước, ngày 11/2/06

nhandanvietnam.org

Categories: Lật đổ chính quyền | Bình luận về bài viết này