Nhân dân Việt Nam

Bàn về xu hướng – xét lại lịch sử, viết lại lịch sử

Gần đây, ý kiến “xét lại lịch sử”, “viết lại lịch sử” được nêu lên dưới một số hình thức với một số biến tướng khác nhau, nhưng qua biểu hiện của chúng có thể sơ bộ quy loại trong ba nhóm: “a. Viết lại lịch sử vì cho rằng thiếu chân thực (về tư liệu)…

Nhận thức là quá trình tiệm cận chân lý. Về lịch sử, khi thế hệ sau có tư liệu toàn diện, chân xác hơn, thì nhận thức về lịch sử có bước phát triển mới. Ðó là yêu cầu của xã hội, của khoa học, là việc bình thường đáng trân trọng của các nhà sử học chân chính. Nhưng lại có người lợi dụng điều này, lớn tiếng đòi “xét lại lịch sử”, “viết lại lịch sử” với động cơ không minh bạch.

Gần đây, ý kiến “xét lại lịch sử”, “viết lại lịch sử” được nêu lên dưới một số hình thức với một số biến tướng khác nhau, nhưng qua biểu hiện của chúng có thể sơ bộ quy loại trong ba nhóm: “a. Viết lại lịch sử vì cho rằng thiếu chân thực (về tư liệu) và thiếu hiểu biết (về phương pháp); b. Viết lại lịch sử để tô vẽ bản thân; c. Viết lại lịch sử với mưu đồ chính trị”. Không rõ do động cơ và ý đồ không trong sáng, do thiếu hiểu biết và thiếu trách nhiệm, hay do “thói quen giật tít câu view” mà một số tờ báo, tạp chí đã góp phần làm sai lệch một số vấn đề lịch sử? Với mức độ, tốc độ lan truyền thông tin như hiện nay, với sự thiếu trách nhiệm trong kiểm chứng hoặc thẩm tra độ chính xác của thông tin, thì điều này gây tác hại rất lớn. Như có tờ báo phỏng vấn “nhà cách mạng lão thành”, nhưng “nhà” này “nhớ nhầm”, nói sai, quy công lao về phía mình. Có sách lại viết về “nhân vật lịch sử quá cố” với bao niềm thương tiếc, trong khi chính người này lại vẫn sống khỏe mạnh (!). Có báo, sách công bố sai lệch nhiều tư liệu, chữa lại cả sự kiện lịch sử đã được khẳng định – mà cái “sự mới” do họ viết ra lại không dựa trên cơ sở khoa học nào… Những ấn phẩm đó mang danh viết về lịch sử nhưng lại làm “nhiễu” kiến thức, gây mơ hồ và chính sự mơ hồ “chưa kết luận”, dẫn đến sai lệch trong tư duy, dẫn đến nghi vấn về sự thật.

Một loại “xét lại lịch sử” khác nhằm phục vụ âm mưu “hạ bệ thần tượng, giật đổ tượng đài”. Thực ra, những người muốn “xét lại lịch sử” với ý đồ đó khi lớn tiếng hô hào xét (viết) lại lịch sử chỉ mượn danh khoa học lịch sử. Không khó để nhận ra phương pháp họ sử dụng rất phi khoa học, tư liệu họ dùng để làm “bằng chứng” được ngụy tạo một cách sống sượng. Một thói quen hay gặp ở các tác giả muốn “viết lại lịch sử” là thường nhấn mạnh các chi tiết riêng lẻ mà không đặt chúng trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Như một người từng có những năm đứng trong đội ngũ chiến đấu trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, sau khi “trở cờ” lại lớn tiếng lên án chế độ mình từng bảo vệ “trong suốt cả thời gian dài mấy chục năm (dưới chính thể Việt Nam DCCH) không có ai được cấp hộ chiếu để đi du lịch nước ngoài” (!). Hẳn ông ta quên là trong bối cảnh cả nước sống với câu khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến”, thì một người Việt Nam chân chính ai lại nghĩ đến đi du lịch nước ngoài! Xa hơn nữa là cái “công trình” cho rằng “truyền thuyết trăm trứng liên quan tới Lạc Long Quân – Âu Cơ từng được ghi lại trong Lục độ tập kinh – một bộ kinh Phật; truyền thuyết về An Dương Vương chỉ là dị bản mô phỏng trận đánh giữa anh em Pandu và Duryodhana được kể lại trong Mahabharata – một sử thi Ấn Ðộ” được một tờ báo làm rùm beng, làm không ít người vì băn khoăn mà đã nghi ngờ các công trình nghiên cứu lịch sử.

Sinh thời, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp – người là một thầy giáo dạy môn lịch sử, đã nói đại ý: Người làm sử phải có trái tim nhiệt thành, đầu óc sáng suốt, ngòi bút ngay thẳng. Từ cái gọi là “công trình” họ đã công bố, có thể thấy một số người tham gia viết sử hôm nay có hai điều kiện kể trên nhưng ngòi bút của họ lại “không thẳng”. Ðiều đáng nói là các cơ quan, cán bộ có trách nhiệm tổ chức, quản lý công việc viết sử lại bỏ qua, giữ thái độ im lặng, “án binh bất động”, tuy họ thừa hiểu rằng làm như vậy là sai. Do đó, họ đã (vô tình hay hữu ý) im lặng trước một việc sai, có thể tiếp tay cho cái sai tiếp theo, đó là điều cần phê phán. Bên cạnh đó, việc một số cuốn sách, tờ báo thiếu cẩn trọng đưa thông tin sai sự thật tới công chúng, hoặc đưa thông tin không chính xác, thậm chí sai về lịch sử cũng ảnh hưởng nghiêm trọng nhận thức chung.

Lịch sử Việt Nam có những trang bi hùng. Nhiều lần đất nước bị kẻ thù xâm chiếm, tàn phá, rồi bằng nỗ lực của toàn dân mà đất nước lại hồi sinh. Bối cảnh đó làm cho nhiều giá trị văn hóa, nhiều tư liệu lịch sử bị hủy hoại, dẫn đến thực tế là không phải giai đoạn nào cũng có tư liệu lịch sử phong phú, và lịch sử giai đoạn đó được chép một cách đầy đủ, chính xác. Ðó cũng là lý do mà lịch sử cần phải nhận thức từng bước, các bộ sử cần được tu chỉnh, thậm chí viết lại. Việc làm này trước hết là phụ thuộc vào người viết sử – những người nhận trọng trách trước xã hội về sự chân thực, chính xác khi tái hiện quá khứ. Việc nghiên cứu và viết sử cần ở người viết một tầm nhìn rộng hơn ngoài chuyên môn sâu của mình để phân định điều gì của lịch sử đã được khẳng định, điều gì còn là tồn nghi, điều gì bị chi phối bởi “tâm lý xã hội”.

Ở Việt Nam, huyền sử nhiều khi lẫn với lịch sử và ngược lại – những chi tiết lịch sử được “thiêng hóa” trở nên mờ ảo lung linh, khó có thể kiểm định, xác minh bằng chứng cứ. Có những nhân vật từ huyền sử bước vào những trang lịch sử. Chuyện này đã có nhiều trong quá khứ và vẫn có cả trong thời hiện đại. Trong một số tình huống, việc đòi hỏi “bạch hóa” hoặc “thiêng hóa” một chi tiết hoặc một nhân vật lịch sử đều là thái quá, trở nên siêu hình về phương pháp, khi không đặt các chi tiết hoặc nhân vật trong cả bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn – tại nơi được sinh ra. Câu chuyện truy nguyên “lý lịch” của Kinh Dương Vương gần đây trên một tạp chí và được một số trang mạng dẫn lại là một thí dụ. Theo tác giả, dường như hình tượng huyền thoại Kinh Dương Vương có nguồn gốc sai lạc so với sự tôn kính. Ðáng chú ý là luận điểm này đã được một vị Giáo sư, Tiến sĩ người nước ngoài nêu ra. Ông cho rằng, từ thời trung đại, Việt Nam đã có việc “kiến tạo truyền thống” mặc dù chính các sử gia và chính trị gia thời phong kiến cũng đã phê phán việc “kiến tạo” này. Nhưng kể cả khi hình tượng có thể có sai lệch theo quan điểm mà nhà nghiên cứu đòi thực chứng, thì thực tế nhân vật ấy vẫn “thiêng” trong cả đền đài và tâm thức nhân dân. Khi dân tộc cần đoàn kết, nhân tâm cần “quy về một mối” thì sẽ (và đã) xuất hiện một, và chỉ một “Quốc tổ”. “Quốc tổ” bước từ huyền thoại vào lịch sử với diện mạo của một con người. Dù chứng cứ, hiện vật khảo cổ học đã chứng minh sự tồn tại của một nền văn minh khá rực rỡ trong thời đại đó, thì việc cố truy tìm đầy đủ, rõ ràng lý lịch cá nhân, chính xác như thời nay là điều không thể. Nhưng dù không thể có một “lý lịch” thật cụ thể, vị thủ lĩnh đó vẫn thiêng liêng tồn tại trong tâm thức dân gian, không ai đòi phải chứng minh bằng kỹ thuật xác minh ADN hiện đại! Chưa nói tới xu hướng “xét lại lịch sử” bằng giả định “nếu như thế này thì sẽ thế kia” như ngầm bác bỏ sự lựa chọn xu hướng phát triển dân tộc. Cho nên phẫn nộ với ý kiến cho rằng: “Không cần phải phát động chiến tranh làm tốn phí cả bốn hay năm triệu sinh linh, thì rồi đến lúc nào đó, Pháp cũng phải trả lại chủ quyền độc lập cho dân ta”, nhà sử học là người Mỹ gốc Việt Nguyễn Mạnh Quang đã viết rất rành mạch: “Trừ phi không biết hoặc thuộc loại phản quốc, khi có một nước khác đến ngồi trên đầu làm chủ, không có một người dân tử tế nào bằng lòng chờ cho có ngày bọn thực dân tự động trả lại cơ đồ ông cha mình cả. Nếu theo luận điệu ươn hèn như trên, thì những công lao và sự hy sinh của hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ trong các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta trong đại cuộc đánh đuổi giặc Pháp ngoại xâm từ năm 1858 đến năm 1954 đều là vô ích hay sao! Và hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến 1954 – 1975 để đòi lại miền Nam trong tay Mỹ, đem lại thống nhất cho đất nước cũng là vô ích hay sao! Ðưa ra luận điệu này là tỏ ra vô ơn với hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống cho Tổ quốc Việt Nam được trường tồn”.

Nhu cầu hiểu biết về quá khứ luôn là một đòi hỏi của con người. Nhà sử học Nga O Va-in-xten cho rằng: “Lịch sử là sự tập hợp những tấm gương để cho người ta bắt chước những hành vi tốt và tránh đi những hành vi xấu” (Sử học Tây Âu thời Trung đại, Matxcova, 1962). Các bài học, kinh nghiệm từ quá khứ lịch sử vẫn mang những giá trị to lớn đối với xã hội hiện tại, để động viên nhân dân trong cuộc đấu tranh giành lại độc lập dân tộc. Năm 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng, cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi,… yêu dân trị nước tiếng để muôn đời”; “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn…” (Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, H. 2011, tr 255 – 256). Sự khách quan, tính trung thực chính là điều làm cho sử học hấp dẫn. Hứng thú khi đọc và học lịch sử cũng bắt nguồn từ đó. Nghiên cứu để thấu suốt, nhận biết lịch sử ngày càng đúng đắn, sâu sắc hơn là yếu tố đầu tiên quyết định giá trị của nghiên cứu, điều đó cần thiết cho hôm nay và cho cả con cháu mai sau. Nhưng lịch sử cũng không cần và không chấp nhận việc “xét lại lịch sử” với tầm nhìn hẹp, hoặc từ cái tâm thiếu trong sáng.

Theo NHÂN DÂN ONLINE

Nguồn: viethaingoai.net

Advertisements
Categories: Nhân dân Việt Nam | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sự thật về bức ảnh “Trung Quốc – Thành phố Việt Nam”

Những ngày gần đây, trên các diễn đàn FB không ngừng “xôn xao” về 1 bức ảnh một khu nhà với 2 dòng chữ bằng tiếng Hoa và tiếng Việt: 中国·越南城、/ Trung Quốc ▪ Thành phố Việt Nam.

Bức ảnh này ban đầu được đăng trên facebook của 1 nữ “dân chủ”, tên Lan Le (diện mạo cô này có vẻ như 1 người Việt gốc 1 dân tộc thiểu số nào đó ở Tây Tạng & còn lấy tên TQ là Tenzin Yang Lha). Cô này đăng ảnh và chú thích: “Khu phố Tàu ở Bình Dương , công khai để biển : VN là thành phố của Tàu. Ảnh từ FB Ku Mon”.

Nhưng khi người xem hỏi đường link của Ku Mon thì cô ta không trả lời nên chúng tôi tạm thời xem như ảnh / thông tin xuất phát ban đầu từ cô ta.

Ngay sau đó, Việt Tân, đám chó săn cho ngoại bang  đã đăng lại ảnh này (như các bạn thấy dưới đây).

Câu hỏi đặt ra là cho bất cứ người Việt nào khi nhìn thấy bức ảnh này là:

Có phải bức ảnh được chụp ở Bình Dương hay một nơi khác?

Có phải bức ảnh là thật hay chỉ là một sản phẩm của công nghệ?

Có phải là một âm mưu nào đó sau bức ảnh?

Có phải là Trung Quốc Thành phố Việt Nam như hàng chữ tiếng Việt kia?

……..

Tất nhiên, tôi chẳng chút mảy may tin vào những điều mà những kẻ có căn bệnh di truyền phản quốc như tụi này thải ra. Mọi chuyện trên đời đều có thể xảy ra, vì một lý do nào đó, nhưng nếu được xử lý qua não bộ chó săn của chúng, tất cả đều bốc mùi. Rất thối!

Và tôi sẽ chứng minh điều đó ngay dưới đây.

Bức ảnh này không phải chụp tại Bình Dương

Có quá nhiều lý do để khẳng định điều này:

1. Bình Dương là nơi mới xảy ra vụ bạo loạn chống Trung Quốc cho nên “bố bảo” cũng chẳng có “thằng TQ” nào dám ra giữa phố Bình Dương mà làm cái “khẩu hiệu” này cả. Đây không phải thứ băng-rôn thông thường mà là các dòng chữ công phu, dán trên 1 tòa nhà kiểu trung tâm thương mại, nên điều đó càng khó xảy ra tại BD nếu mang hàm ý không tốt.

Sở dĩ lũ phá hoại chọn Bình Dương là vì chúng cố tình muốn đổ dầu vào đám tàn tro của vụ bạo động vừa qua. Lũ khốn!

2. Bình Dương là 1 đô thị mới phát triển nên kiến trúc của nó cũng khá hiện đại. Trong khi đó, tòa nhà trong ảnh lại là 1 kiểu kiến trúc hơi bị “quê mùa” và thường có ở các khu vực phía Bắc hơn là phía Nam. Đây là 1 nơi công cộng nhưng 1 thời gian sau khi thông tin về bức ảnh được đưa ra, chả có “thổ địa” Bình Dương nào có thể nói tòa nhà này ở đâu trong tỉnh nhà. Và những kẻ tung tin đồn nhảm, dĩ nhiên càng không thể chỉ ra điều đó. Các bạn có thể tham khảo kiến trúc tương tự tòa nhà này trong bức hình thứ 3, ở 1 nơi cách Bình Dương hàng nghìn kilomet: Vân Nam, Trung Quốc.

Tòa nhà có kiến trúc tương tự tại Vân Nam

3. Dòng chữ trên băng-rôn dù nhỏ & không đủ nhưng vẫn có thể thấy rõ:

– Hàng trên, sót lại 9 chữ TQ: 边境经济贸易交易会 , có nghĩa là: Hội chợ thương mại biên giới.

– Hàng dưới, còn sót lại vài chữ VN: Trung – Việt năm 2014.

Điều đó chỉ ra rằng, đây là 1 hội chợ thương mại vùng biên giữa VN & TQ năm 2014, cụ thể là vào tháng 11/2014 như thời gian bức ảnh được chụp.

Mọi chuyện như thế là quá rõ ràng phải không?

Bình Dương thì chắc chắn chẳng phải là 1 tỉnh biên giới giáp Trung Quốc để mà tổ chức hội chợ vùng biên này, phải không?

Trên thực tế thì đây chính là Hội chợ thương mại biên giới Trung – Việt năm 2014, được tổ chức tại Hà Khẩu (Vân Nam, Trung Quốc), nơi tiếp giáp với tỉnh Lào Cai, Việt Nam (hình 2).

Đây là Hội chợ thường niên, được tổ chức lần thứ 14, diễn ra từ ngày 8/11 đến 12/11/2014, là sự kiện thúc đẩy sự giao lưu, hợp tác kinh tế, thương mại mang tính khu vực giữa hai tỉnh Lào Cai và Vân Nam, góp phần đẩy mạnh quan hệ hữu nghị, giao lưu văn hóa, hợp tác kinh tế giữa hai bên, tăng cường hơn nữa mối quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia.

Cụ thể, hội chợ được diễn ra ở Trung tâm thương mại quốc tế Trung Quốc – ASEAN (Hà Khẩu, Vân Nam, Trung Quốc) và cũng chính là nơi bức ảnh được chụp.

Họp báo Hội chợ thương mại biên giới Trung – Việt năm 2014

Sự thật về “Trung Quốc – Thành phố Việt Nam”

Như đã nói ở kỳ 2, tỉnh Lào Cai và Vân Nam của Trung Quốc là hai tỉnh giáp ranh, có cửa khẩu quốc tế Lào Cai (phía VN) – Hà Khẩu (phía TQ). Hà Khẩu là một huyện tự trị của người Dao, thuộc châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, là nơi có ga nối đường sắt từ Côn Minh (thủ phủ của Vân Nam) đến Hà Nội và cũng là nơi tập trung chính các dự án hợp tác giữa Lào Cai và Vân Nam.

Với hệ thống giao thông thuận lợi gồm cả đường bộ, đường sắt, đường sông, Lào Cai là cửa ngõ quan trọng với hành trình ngắn nhất nối Việt Nam với các nước trong khu vực ASEAN qua cảng biển tới các tỉnh miền Tây Nam (Trung Quốc). Hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) hàng hóa qua các cửa khẩu Lào Cai ngày càng sôi động. Trong giai đoạn 2010-2013, tổng kim ngạch XNK đạt gần 6,5 tỷ USD. Dự báo đến hết năm 2014, kim ngạch XNK qua các cửa khẩu tỉnh Lào Cai ước đạt gần 1,6 tỷ USD. Chính vì vậy, giữa Lào Cai và Vân Nam đã và đang có nhiều dự án thúc đẩy cho sự phát triển của kinh tế vùng biên mà một trong những dự án quan trọng và lớn nhất là Khu hợp tác kinh tế qua biên giới có diện tích rộng 11 km2, quy hoạch tại thị trấn Hà Khẩu, huyện Hà Khẩu.

Nằm trong phạm vi của khu hợp tác kinh tế qua biên giới có một dự án bất động sản của “công ty hữu hạn trực nghiệp Thiên Nguyên” có tên là “中国·越南城” và được dịch ra là “Trung Quốc – Thành phố Việt Nam”. Dự án này có vốn đầu tư 400 triệu nhân dân tệ, tổng diện tích 86 mẫu Anh (khoảng 34,4 héc-ta) trong đó diện tích xây dựng là 180.000 mét vuông, nằm cạnh bờ sông Hồng. Dự án được quảng cáo là “nơi thương trú tổng hợp”, “dung hợp văn hóa và phong cảnh ba nước Trung – Việt – Pháp”, “kiến trúc mang đầy yếu tố phong cách của Việt Nam, định vị chủ đề văn hóa mới toàn diện để thương gia và du khách khi đi lại trong đó như vào đến đất nước Việt Nam, có cảm tưởng “ở Trung Quốc mà cảm thấy như ở Việt Nam, Ở Việt thể ngũ Trung Quốc”,… Dự án này mới được mở bán ngày 11/09/2014, với chương trình khuyến mãi: “Đặt mua nộp trước 02 vạn được tính thành năm vạn, nhiều loại yêu tiên bất ngờ đáng mừng!”. Không biết chừng đám Vịệt Tân lừa đảo lắm tiền nhiều của đã đến đó “xí” vài lô rồi!

Về cách phiên dịch tên dự án này, tôi cho rằng có thể người ta đã dịch không chuẩn và điều này cũng không lạ nếu chúng ta xem xét các poster quảng cáo của họ bằng tiếng Việt, hệt như được dịch bằng “Google dịch”. Thứ nhất, tên gọi “中国·越南城” nếu dịch xuôi thì phải là “Trung Quốc – Việt Nam thành”. Ở giữa Trung Quốc và Việt Nam có dấu gạch nối “▪” thể hiện sự gắn kết 2 tên riêng vào thành 1. Thứ hai, trong poster quảng cáo của nhà đầu tư, có rất nhiều chỗ viết là “Phố Việt Nam – Trung Quốc”. Như vậy, đúng ra dự án này trong tiếng Việt phải gọi là “Khu đô thị Trung Quốc – Việt Nam”. Điều này cũng tương tự như cách đặt tên Bệnh viện Việt – Tiệp, BV Việt – Đức, BV Việt – Xô, trường Việt – Úc, trường Việt – Mỹ, trường Hà Nội – Amsterdam,… tức là thể hiện tình hữu nghị, sự hợp tác của đôi bên.

Nói tóm lại, đối với đám phản quốc, lưu vong thì tốt nhất “đừng nghe những gì chúng nó nói mà hãy nhìn những gì chúng nó làm”! Như trong quá trình tìm hiểu về việc này, nhiều bạn nói rằng tác giả của trò tung tin này, tức người có nick Lan Le nào đó là một kẻ tâm thần, chúng ta càng thấy rõ “trí tuệ” của các thành phần chống phá đất nước này. Do đó, hãy là những “người tiêu dùng (thông tin) thông thái” nếu không muốn bị xỏ mũi bởi một lũ tâm thần!

Theo: doi-mat.vn

Categories: Nhân dân Việt Nam | Nhãn: | 3 phản hồi

AI ĐANG GÀO THÉT VỀ NGUYỄN QUANG LẬP (QUÊ CHOA) VẬY?

Chiềng Chạ

Nói về việc Nhà văn Nguyễn Quang Lập bị bắt, cựu Uỷ viên từng được trao trọng trách quản trị “Việt Nam thời báo” cua “Hội Nhà báo độc lập” Ngô Nhật Đăng viết: “Bọ Lập bị bắt, một số con kền kền, quạ đen gào inh ỏi: Tại sao lại bắt ? Nhiều người nói còn ghê hơn mà không bị. Hay: Phe nhóm ấy mà, cho nó chết, hay “bắt nghiệp vụ” thôi. vân vân và vân vân…Tởm lợm.

Cái đám ấy đâu biết họ cũng chỉ như cá nằm trong rọ đối với lũ kiêu binh, chỉ cần một cơn hứng chí vớ vẩn của một tên vớ vẩn nào đấy, thời vô thiên vô pháp như Lê -Trịnh mạt ấy mà.

Hoàng Lê nhất thống chí chép đến Quận Huy oai lệch trời đất còn bị đám kiêu binh lôi từ trên lưng voi xuống, đấm đá cho chết rồi mổ bụng moi gan ăn sống. 

Nhưng khi có biến, đám kiêu binh cải trang trốn biệt, không dám lên tiếng, chỉ cần nói giọng Thanh- Nghệ là bị dân chúng giết liền”.

Thực tế thì tôi không có ý bắt bẻ hay cố vặn vẹo gì trong câu từ của con người thất sủng cũng đã lâu này. Nhưng tôi thực sự rất thích cách nói của Ngô Nhật Đăng trong trích đoạn nói trên. Đề cập đến cái không khí sau khi cha đẻ của “Ký ức vụn 1 2” vừa bị Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra lệnh tạm giam để phục vụ điều tra về các hành vi theo điều 258 – Bộ Luật hình sự, Ngô Nhật Đăng với sự thân tình được biết đến:

“Buổi chiều đang ngồi thì nhận được được điện thoại: “Lập quê choa dính rồi đấy”. 

Phải đến 5,6 năm rồi chưa gặp anh, cách đây ít ngày anh gọi điện :

– Anh Đăng ơi, cho tôi hỏi việc này.

Trả lời xong mình gắt :

-Anh học cái kiểu khách sáo ở đâu ra đấy? Từ trước đến giờ anh vẫn mày tao với em mà.

Anh cười :

– Ừ nhỉ, cám ơn Đăng” (FB Ngô Nhật Đăng) cho thấy sự quan tâm phần nào của dư luận đối với sự kiện này. Tuy nhiên, điều tôi băn khoăn nhất là “cái đám kền kền, quạ đen gào inh ỏi” được Đăng đề cập đến là ai? Có phải là Huỳnh Ngọc Chênh, Trương Huy San hay cả Nguyễn Quang Vinh không hay là những người bình thường, chưa từng biêt đến Nguyễn Quang Lập nhưng ghét cay, ghét đăng thứ văn hoá phẩm hư cấu, xuyên tạc đến tởm lợm?

Được biết đến là Nhà văn định hình được phong cách, cá tính sáng tạo khá rõ nét, trong một lần trả lời báo chí cách đây hơn 06 năm, Nguyễn Quang Lập (NQL) từng viết: “Tôi luôn xác định rõ đối tượng của mình là khán giả từ 25 tuổi trở lên và những người có văn hoá cao. Họ xem phim của tôi để nghiền ngẫm và suy tưởng chứ không phải chỉ giải trí thuần tuý. Đời cát và Thung lũng hoang vắng sở dĩ thành công vì tôi xác định đúng đối tượng phục vụ và mục đích làm phim là để cống hiến cho nghệ thuật chứ không thuần tuý là câu khách”. Và xem ra thì điều đó cũng được NQL sử dụng và đưa vào hoạt động Blog và gây nên cơ sự đáng buồn như ngày hôm nay. Phát biểu trên của NQL cho thấy, thứ mà ông viết không phải bất cứ ai cũng hiểu, cũng có thể cảm thụ được, nó cố hướng đến một đối tượng cảm thụ mang tính đặc thù và có thiên hướng nổi loạn trong tư tưởng, phát ngôn hàng ngày. Việc Blog Quê Choa của Lập bị chặn cũng là một nguyên nhân khiến đối tượng có thể tiếp cận và hiểu văn của Lập – thứ văn trên các trang cá nhân chính vì thế bị hạn chế đi nhiều. Cho nên, sẽ không quá khó để khoanh vùng cái phạm vi đối tượng được đề cập tương đối bóng gió, mập mờ nói trên của Ngô Nhật Đăng.

Trên thực tế, cho đến thời điểm hiện tại thì thông tin về Nguyễn Quang Lập trên các trang tin chính thức đến từ Bộ Công an và Công an Thành phố Hồ Chí Minh cũng chỉ đưa những dòng ngắn ngủi về thời gian và một số thông số về chủ thể bị bắt phục vụ điều tra. Điều này cho thấy, việc gào thét, đưa tin về Nguyễn Quang Lập lại bị giới hạn bởi những người thạo tin, những bạn bè và người thân thuộc của NQL. Tới đây thì chắc không quá khó để chỉ mặt những con người này, họ có thể là Huỳnh Ngọc Chênh – nguyên Thư ký Toà soạn báo Thanh Niên, là Nguyễn Huy Đức – cha đẻ của “Bên thắng cuộc” đầy lầm lỗi và đầy rẫy những chi tiết hư cấu do tác giả tự nghĩ ra, và cũng không thể thiếu Nhà văn có biệt tài láu cá và cơ hội – Nguyễn Quang Vinh (em trai của NQL)? Phải chăng cái đối tượng mà Ngô Nhật Đăng muốn đề cập đến là đây? Nói như thế cũng để thấy rằng, rõ ràng việc Nguyễn Quang Lập bị khám xét tại Nhà riêng và bị bắt không qúa ồn ào như người ta vẫn tưởng, nó cũng chỉ là một sự khởi đầu đầy cay đắng của một kẻ vi phạm pháp luật và suy cho cùng thì dù có gào thét đến đâu thì đó đơn thuần cũng chỉ là sự thương cảm của những cá nhân giành cho nhau; nó sẽ không làm thay đổi cái bản án mà NQL sắp phải lãnh nhận trong tương lai gần!

Để thấy rõ hơn sự gào thét của Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Huy Đức và Nguyễn Quang Vinh, xin được lục lọi từ trang cá nhân của các vị này để đưa về đây trưng diện.

Từ FB Huỳnh Ngọc Chênh, ông này viết: “Một Nhà Văn chân chính trong xã hội đầy bất trắc, bất công và tàn bạo! Chúc Anh chân cứng đá mềm, chúc Anh dồi dào sức khỏe vượt qua gian lao tù ngục bất công…Tác phẩm Ký Ức Vụn của Anh đã khẳng định tầm vóc hiên ngang sừng sững của Anh nói lên một sự thật trớ trêu,cay đắng,đầy bẩn thỉu của một xã hội đương đại giả dối và nhồi sọ …

Tôi tin rằng: rồi đây,lịch sử sang trang, Tập truyện ngắn Ký Ức Vụn của Anh sẽ được thế hệ trẻ đưa vào Văn Học Sử, phê phán hiện thực của một thời bao cấp Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa” => Có thể xem đây là một sự động viên của môt người thường xuyên có những cuộc nhậu đến tàn canh với Lập! Ở đó có thứ niềm tin mà chỉ đến với chuyện cổ tích may ra mới gặp được! Tôi tạm đặt đây là sự gào thét 1….

Từ FB Trương Huy San (Nguyễn Huy Đức), ông này viết: “Nguyễn Quang Lập bị bắt lúc 2:00 chiều nay, 6-12-2014. AN chỉ mang đi máy tính, và một số bài viết, đoạn chat… in ra; họ để lại Hệ Thống Xã Hội Chủ Nghĩa của Kornai Janos và Bài Thơ Của Một Người Yêu Nước Mình của Trần Vàng Sao. Chưa thấy lệnh khởi tố, vợ anh, chị Hồ Thị Hồng nói: “Anh Nguyễn Quang Lập dặn, yên tâm, nếu sau 9 ngày không thấy về thì chắc khoảng 3 năm”. => Nguyễn Huy Đức đến với gia đình Lập từ rất sớm và cũng là một trong số các cá nhân biết đầu tiên chuyện Lập bị bắt. Cái cách Huy Đức gào thét có chăng khiến người ta nghĩ đến Đức là một người bạn lớn của gia đình Lập và chấm hết.

Vân vân và vân vân…..

Nhân dân Việt Nam
Theo: blogspot.co.uk

Categories: Nhân dân Việt Nam | 4 phản hồi

RFA muốn thổi “gió dân chủ” từ Hồng Kong về Việt Nam !

Vẫn giọng điệu hằn học vốn là bản chất của cơ quan ngôn luận kiểu mõ làng, RFA việt ngữ chưa bao giờ có thiện chí với chính phủ Việt Nam, khi đọc bài của cái họ tự xưng là: “Nhóm phóng viên tường trình từ VN”?! với giật tit “Giới trẻ Việt Nam với tin biểu tình ở Hồng Kong” thì người đọc hiểu ngay là RFA muốn gì. Bằng cách gọi là trích dẫn nội dung “Phỏng vấn” của một số bạn trẻ tên A,B,C…vv… ở một số nơi ở trong nước, nói lên suy nghĩ của mình về những gì đang diễn ra ở Hồng kong để lồng ghép, suy diễn ý đồ của mình với mục đích kích động, xuyên tạc những gì mà chính phủ và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực duy trì sự ổn định để dốc tâm vào công cuộc xây dựng và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.

Với giọng lưỡi thể hiện bản chất thâm căn cố đế luôn coi thể chế chính trị ở Việt Nam là cái gai trong mắt họ, RFA việt ngữ luôn dùng những ngôn từ hằn học trong bài viết như “Trong lúc các sinh viên Hồng Kông đồng loạt biểu tình yêu cầu người đứng đầu Hồng Kông Lưu Chấn Anh từ chức và yêu cầu nhà cầm quyền Trung Quốc hãy để người Hồng Kông tự quyết định vận mệnh của họ, tự bầu giới thiệu, ứng cử và bầu chọn lãnh đạo của họ, có thể nói là một cuộc biểu tình hết sức gay cấn và làm thế giới thay đổi cách nhìn về Á Châu… Thì tại Việt Nam, ở thành phố Hà Nội, thủ đô của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, giới trẻ yêu nước đã bắt đầu thể hiện thái độ ủng hộ sinh viên Hồng Kông bằng nhiều hoạt động khác nhau, dường như cuộc biểu tình của giới trẻ Hồng Kông đã truyền lửa rất mạnh cho giới trẻ Hà Nội nói riêng và giới trẻ Việt Nam nói chung” ?! Xin hỏi các vị RFA rằng: có cái kiểu xuyên tạc đến mức nhố nhăng như các vị thế nào là “Hà Nội, thủ đô của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam”?!  cách nói hằn học này đủ để mọi người hiểu rõ bản chất truyền thông “Trung thực” của RFA việt ngữ. Xin nói cho các vị được rõ thủ đô Hà Nội là trái tim của cả nước Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam, của toàn thể hơn 90 triệu con tim Việt cả trong và ngoài nước, Hà Nội không là của riêng của bất kể thể chế chính trị nào. Xuyên tạc lịch sử, gây hồ nghi cho lớp trẻ, lợi dụng nhiệt huyết yêu nước, kích động tư tưởng mà các vị ra rả là “cấp tiến”  mục đích là tạo nên một làn sóng chống lại chính quyền, vi phạm pháp luật …gây đảo lộn trật tự xã hội ở trong nước. Với những ý đồ  tinh vi cả về thủ đoạn và sách lược hòng nắm lấy lực lượng “chiến lược” này, các tổ chức chống cộng ở hải ngoại và một số tổ chức cá nhân “nhà dân chủ” được sự cổ vũ “nhiệt tình” của các tổ chức nước ngoài cha đẻ của các “phúc trình”, “báo cáo”…vv.. luôn nuôi giấc mộng “Chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không khói thuốc súng”  đang tấn công mạnh mẽ trên các lĩnh vực tư tưởng-văn hoá, coi đây là mũi đột phá nhằm xoá bỏ chế độ hiện tại ở Việt Nam mà điểm mấu chốt là nhắm vào giới trẻ là học sinh, sinh viên, chính là làm chuyển hoá tư tưởng dẫn tới quá trình “tự diễn biến” theo cách họ nói là “biểu tình ôn hòa” !? RFA đã lộ rõ ý đồ của họ khi thể hiện quan điểm áp đặt một các phi lý khi họ luôn nói thể chế chính trị ở Việt Nam là độc tài? ô hay các vị cố tình đánh lận con đen giữa “độc tài” và “độc Đảng”? chính cái kiểu nói trời ơi đó đã hướng dư luận đến cái đích mà RFA mong muốn là: “mọi hoạt động của các công dân trong các quốc gia độc tài luôn nằm ở dạng chỉ định và bị áp đặt. Chính sự chỉ định và áp đặt nhằm phục vụ lợi ích cho phe nhóm độc tài đã làm cho tầm quan sát cũng như mọi tri kiến của mọi cộng dân bị giới hạn trong lăng kính của kẻ độc tài. Và một khi con người hiểu được nhu cầu cần tiến bộ, cần văn minh của mình, nhất định người ta sẽ loại bỏ độc tài ra khỏi suy nghĩ và đời sống của họ” ?!…..

Thời gian qua, các thế lực thâm thù với Việt Nam tìm mọi cách thực hiện âm mưu hòng “phá vỡ thế đồng nhất một khối của Đảng Cộng sản Việt Nam” và “làm cho phân tán chế độ cộng sản Việt Nam thành nhiều trào lưu đối kháng nhau” như tuyên bố đầy tham vọng và ảo tưởng của một số kẻ chống cộng cực đoan là người Việt sống lưu vong và một số cơ quan truyền thông như RFA việt ngữ. Thế giới ngày nay, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều quốc gia đang xung đột từ trong nội tại, dẫn đến đau thương, chết chóc, hoang tàn, đất nước tan rã, một thời điểm mà lợi ích của các quốc gia đều có sự ràng buộc lẫn nhau. Không dễ gì một quốc gia có thể bị ảnh hưởng, bị chia cắt bởi một biến cố nào đó. Nhưng bằng cách này hay cách khác, nhiều quốc gia đã, đang và có thể sẽ tiếp tục tan vỡ. Những bài học đó khiến chúng ta không thể chủ quan. Họ luôn quảng cáo cho mô hình “xã hội dân chủ”, họ nuôi dưỡng, kích động các khuynh hướng cơ hội, kiểu như “dám nghĩ, dám làm” … trong giới trẻ nhằm tạo ra sự đối lập với hệ tư tưởng của thế hệ cha ông đang theo đuổi từ đó tạo ra sự xung đột trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm, giữa các thế hệ. Đặc biệt, trên mạng in-tơ-net, họ đưa nhiều thông tin sai lệch, bịa đặt, lấp lửng, gật gân để nhiều người trẻ truy cập và mời chào tham luận làm ra vẻ “Vô tư, khách quan” và luôn thòng theo một câu “chúng tôi tôn trọng ý kiến cá nhân, đây là quan điểm của bạn” và ” Bài viết này không phản ánh quan điểm của báo” ?!  khoét sâu vào những vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong xã hội được báo chí trong nước đăng tải hướng luồng dư luận vào những vụ việc này để kích động lớp trẻ bất mãn với cái họ gọi là “Thảm trạng của đất nước”?! qua đó đã có những tác động rất xấu đến nhận thức, tình cảm, văn hóa, lối sống của một bộ phận giới trẻ là cư dân mạng…

Thế hệ trẻ Việt Nam được nuôi dưỡng trong bầu nhiệt huyết yêu nước nồng nàn hun đúc bằng ngọn lửa 4000 năm dựng nước và giữ nước của cha ông. Lịch sử của chúng ta đã chứng minh một điều là: vũ khí chưa bao giờ mang tính quyết định sự thắng bại của cuộc chiến. Chúng ta  tự tin vào sự đoàn kết của dân tộc dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN. Chúng ta tự tin vào sức mạnh của đất nước trong một bối cảnh đang có rất nhiều cơ hội và thách thức.Thanh niên là lực lượng xã hội có vị trí, vai trò to lớn, là rường cột, là người chủ tương lai của đất nước, là nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc, “nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên”. Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng CSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giành sự quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục bồi dưỡng toàn diện cho thế hệ trẻ, động viên, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của thanh thiếu niên, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc cách mạng. Coi trọng công tác giáo dục cho thanh thiếu niên, đây là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa to lớn, rất quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, khả năng sẵn sàng thực hiện thắng lợi công cuộc bảo vệ Tổ quốc cho thế hệ tương lai của đất nước. Làm được điều đó thì mọi “Nỗ lực” của các vị không thiện cảm với Việt Nam như RFA việt ngữ sẽ là vô vọng mà thôi.

Theo: John Lee (Amarri TX)
Hoa Kỳ oct-11- 2014

Categories: Nhân dân Việt Nam | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Phân tích cảnh Điếu Cầy bị quàng cờ VNCH

Một trò bịp theo sự nhận xét của KBCHN

Cộng đồng bại não tất cả những phóng viên, đại diện hội đoàn ở Annadale, Virginia như bị thịt khi nhìn thấy Điếu Cầy “bị” giáo sư Kim Oanh quấn “thòng lọng” màu Vàng 3 Sọc đỏ. (Nhà báo sinh hoạt hội đoàn 39 năm ở Mỹ, lần đầu tiên thấy lòi ra một nhân vật Kim Oanh, có lẽ những khuôn mặt quen thuộc không ai dám làm vì đã kinh tởm trò hề SBTN, Việt Tân?)

Xem kỹ video thì rõ ràng Điếu Cầy không hề đụng tay hay “trân quý” tự tay cầm vạt cờ tự quấn vào cổ, đừng nói đến chuyện cầm đưa lên miệng hôn (như nhiều người ao ước.) Một đám cừu ngồi xem mặt thờ như ông phỗng đặc óc phán đoán đui chột tư tưởng lại còn vỗ tay hoan hô mà không biết Điếu Cầy đang mang tâm trạng dở khóc dở cười. Không biết phải làm gì bỏ không được, nhận không xong.

Ở đời làm chuyện gì cũng phải do lòng tự nguyện mới là quý không phải là hành động “hiếp dâm tư tưởng” như hình ảnh Điếu Cầy rõ ràng đang bị áp lực.

Lưu ý: Video đã được KBCHN tải xuống để làm tài liệu lưu chiếu, dù có xóa hay sửa lại thì KBCHN vẫn có bản gốc. KBCHN cảnh báo THVN các bạn đừng tự bôi bẩn mặt mình giống như video “đón tiếp” Chủ tịch Trương Sang lấy cờ Barcelona (đội cầu Tây Ban Nha) ra bảo là hàng ngàn người biểu tình chống VC trước tòa Bạch Ốc. Sau khi KBCHN phát hiện sự thật thì vội vã gỡ xuống. KBCHN kêu gọi sự “đạo đức truyền thông” của những người còn liêm sỉ cuối cùng.

Võ Thành Nhân (SBTN) đứng khoanh tay chờ được “ban ơn mưa móc”?

GS Kim Oanh mang cờ lên thay vì đưa cho Điếu Cầy nhận thì để xuống mặt bàn. Người tinh ý hiều ngay đây là có sự “phản đối” của Điếu Cầy vẫn không nhận cờ VNCH.

GS Kim Oang đang “hiếp dâm tư tưởng” Điếu cày bàng cờ Vàng VNCH để tẩy não (brain washed) Cờ Đỏ sao Vàng trong đầu Điếu Cầy

Chết mày chưa Điếu Cầy đây là “sức mạnh của cộng đồng người Việt chống Cộng” sợ chưa?

Ảnh chụp từ video của THVN “hàng ngàn người biểu tình mang cờ VNCH chống chủ tịch Nguyễn Minh Triết”

Biểu ngữ nhắc OBAMA “hút thuôc lào” do Ngọc Hiếu (Việt Tân) đang cầm trước Nhà Trắng.

KBCHN chứng minh hình ảnh ăn mừng chiến thắng vô địch của đội bóng Barcelona (Tây Ban Nha) với 4 gạch đỏ trên nền vàng. Đấu tranh mà mang chủ thuyết bìm bịp thì làm sao chiến thắng đây?

Theo: kbchn.net

Categories: Nhân dân Việt Nam | Nhãn: | 3 phản hồi

Cái đèn cù Trần Đĩnh

Gần đây cuốn tự truyện Đèn cù của tác giả Trần Đĩnh, đang sống tại TPHCM nhưng sách được in từ hải ngoại, được quảng bá rầm rộ như một hiện tượng lạ của văn chương. Thực ra sách vở bây giờ ê hề và quan điểm của người đọc cũng rất đa dạng, lại trong hoàn cảnh xã hội đã cởi mở nhiều nên sự đánh gía hay dở, đúng sai cũng khó, thậm chí loạn xà ngầu! Ai thích gì đọc nấy. Tuy nhiên người cầm bút đều thấm thía lời dạy của cổ nhân: “Văn là người”. Dù chỉ là dăm câu thơ mấy chục từ hay là cuốn sách dăm bảy trăm trang hàng vạn từ, người đọc cũng có thể nhận diện được người viết cùng tài năng nhân cách của họ. Đó là cái “thần” của chữ nghĩa văn chương.

Trần Đĩnh là ai?
Bút danh Trần Đĩnh dường như đã xóa nhòa trong bộ nhớ của giới văn hóa văn nghệ lớp U50 về trước! Trong một cuộc gặp mặt tình cờ mấy bạn văn báo ngồi ấm trà chén nước, tôi hỏi: “Các ông biết Trần Đĩnh là ai và cuốn Đèn cù liệu có bao nhiêu phần trăm sự thật?”. Một anh bạn vào lớp U60 nói: “Chú Trần Đĩnh rất thân với bố em, dạo ở Hà Nội chú ấy thường đến nhà em. Chú ấy từng viết hồi ký cho các ông Hoàng Quốc Việt, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Nguyễn Đức Thuận… Còn chuyện đúng sai thế nào thì không dám bình vì em thuộc lớp con cháu, từng điếu đóm hàng cha chú. Chỉ có một điều em biết rõ ông Phan Đăng Tài là anh chứ không phải là cha ông Phan Đăng Lưu. Em nghĩ chú ấy không thể nhầm như thế được!”.

Trần Đĩnh – Đức “san hô”: ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.

Tự điển Wikipedia mãi tháng 9/2014 sau khi ra cuốn tự truyện Đèn cù mới có tên Trần Đĩnh nhưng lời giới thiệu nghèo nàn, y như từ cuốn tự truyện sao ra. Theo đó, cha ông là thầy giáo, bạn đào viên với Nguyễn Thái Học, Đỗ Ngọc Du (tức Phiếm Chu). Thời học trường Bưởi có tham gia phong trào học sinh bãi khóa để tang cụ Phan Tây Hồ, bị đuổi học và bị ghi vào sổ đen của mật thám. Thế là sợ, về đi làm và ăn chơi. Theo mẹ ông kể để ăn chơi thì phải hối lộ, thế là sinh hư, bà buồn lòng nhận xét: “Điều này ba con xoàng”! Kháng chiến, chạy tản cư về quê vợ. Bị Chủ tịch huyện dù là bạn cũ chuẩn bị cho du kích về bắt. Nhờ người quen báo nên chạy thoát về thành rồi di cư vào Nam. Vào đầu những năm 1960, lớp sinh viên chúng tôi đọc rất say mê những truyện dài đăng tải trên báo Nhân dân như: “Nhân dân ta rất anh hùng”, “Trong xà lim án chém”, “Gặp Bác ở Paris”. Tôi nhớ mãi trong chuyện này có một tiểu tiết khi anh Thành bí mật từ Mascơva về Marseille, gặp Bùi Lâm, đêm nằm tâm sự thì Bùi Lâm lại xưng hô “bác-cháu” (!) dù lúc đó tuổi hai người không chênh nhau bao nhiêu và vị trí xã hội của nhà cách mạng trẻ chưa có gì đặc biệt! Riêng chuyện dài “Từ những cuộc chiến đấu ác liệt thắng lợi trở về”, sau đổi thành “Bất Khuất”, sách in rất đẹp. Hành quân trên đường Trường sơn, mỗi tổ được một cuốn. Anh em truyền tay nhau đọc nhiều lần. Sau bởi những tờ giấy trắng mỏng quá hấp dẫn với những anh nghìền thuốc nên cuốn sách cứ teo tóp dần, đến trạm cuối phân tán mỗi người mỗi ngả, cuốn sách cũng không là mối bận tâm của riêng ai. Các truyện đó cuốn hút người đọc trước hết bởi những con người và sự kiện diễn ra trong hoàn cảnh đối kháng quá ư là khắc nghiệt. Cứ như là những nhân vật chính kể ra cho người nghe ngồi đó nên cũng chẳng cần tò mò tìm hiểu ai là người chấp bút. Tất nhiên là có phần tài năng của họ. Nhưng với người lấy văn làm nghiệp chỉ coi đó là giai đoạn mở đầu thuận lợi. Bởi họ cần những tác phẩm của chính mình. Thế là sau bốn chục năm gác bút ẩn danh, bây giờ nhà thơ, nhà báo Trần Đĩnh mới có dịp được thể hiện chính mình bằng cách cho đứa con rứt ruột chào làng dù có muộn màng! Tôi chợt nhớ câu ca dân dã: “Bà già đã tám mươi tư / Ngồi trong cửa sổ viết thư kén chồng”. Liệu sự hoài thai đứa trẻ này có được như “lão bạng sinh châu”?

Tập Đèn cù mà chính tác giả chưa xác minh thể loại là hồi ký, tự truyện, truyện tôi hay là một dạng tiểu thuyết kiểu mới…? Nghĩa là chưa xác minh thể loại gì, coi như là một phát kiến văn học mới lạ lắm! Cuốn sách dày 600 trang, tôi đọc hai lần không phải vì nó hay mà vì nó cố tình khơi dậy những sân hận hư thực của một thời đã qua, được một nhóm người tà ý ra sức “lăng xê” hòng khuất lấp sự thực hiển nhiên: một dân tộc mất nước đã chấp nhận mọi gian khổ hy sinh, chiến đấu kiên cường giành lại tổ quốc Việt Nam độc lập, thống nhất, có chủ quyền, có vị trí trong cộng đồng quốc tế, đang cùng các quốc gia xây dựng một nền hòa bình, ổn định và thịnh vượng. Tất nhiên những cố tật trầm kha đang là rào cản bước đi lên để các thế lực chống đối trong ngoài ra sức khai thác và lợi dụng.

Người giới thiệu nói rằng “mục đích của tác giả lúc đầu chỉ là tố cáo nhà cầm quyền gây ra nội chiến Bắc-Nam là sai lầm nhưng sau đổi ra hướng phê phán toàn diện”! Viết một tác phẩm lớn dài hơi phải có chủ đích rõ ràng, đầu tư trí tuệ và thu thập tư liệu công phu. Chỉ từ đơn sơ ý thức một chiều bôi đen lịch sử rồi chuyển thể từ cuốn hồi ký kéo dài lê thê thành tiểu thuyết, ắt hẳn không tránh được lúng túng bị động nên mới lộ ra cái sự lủng củng quẩn quanh với các sự kiện bao lâu nay xã hội chẳng lạ lẫm gì. Nhất là ở cái tuổi “lực bất tòng tâm”, lại nhìn đời, nhìn người bằng đôi con mắt có cườm! Chính tác giả đã tự biến thành cái cái “đèn cù Trần Đĩnh”, trái hẳn với ý của ông cò văn chương là để ám chỉ một “xã hội đèn cù”!

Một người đã ở tuổi đại thượng thọ bát tuần rồi mà phải thề rằng: “Tôi xin đối mặt với công luận đấy. Tôi mà ăn gian nói dối thì các ông cứ việc vạch mặt ra”! Thế thì lớp đàn em con cháu có chứng lý gì mà vạch mặt lão tổ sư bồ đề ra chớ?

Đặc biệt lớp chứng nhân đồng trang lứa đa phần đã ngủ yên nơi cõi thiên thu. May ra còn vài ba vị vào tuổi ấy cũng đã nhớ nhớ quên quên như chính ông bạn già này cứ lẫn lộn quẩn quanh không phân biệt nổi giữa hư và thực của những ngày xa xưa với hiện tại rối mù hôm nay!

Mỗi tôi may được trời cho sống qua tuổi “cổ lai hy” nghĩa là chẳng những “nghe người ta nói biết ngay điều phải quấy” (Lục thập nhi nhĩ thuận) mà có “làm theo lòng ta muốn cũng chẳng có gì trái khuôn phép cả” (Thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ). Vậy nên những điều ông Trần nói ra, mỗ tôi không dám bình sai đúng mà chỉ nêu lên một số điều thấy là “không thuận nhĩ”.

Một là:
Ông Trần Đĩnh bỏ nhiều công sức chứng minh rằng mấy mươi năm qua, ĐCSVN đưa dân đưa nước tưởng đi mà đứng, cứ vòng vo luẩn quẩn như cái đèn cù! Vẫn chỉ là mấy con voi giấy, ngựa giấy vòng vo tít mù. Hãy đi thẳng vào điều cốt lõi: ĐCSVN chính thức ra đời đầu năm 1930. Mục đích tối thượng của Đảng là: “Đánh đuổi Đế quốc xâm lược đồng thời đánh đổ chế độ phong kiến tay sai, giành độc lập thống nhất cho tổ quốc, quyền tự chủ cho dân tộc, thành lập chính quyền dân chủ nhân dân, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, giàu mạnh, dân chủ, văn minh, công bằng tiến bộ theo trào lưu tiến hóa của thời đại”. Thực tế là ĐCS đã lãnh đạo nhân dân ta đánh thắng thực dân Pháp trong tương quan lực lượng chênh lệch thế nào mọi người đã biết. Chúng ta tiếp tục đánh thắng đế quốc Mỹ giữa tình hình trong nước và thế giới phức tạp thế nào mọi người cũng đã biết. Chúng ta bảo vệ vững chắc một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, giữ vững chủ quyền trong khung cảnh hòa bình, hữu nghị và xây dựng đất nước ổn định ngày một đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như thế nào mọi người cũng đã biết. ĐCS thừa nhận đã mắc những sai lầm nghiêm trọng trong quản lý kinh tế, tổ chức xã hội và ngay cả trong công tác xây dựng Đảng, đã kìm hãm bước đi lên của tổ quốc ta như thế nào mọi người đều đã biết.

Nhìn lại thành quả của 84 năm qua phấn đấu cực kỳ gian nan vất vả, hy sinh vô bờ bến mà những người CSVN luôn đứng ở hàng đầu để được như ngày hôm nay thì đó là bước đi thẳng tiến từ thấp lên cao chứ đâu có vòng vo quanh quẩn như cái đèn cù? Dù rằng từng thời kỳ, từng bước đi có khúc khuỷu quanh co lên thác xuống gềnh. Trên chặng đường ấy, những lãnh tụ tài ba tâm huyết của ĐCSVN nhiều khi phải như người làm xiếc trên dây lúc tiến lúc lùi để giữ sự thăng bằng giữa nhiều thế lực. Giữa hai vị TBT xuất sắc Trường Chinh và Lê Duẩn, dù mỗi người một phong cách nhưng đều thống nhất. TBT Trường Chinh khẳng định:“ Đường lối của Đảng ta là liên tục phát triển có kế thừa, không có chuyện thay đổi đường lối cũng như chấm dứt cái này cái kia”. Trong một bản tổng kết, TBT Lê Duẩn viết đại ý như sau: Để có một tổ quốc Việt Nam độc lập-thống nhất, chúng ta đã không sợ Mỹ, không sợ Liên Xô, không sợ Trung Quốc. Nếu Trung Quốc và Liên Xô thống nhất với nhau, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta hay không? Nếu hai nước thống nhất và liên kết với nhau để giúp chúng ta, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta như cái cách mà họ đã đánh! Vì thế, để thắng Mỹ, chúng ta phải đoàn kết thật sự với Liên Xô và Trung Quốc, vì đó là hai lực lượng tiến bộ mạnh nhất của thời đại. Dứt khoát không thể phân hóa một trong hai lực lượng đó mới có thể giúp ta hoàn thành sự nghiệp trước tổ quốc và dân tộc. (Về tập đoàn phản động TQ chống VN). Và ĐCSVN đã thực hiện được mục tiêu tối thượng của mình trong khi Liên Xô thì tan rã, Trung Quốc dù còn ở vị trí thượng phong nhưng luôn bị sức ép từ những nước lớn và các quốc gia gần xa dù có bị lệ thuộc ít nhiều nhưng thường xuyên cảnh giác đề phòng. Mỗi chúng ta có thể tự giải thích cho mình về tất cả những biến diễn phức tạp trong bước đi lên trên cơ sở đường lối tư tưởng chiến lược đó. Rất may hồng phúc tổ tiên Đại Việt đã chọn thời điểm phù trợ cho con cháu hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình. Tất nhiên, lịch sử của dân tộc là một quá trình vô tận. Mỗi lúc một yêu cầu bức thiết khác nhau, đòi hỏi mỗi tập đoàn lãnh đạo từng thời kỳ phải có tâm lớn xứng với tầm thời đại để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình.

Xem ra lúc về già, Trần Đĩnh vẫn ngập ngụa trong những sai lầm của cá nhân mình để chưa thể nhìn ra sự thật, cứ mãi luẩn quẩn loanh quanh với những con voi giấy, ngựa giấy sự kiện cũ rích của cái đèn cù, tự biến mình thành đứa trẻ ngây ngô trong một thú vui chốc lát!

Hai là:
Sau KC chống Pháp thắng lợi, về thành, khi mới có chỗ đứng nhất định, một hôm Trần Đĩnh xấc xược hỏi ông Quang Đạm: “Hồi ấy anh nghĩ về tôi thế nào?”. “Nhóc!”. Từ “nhóc” không hàm nghĩa khinh nhưng ám chỉ là thằng bé giúp việc, chưa có chỗ đứng vững vàng. Trong cơ quan báo Sự thật lúc đó giữ vai trò chủ chốt là ông Trường Chinh cùng các ông Quang Đạm, Lê Quang Đạo vào hàng cha chú, đều có học và từng trải; các ông Phan Kế An, Hà Xuân Trường, Thép Mới đều là đàn anh đã qua thử thách tay nghề và nhiều cây bút lớn thường xuyên hợp tác. Vậy mà sau khi xử vụ đại điền chủ Nguyễn Thị Năm – Cát-Hanh-Long ở đồn điền Đồng Bẩm Thái Nguyên, ông Trường Chinh mới chỉ đạo “thằng nhóc” Trần Đĩnh làm một việc quan trọng là “nổ phát pháo đầu ca ngợi sức mạnh của bần cố nông”! Mặc dầu Trần Đĩnh không dự buổi đấu tố thì ông Trường Chinh bảo cứ dựa vào cáo trạng của Đội và khai thác ở người cấp dưỡng tên Văn cùng theo ông xuống dự mấy ngày! Trần Đĩnh không có mặt trong mấy buổi đấu tố đó vậy mà biết Cụ Hồ bịt râu tới dự một buổi (!) và ông Trường Chinh đeo kính râm dự liền mấy buổi (!) Ông Trường Chinh với bí danh Thận, nổi tiếng là người thận trọng trong từng lời nói, bài viết và cách ứng xử chặt chẽ, có phần khe khắt, liệu có dễ làm một việc bất cẩn hồ đồ như vậy với một phóng viên tập sự lại chưa có quá trình rèn luyện thử thách? Để phối hợp với bài báo của Trần Đĩnh lại có bài báo “Địa chủ ác ghê” (tác giả CB tức là Của Bác) vạch tội ác của mẹ con địa chủ Nguyễn Thị Năm. Viết phóng sự đã không tận mắt chứng kiến và khi báo đã phát hành rồi thì phóng viên Trần Đĩnh còn xuống hiện trường làm gì để được nghe nhà báo Tiêu Lang kể lại rằng: Bắn bà Năm rồi, chiếc áo quan chật quá, mấy anh du kích nhẩy lên vừa nhún vừa hô: “Xem có ngoan cố nổi với mấy ông bà nông dân không này?”. Xương gãy cứ là kêu răng rắc!

Đây là vấn đề cực lớn, ai cũng muốn làm rõ ra. Minh bạch điều này không khó. Bà Cát-Hanh-Long bị xử bắn ngày 29 tháng 5 ÂL/1953. Vào thời điểm này, để kết thúc cuộc chiến tranh, Navarre chuyển hướng mặt trận chính lên Tây-Bắc, tất nhiên là vô cùng ác liệt. Vậy hãy vào kho lưu trữ của báo Nhân Dân hoặc truy cứu tàng thư kỷ yếu sinh hoạt của các yếu nhân tại các thư viện lớn hoặc các kho lưu trữ, chắc chắn sẽ làm rõ ra điều đó, rồi sao chụp công bố cho thiên hạ coi tường. Mục đích viết về sự thật, là nhà báo chân chính phải tìm tới ngọn nguồn để khẳng định tài năng tư chất nghề nghiệp của mình. Cho dù sự thật có phũ phàng cũng giúp con người ta hoàn chỉnh nhận thức về nhân sinh thế sự: Dù là vĩ nhân vẫn vấp phải những sai lầm làm tổn hại uy tín của chính mình! Ông Trường Chinh mà trước sau Trần Đĩnh vẫn tỏ ra kính phục, là người thế nào khi chỉ đạo một phóng viên không thực chứng phiên tòa xử tội chết oan một người đàn bà có công lao trong buổi đầu cách mạng mới thành công? Nhưng với tư cách nghề nghiệp phải chăng có vì háo danh mà phóng viên Trần Đĩnh đã chấp nhận làm một điều vô đạo? Trần Đĩnh cũng không “mục sở thị” ông Chu Văn Biên, năm 1953 làm bí thư đoàn ủy CCRĐ Nghệ -Tĩnh, chễm chệ ngồi trên thềm cao chỉ mặt mẹ tố cáo kẻ thù giai cấp (!) để đến nỗi bà cụ cắn lưỡi không chết, phải gieo mình xuống giếng quyên sinh?! Lại cũng chính ông ta sai trói gô bố đẻ Phan Đăng Lưu – nhà cách mạng tiền bối, là Phan Đăng Tài (?!), lùa ông cụ vào đòn ống tre khiêng lên trại tù, ông cụ réo tên thằng con và lũ đàn em của nó lên mà chửi rồi chết mất xác! Vậy mà năm 1967 Phan Đăng Tài sống lại và làm người phụ trách thư viện báo Nhân dân sơ tán ở Hải Hưng đã cho nhà báo Trần Đĩnh mượn tập kịch của Becthold Brech để ông “sáng tạo” nên hình ảnh khôi hài châm biếm về những tấm gương anh hùng trong cuộc chiến tranh giải phóng đầy hy sinh gian khổ của nhân dân ta?!

Ba là:
Ở tuồi 19 lúc bấy giờ, lớp thanh niên thành phố có học cỡ diplome, BACI, BACII, sinh viên các trường đại học, thậm chí có không ít trí thức bỏ lại cả sự “vinh thân phì gia” đi theo kháng chiến ào ào mà mấy người được lọt vô cửa cấm như chàng trai Trần Đĩnh chưa có thành tích gì nổi bật, quả là có thần nhân dắt anh vào cửa Phật. Được nhập môn người thầy tài năng đức độ và uy tín lớn như Trường Chinh là cửa đời quá rộng mở với bất kỳ ai. Và khi tiếng súng vừa dứt, yêu cầu cán bộ có văn hóa về tiếp quản thị thành như cái thùng không đáy mà TBT dứt khoát chọn Trần Đĩnh sang Trung Quốc đào tạo bài bản khơi nguồn trí tuệ cho thế hệ tương lai của nước Việt Nam độc lập, khác chi chuyện bắc thang cho Trần Đĩnh lên Trời. Thời điểm đó Trung Quốc là chiếc cầu nối ta với Liên Xô và quan hệ Việt-Trung rất là gắn bó. Kết thúc khóa học bốn năm, Trần Đĩnh về nước. Tưởng mình đã được tuyển vào “đội ngự lâm quân” hay “lính gác tư tưởng của Đảng” mà ngoài việc làm đáng kể nhất là viết được mấy tập hồi ký của vài nhân vật nổi tiếng như đã nói ở trên thì không hiểu sao người thầy có uy tín toàn năng đỡ đầu từ thuở nhập môn cách mạng là vị TBT nổi tiếng về trí tuệ và nhân cách đã nhận xét thẳng thắn rằng: “Không ngờ Trần Đĩnh lại sa đọa chính trị đến thế!”. Đó là điều lý giải rõ nhất vì sao Trần Đĩnh hôm nay đang sống và viết những gì?!

Riêng với ông Lê Đức Thọ tuổi cũng vào hàng cha chú, ở cương vị Thường vụ Trung ương Đảng. Một năm trước khi “thằng nhóc” Trần Đĩnh lên chiến khu Việt Bắc, ông đã được cử vào Nam tăng cường cho sự lãnh đạo của xứ ủy Nam kỳ và cùng với với Lê Duẩn như cặp bài trùng. Năm 1955, tập kết ra Bắc, Lê Đức Thọ lại được bổ sung vào Bộ Chính trị, kiêm nhiệm vai trò Trưởng Ban Tổ chức TƯ. Phóng viên Trần Đĩnh chỉ được tiến cử khi ông Thọ cần người viết hồi ký của Nguyễn Đức Thuận nhằm kích thích tinh thần trung thành với Đảng và quyết tử vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Cuốn “Bất khuất” gây được tác dụng chính trị lớn, tất nhiên tác giả được lọt vào mắt xanh của nhà lãnh đạo. Tuy nhiên trong tình hình chính trị quốc tế và trong nước phức tạp xảy ra lúc đó, anh phóng viên Trần Đĩnh trẻ người non dạ đã lộ ra tính tự cao háo thắng để vị TBT kiêm nhiệm công tác văn hóa tư tưởng dày dạn kinh nghiệm đưa ra nhận xét nghiêm khắc như trên?! Tất nhiên là ông Lê Đức Thọ không ngớ ngẩn để tin và dùng Trần Đĩnh.

Nhiều bạn trẻ hôm nay bị nghe nhiều điều đơm đặt chứ thực ra cái gọi là “nhóm chống đảng” cho đến nay mới chỉ là những thông tin lọt kẽ, kín hở một chiều, chưa biết độ chính xác. Đơn giản vì nó chưa được bạch hóa nên cần phải tỉnh táo tìm hiểu và lắng nghe trên cơ sở thực tế lịch sử lúc bấy giờ. Sau khi Staline chết, năm 1956, đại hội XX ĐCSLX do Khơrutsốp thao túng đã triệt để phanh phui cái gọi là tội ác của Staline và trương lên khẩu hiệu “chống sùng bái cá nhân lãnh tụ”. Năm 1960, hội nghị 81 đảng cộng sản và công nhân quốc tế ra “Tuyên bố Mascơva”, dấy lên cuộc đấu tranh rầm rộ chống “CN xét lại hiện đại”“CN giáo điều”. Chủ nghĩa Marx không phải là cẩm nang màu nhiệm cho sự phát triển toàn diện của mỗi quốc gia dân tộc. Chiến tranh sẽ không là định mệnh. Hai phe TB và XHCN có thể cùng nhau “chung sống hòa bình”. Đó là khởi đầu sự phân hóa của phong trào CSQT, cũng như của nhiều ĐCS trên toàn thế giới. Cuối cùng chủ nghĩa nọ chống chủ nghĩa kia đã như trò hề bởi nó biến thành cuộc tranh giành quyền bính khốc liệt! Khẩu hiệu “Chống sùng bái cá nhân” đã bị lạm dụng để giải quyết các ân oán hoặc toan tính mưu đồ thoán nghịch!

Giữa lúc ấy ĐCSVN trên cơ sở nghị quyết XV/ĐHII phát triển thành nghị quyết IX/ĐHIII, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước bằng hình thức bạo lực cách mạng. Cụ Hồ tỏ ý không đồng tình về thái độ cực đoan chống Liên Xô chớ về vấn đề vũ trang CMMN thì khi nghị quyết XV còn đang được bàn bạc đắn đo trong nội bộ, Cụ đã tế nhị nói ra quan điểm của mình: “Bất kỳ tình hình như thế nào cũng không được để địch tàn sát dân, tiêu diệt cơ sở cách mạng. Bác phê bình đảng bộ miền Nam thiếu sáng tạo, chỉ biết phục tùng cấp trên” (Hồi ký Phạm Văn Xô và Phan Văn Đáng). Vì thế hội nghị TƯ mới có sự nhất trí cao. Vào thời điểm song song tồn tại hai quan điểm đối kháng “diễn biến hòa bình” và “trường kỳ mai phục” mà những nhà lãnh đạo CMVN quyết tâm đồng thuận đề ra chủ trương ấy thật hết sức táo bạo mà đúng lúc. Thực tế chứng minh đó không phải là một hành động phiêu lưu. Không phải ngẫu nhiên vào nửa đầu thập kỷ 1960, nhiều cán bộ trung cao cấp quân sự, chính trị qua học ở Liên Xô đồng loạt không về nước. Cùng lúc ở trong nước những người theo quan điểm “không dùng bạo lực” công khai bộc lộ ý đó ra. Đồng thời Khơrútsốp gây đòn tâm lý bằng cách tạo nên những mối quan hệ cá nhân với người này người nọ khiến nội bộ lãnh đạo nghi kỵ đề phòng lẫn nhau. Trong khi đó, ở miền Nam, Mỹ quyết định mở rộng cuộc “chiến tranh can thiệp” thành “chiến tranh cục bộ”, thẳng tay gạt bỏ mọi lực cản, thảm sát chế độ gia đình trị họ Ngô, dùng đám quân sự võ biền bất cần quyền lợi quốc gia dân tộc, mở rộng vòng tay đón cả triệu quân Mỹ và quân các nước đồng minh lệ thuộc. Việc tài liệu tối mật về nghị quyết IX lọt vào một sứ quán nước ngoài được nghi rằng liên quan tới những người có mối giao du thân thiết với công dân nước đó. Tất nhiên, trong chiến tranh có thống nhất ý chí mới tạo nên sức mạnh tổng hợp thì khái niệm về tự do dân chủ thật là khắc nghiệt! Hàng loạt cán bộ các cấp bị vô hiệu hóa hoặc bị bắt tù đày, chủ yếu là những người hoạt động trong giới quân sự, ngoại giao, văn hóa. Sự kiện này hoàn toàn khác vụ Nhân văn-Giai phẩm xảy ra cả chục năm trước đó với đối tượng chủ yếu là giới văn nhân nghệ sỹ mà lúc đó Trần Đĩnh còn đang học làm báo bên Trung Quốc. Mãi sau chiến thắng 1975, số người này lần lượt được trở về với đời thường. Một số vị lão thành được phục hồi đảng tịch và nhận được sự hỗ trợ phần nào về tổn thất tinh thần và vật chất. Tất nhiên là không thể thỏa lòng giữa công và tội cùng với nỗi mất mát oan khiên của từng người. Điều cần phân biệt rõ ràng là bản chất vụ kỷ luật gọi là “xử lý nội bộ” này hoàn toàn khác hẳn cuộc thanh trừng lẫn nhau để tranh giành quyền bính như cuộc CMVH xảy ra cùng thời ở nước láng giềng. Không thể phủ nhận rằng quá trình thực hiện Nghị quyết IX, hàng ngũ lãnh đạo tối cao từng lúc, từng việc tuy có nhận thức khác nhau nhưng điều hòa được bởi họ là những nhà yêu nước lớn, từng trải, luôn coi lợi ích quốc gia dân tộc là điều tối thượng, lại có sự hóa giải khéo léo và ảnh hưởng rất lớn của Cụ Hồ, đã biết kiềm chế nhân nhượng, vô tư cống hiến để đi đến thắng lợi vĩ đại 30 tháng Tư lịch sử. Xét về thân phận những người bị nạn đó là nỗi hận không ai có thể thấu hiểu để được sẻ chia. Nhưng nhìn ở góc độ trách nhiệm trước đại sự quốc gia của giới điều hành, lịch sử có thể khoan dung.

Sự phân cấp quản lý cán bộ trong Đảng vốn rất chặt chẽ. Những nhân vật trong nhóm gọi là xét lại chống Đảng, thực ra chỉ là không đồng quan điểm như Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Vịnh, Đặng Kim Giang, Lê Liêm, Hoàng Minh Chính, Vũ Đình Huỳnh đều thuộc Ban Bí Thư và Bộ chính trị quản lý. Tất nhiên Trưởng Ban TCTƯ phải trực tiếp làm việc và phải được sự nhất trí với lãnh đạo tối cao. Còn cỡ như Trần Đĩnh thì do A25 Bộ Công an quản lý, có thể phối hợp với Vụ cán bộ của Ban TCTƯ. Ông Lê Đức Thọ là một cán bộ tổ chức tối cao của Đảng, có tài khuynh đảo, ngay cả chính khách tầm cỡ quốc tế cũng không lay chuyển được. Trần Đĩnh chưa là gì để ông Lê Đức Thọ phải mất thì giờ săn đón con ngựa non ngỗ ngược này bằng cách đưa ra mấy lời trách cứ vẩn vơ: “Sao chúng nó lại bắt cậu đi cải tạo? Làm như thế chỉ tổ gây bất mãn!” và dọa “sẽ cho bắt thằng Lưu Động”! Để gài bẫy Trần Đĩnh chăng? Trong khi một cái gật hay lắc của ông mọi sự đều thay đổi. Thực tế là những người được ông Lê Đức Thọ chọn mặt giao việc đều hoàn thành nhiệm vụ trước ông. Nếu như ông đặt Trần Đĩnh vào hàng “trí thức điển hình” nghĩa là ông đã sớm nhìn ra đây là một trí thức “điển hình phản bội”!

Bốn là:
Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, vào TPHCM, Trần Đĩnh giả giọng nhân nghĩa huyênh hoang giữa những người thân rằng: “Nếu có quyền thì làm hai điều: Thứ nhất là mời LHQ đến, dựng một lễ đài nổi ở mạn biển Vũng Tàu, đem ba cái LCT chở xe tăng, đại bác, súng ống của cả Liên Xô, Trung Quốc và Mỹ long trọng làm lễ vĩnh biệt vũ khí, quăng tất cả xuống nước, xin LHQ giúp cho chúng tôi từ nay làm ăn xây dựng! Thứ hai là xin cả nước để ba ngày róng chuông nhà thờ, chuông chùa làm lễ cầu siêu thoát cho tất cả vong linh đã chết trong cuộc chiến tranh này, rồi cùng nhau tu sửa mọi nghĩa trang”. Ông Trần Đĩnh có giả đui điếc không? Vào thời điểm đó ông chưa thể lú, lại là người làm báo có tay nghề bài bản, hẳn không thể không biết ngay sau khi ký hiệp định Paris ai đã lôi kéo lũ phản bội Khmer đỏ quay giáo đâm sau lưng QGPVN đồng thời đưa quân tràn qua hàng ngàn kilômét đường biên giới, cướp phá nhà cửa hoa màu, giết hại hàng ngàn vạn đồng bào ta, mở rộng cuộc chiến tranh bản chất là “khủng bố” của những kẻ phản bội ở cả hai đầu đất nước? Cùng lúc lũ phỉ FULRO ở Tây Nguyên trỗi dậy kết hợp với đám tàn quân thất trận nuôi chí phục thù “chuyển lửa về quê hương”? Tất cả đều có sự tiếp tay độc ác của người Mỹ! Song hành với chính sách kích động nhân tâm và cấm vận nghiệt ngã cũng do người Mỹ chủ xướng kéo dài hàng chục năm càng làm cho dân tình khốn đốn, có lúc tưởng như là bế tắc? Chỉ có kẻ mất trí mới quẳng vũ khí đi, hai tay chắp ngực ngồi yên cho lũ phản bội tay sai “cáp duồn”!

Việc hòa hợp hòa giải dân tộc thực chất cũng là mục tiêu của sự nghiệp giải phóng nên đã không hề có “cuộc tắm máu” như các thế lực xấu luôn tuyên truyền hù dọa và thực lòng mong muốn, càng chứng tỏ bản chất chính nghĩa và nhân đạo của cuộc chiến tranh giải phóng do ĐCSVN lãnh đạo. Còn như việc có những trại cải tạo tập trung là điều từng thấy trong bối cảnh chiến tranh, đặc biệt lúc xã hội rối ren phức tạp sau một cuộc chiến khốc liệt kéo dài. Hãy nhìn qua bên kia biên giới tây-nam cùng thời điểm ấy và hãy xem lại tư liệu sau Thế chiến thứ Hai, sự đối đầu dù chỉ một thời gian ngắn mà sự trừng phạt của những người chiến thắng với lũ tay sai phản quốc khốc liệt tới mức độ nào? Một cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài 30 năm không dễ một lúc xóa nhòa những gì là chân-giả, thiện-ác. Thời gian càng lùi xa, ranh giới phân ly xã hội ngày càng sáp lại gần nhau, mối giao lưu giữa cộng đồng dân tộc ngày càng thân thiết, đã có không ít những cuộc hôn nhân quốc-cộng kết sui gia rất là hạnh phúc. Tuy nhiên điều chính-tà vẫn là cần trong nền tảng giáo dục truyền thống Việt Nam. Khi ai đó đọc lên câu thơ hào sảng: “Người lính già đầu bạc/ Ngồi kể chuyện nguyên phong” đều nghĩ đây là người lính trong đội quân “Sát Thát” của Hưng Đạo Đại vương ngày nào, bởi trong tâm thức người Đại Việt, đám tàn quân Trần Di Ái, Trần Ích Tắc… đã tự chôn vùi trong lớp bụi thời gian.

Không lạ gì những kẻ phá quấy cứ ra sức thổi phồng mãi lên những hiện tượng phức tạp thời hậu chiến gọi là “cuộc khủng bố đỏ”. Đáng khinh là những kẻ “ăn theo”! Đành rằng giới hữu trách có những sai lầm không nhỏ trong việc quản lý kinh tế, tổ chức xã hội… càng làm những khó khăn thêm chồng chất. Nước Mỹ thời sau nội chiến từng lâm vào cảnh: “Toàn bộ cuộc sống chỉ là làm thế nào để khỏi chết”! Và từ lời gợi ý của một nhà lãnh đạo cấp cao: “Mỗi người hãy tự cứu lấy mình!” ta có thể suy ra bối cảnh xã hội Việt Nam lúc đó ra sao? Trong tình cảnh ấy, những người tù sống qua được trong những trại cải tạo cũng như những người vì sự mưu sinh đã vượt trên đôi cánh tử thần giữa trùng dương sóng nước thật là điều rất may cho họ và hôm nay cả xã hội cùng chia vui với họ! Đấy là nỗi đau, là trang sử buồn có điều tránh được và cũng có điều khó tránh. May thay lịch sử chỉ diễn ra có một lần!

Ai đó nói rằng sau 30 tháng Tư, hàng triệu người sung sướng thì cũng có hàng triệu người đau khổ là quay lưng lại với những người từng che chở cưu mang họ khi còn trứng nước. Hòa bình đến với mọi nhà. Ngoài những “ông quan mới”, nhân dân cả nước vẫn trong cảnh khốn khó trăm bề bởi đủ thứ di họa của chiến tranh, đặc biệt là nhân dân vùng căn cứ kháng chiến và những người từng hết lòng khi đất nước gian lao. Một Đại tá nguyên là sỹ quan an ninh quân đội Sài Gòn, sau 12 năm cải tạo được trở về kể chuyện như sau: “Ngày ra trại cùng lúc được trả quyền công dân nghĩa là hai bên bình đẳng. Chúng tôi tới chào ban quản giáo. Thực ra ở lâu thì cũng có chút tình, thay mặt anh em tôi tỏ lời cảm ơn và nói thật rằng: Dù sao anh em chúng tôi so với trước đây thì quá khổ là lẽ tất nhiên rồi nhưng so với các anh thì chưa chắc ai khổ hơn ai! Anh trưởng trại đáp nửa chơi nửa thật rằng: Rất mong cấp trên sớm giải quyết xong chuyện này cho chúng tôi được thoát “nợ”! Các anh tù trong còn chúng tôi tù ngoài mà lại còn phải lo bao nhiêu là trách nhiệm”.

Năm là:
Ông Trần Đĩnh kể rằng tại Đại hội IV của ĐCSVN, nhà thơ Chế Lan Viên hơi buồn vì không trúng vào BCHTƯ của Đảng mặc dù Tố Hữu cố đôn lên nhưng do một đại biểu Bình Định phát hiện Chế thi nhân thời trai trẻ từng đi ủng Nhật, thắt khăn trắng mặt trời to quanh cổ, ủng hộ Đại Việt và Trần Đĩnh đế vào: “Nói cho công bằng thì đâu đã bằng Phạm Ngọc Thạch được Nhật cấp hàng nghìn cây súng cho Thanh niên Tiền Phong”! Chuyện Chế Lan Viên thực hư thế nào người viết hoàn toàn không biết, chỉ xin giới thiệu với quý bạn đọc một đoạn trích trong Hồi ký Trần Văn Giàu 1940-1945 như sau: “Tụi Nhật ở Nam kỳ không biết Phạm Ngọc Thạch là đảng viên cộng sản, nên Minoda và Ida đã đề nghị ông đứng ra tổ chức Thanh niên Tiền phong. Sau lưng ông bác sỹ tây học, vợ đầm này là một xứ ủy đang tìm kiếm một hình thức tổ chức và hoạt động của thanh niên không đi theo phương hướng chính trị Đại Đông Á mà theo phương hướng chính trị yêu nước và độc lập dân tộc. Nếu không được Hà Huy Giáp và Trần Văn Giàu ủng hộ thì một đồng chí có tài ba nhân cách như Phạm Ngọc Thạch chẳng chịu đứng ra làm việc ấy đâu”. Thực tế là tổ chức TNTP đã có vai trò tích cực trong việc xây dựng lực lượng vũ trang Nam bộ những ngày đầu kháng chiến. Chuyện xảy ra năm 1945 ở Sài Gòn thời Nhật đảo chính Pháp, lúc đó thằng bé Trần Đĩnh mới 15 tuổi đang ở Hà Nội, dù có hăm hở chạy theo lớp cha anh đi cướp chính quyền nhưng đã biết gì đâu mà xưng xưng mọc mọc ghi vào cái gọi là tự truyện! Dẫn tư liệu để bạn đọc thấy có thể tin một người nhân danh đứng trong đội ngũ nhà báo cách mạng lâu năm mà gặp đâu nói đấy tùy theo cái lòng dạ u ám của mình với tổ quốc nhân dân và cả với những bạn bè lớn bé từng qua lại với mình?

Sáu là:
Trần Đĩnh kể một lần đi sơ tán qua bến phà Trung Hà, Phú Quang níu tay ông và nói: “Em quý các anh xét lại”! Phú Quang biết chúng tôi phản đối chiến tranh mà đồng tình làm tôi cảm động lắm vì lúc ấy có người dám nói rõ ra như thế là rất hiếm. Chuyện có đúng vậy hay không thì chưa biết. Nhưng ngay với anh em chiến sỹ ta đang từng ngày đối mặt với quân giặc tàn bạo bằng những loại vũ khí hủy diệt kinh người, có những lúc nằm trong hầm sâu cũng ghé tai nhau thì thầm: Chỉ cần lũ ác quỷ cút đi để có được độc lập thống nhất hòa bình thì dù ăn rau ăn cháo khổ sao cũng đặng! Huống chi lúc đó Phú Quang chưa là gì, chỉ là một chú thiếu niên trường nhạc vui vẻ trẻ trung, chưa thể hiểu sâu về bản chất của chủ nghĩa xét lại trên bình diện thế giới khác ở Việt Nam thế nào và nó chính là mối cản trở cho khát vọng hòa bình độc lập tự do của nhân dân ta. Bằng chứng là mới đây trong chương trình âm nhạc truyền thống “Giai điệu tự hào”, ở cương vị người bình luận có uy tín và ảnh hưởng lớn, vị nhạc sỹ hàng đầu của nền âm nhạc Việt Nam đương đại Phú Quang, dù đã luống tuổi nhưng nghẹn ngào không kìm nén nổi cảm xúc khi phát biểu cảm nghĩ về bài hát “Dậy mà đi” tiêu biểu của phong trào học sinh sinh viên miền Nam trong thời kỳ đấu tranh kiên cường trực diện với quân cướp nước và bè lũ tay sai bán nước giữa các đô thị miền Nam ngột ngạt. Tinh thần bất khuất chống ngoại xâm là truyền thống quý báu cứ âm ỷ chảy trong lòng thế hệ này sang thế hệ khác. Dù người sáng tác ra nó là cựu sinh viên Nguyễn Tấn Lập nay đang định cư ở Mỹ hay một nhạc sỹ nổi tiếng bậc thầy Phú Quang không hề nhớ rằng nếu như ngày ấy cứ làm theo những người “xét lại” mà sợ giặc, không dám cầm súng chống Mỹ cứu nước thì bài hát ấy chẳng có giá trị gì để sống mãi trong lòng các lớp thanh niên và liệu nhạc sỹ Phú Quang có được một chỗ đứng đáng trân trọng trong lòng công chúng hôm nay? Người quân tử trọng sự trung-tín. Kẻ tiểu nhân đánh lộn sòng trái-phải.

Bảy là:
Đọc hàng trăm trang cuối sẽ nhận ra những lời làm thàm ba xạo vong ân bội nghĩa đấy ác ý với những nhà lãnh đạo có công đầu cho đất nước hôm nay, người ta không khỏi liên tưởng tới lời nhận xét: Văn nhân vô hạnh! Trên dưới chẳng trọng ai. Đặt điều tùy tiện. Đúng là một thời gian khá dài ở phía Bắc, việc tùy tiện giao tiếp với người nước ngoài là điều cấm kỵ nhưng tới mức nhà nào cũng kẻ khẩu hiệu: “Nhà tôi không giao tiếp với người nước ngoài” thì chỉ là viết cho người xa xứ xem mới dám bịp không biết ngượng như thế! Thực ra từ khi có nghị quyết IX, lúc 25 tuổi, Trần Đĩnh đã bị thất sủng, nghĩa là không còn vị trí gì trong làng báo chí. Sự nghiệp vừa mở ra thì anh ta tự đóng xập lại rồi! Tài năng lộ xuất của Trần Đĩnh không thể sánh với người đồng trang lứa như Vũ Thư Hiên, mà chỉ là ăn theo vài bài viết về mấy người nổi tiếng gan dạ trước quân thù. Làm “thi bá” thì không danh tiếng. Một nhà báo có danh ít ra cũng được một phần của Thép Mới với những bài chính luận sắc xảo để đời hoặc chí ít một nhà báo đàn em tỉnh lẻ như Phùng Gia Lộc, chỉ một bài phóng sự “Cái đêm hôm ấy hôm gì” cũng được công chúng lưu trong bộ nhớ lâu dài. Chẳng trách người đời đã mau quên chàng trai đẹp mã thuở nào! Thật đáng tiếc cái sắc vóc cha mẹ sinh ra và cái tài trời phú! Mà về mánh dùng nghề báo làm tiền lại không đáng học trò kẻ vào hàng con cháu như loại Đức “san hô”! Thế thì có điều chi đáng trọng để thiên hạ ghi vào bộ nhớ?! Thật sự Trần Đĩnh đã tỏ ra hèn nên mới không bị bắt. Khi các “đồng chí” được phóng thích, Trần Đĩnh mới bị khai trừ Đảng bởi tổ chức đã nhận ra con người này ương ngạnh không biết điều để ăn năn hối cải.

Ông Nguyễn Trung Thành là một đảng viên cộng sản lão thành đáng kính. Ông là người rất trung thành với Đảng đúng như tên của ông và rất nhân hậu với những thân phận lỡ bị sa cơ thất thế. Sai lầm lớn nhất của đời ông là cố công cưu mang cứu vớt người như Trần Đĩnh bởi bản chất tâm địa hai con người ấy hòan toàn đối nghịch với nhau. Thật sự ông đã nhận ra điều ấy.

Vĩ thanh:
Tập Đèn cù được xuất bản ở nước ngoài, nghe nói không thiếu người tung hứng. Tất nhiên đọc bài này sẽ có một số người kháo nhau: Lại thêm một kẻ văn nô! Có sợ chi mà không tuốt tuột gốc tích của mình: Người viết sinh ra và lớn lên trong một gia đình viên chức trung lưu ở Hà Nội. Thời trước CMT8, ngay như ông Phạm Quỳnh cũng than thở: “Tôi sinh ra thì nước đã mất rồi!”. Cha tôi tham gia “Hội viên chức cứu quốc”. Dù chỉ là “ông phán” thân còm lẻo khẻo nhưng cũng theo người ta đi cướp chính quyền. Khi Hà Nội nổ súng kháng chiến, ông dắt vợ con tản cư về các vùng quê, gõ đầu trẻ không công. Cứ thế, giặc đánh nống tới đâu lại theo bà con lùi sâu… mãi lên rừng. Bốn năm năm không thể sống tạm bợ mãi dưới những cái quán tre lá nứa với ấm nước chè xanh, chõ xôi, nồi chè, lọ kẹo, mẹt bánh… mà tương lai thì mù mịt trong khi các con lớn dần lên mà thất học. Cha tôi lại dắt vợ con “dinh tê” (entré) về thành mà lòng cứ lưu luyến một việc làm dang dở.

Khi quân Pháp thua bỏ chạy vào Nam, cha tôi ở lại với chính phủ Cụ Hồ, cũng là thể hiện lòng thành với nước. Sau ngày đất nước thống nhất, tình cờ đọc dòng tâm sự của nhà văn yêu nước lão thành Thiếu Sơn: “Bọn xâm lăng không nhằm cá nhân tôi mà xúc phạm. Chúng đã xúc phạm tới cả một dân tộc! Tôi thấy tôi không thể tách rời khỏi dân tộc mà có được sự kính nể của ngoại bang”, tôi mới hiểu ra vì sao lớp người như cha tôi cứ lẽo đẽo theo kháng chiến dù chẳng mấy ai hiểu cộng sản là gì ngoài một sự thật họ là người yêu nước.

Hai năm đầu được lĩnh nguyên lương, gấp hàng chục lần lương cán bộ kháng chiến trở về. Anh em tôi còn nhỏ vui vẻ nhởn nhơ, vào đội thiếu nhi tung tẩy hát sol, đố, mì… Khi chính quyền miền Nam tuyên bố không có trách nhiệm với Hiệp định Genève nữa, chính phủ Cụ Hồ để những người như cha tôi được tiếp tục làm việc gọi là “viên chức lưu dung” và lương được xếp tùy theo ý kiến của chi bộ mỗi nơi một khác. Nói chung là được coi vào hàng tạm tuyển, phần lớn được xếp lương khởi sự. Cái sự khó thì tuổi trẻ vô tư ăn chưa no lo chưa tới, chưa biết chia sẻ cùng cha mẹ. Nhưng nỗi “khổ tâm” thì ngấm ngầm thấm dần vào gan ruột. Cha con dần cảm nhận ra cái thân phận của kẻ “hàng thần” cứ như cục đá đeo vào cổ cha, cột vào chân con bằng những sự kỳ thị của xã hội và đố kỵ của người đời, tuy không phải là tất cả. Được đứng vào đội quân “vượt Trường sơn đi cứu nước” không là điều thuận buồm xuôi gió với tuổi trẻ của tôi. Và tôi đã được sống để vượt qua mọi thử thách gian lao cũng bởi phúc nhà còn lớn.

Hòa bình tưởng được yên thân mà còn long đong lận đận trấn thủ lưu đồn ải Bắc biên Nam, chẳng đỡ gì được lúc cha ràu mẹ héo! Khi trút được chiếc “áo phong sương” may còn đủ sức sinh ba đứa con đủ nếp tẻ vuông tròn hiếu thảo! “Gặp thời thế thế thời phải thế”, đến nay tôi có 55 tuổi Đảng – chỉ coi như là sự động viên tinh thần với lớp người thời đó. Sinh thời cha tôi thường nhắc lời dạy của người xưa: “Nước loạn mới biết tôi trung. Nhà nghèo mới biết con có hiếu”. Tôi nghiệm ra là “tôi trung, con hiếu đều rất khổ”. Tuy nhiên nó như là cái nghiệp của mỗi người. Con người ta không thể quyết định vận mệnh của mình nhưng có thể quyết định cách sống của mình.

Nay tôi đã vào tuổi “cổ lai hy” và cảm thấy tạm thỏa lòng vì được sống trong một đất nước độc lập, thống nhất, yên ổn và người dân đang từng bước có chủ quyền. Chỉ thương cha nửa đầu đời thì tủi phận dân mất nước, nửa cuối đời thì âm thầm chịu đựng khắc nghiệt của sự mưu sinh mà không biết than thở cùng ai. Nhớ mãi lời cha dặn: “Thời buổi nhiễu nhương sống tử tế đừng là kẻ ngu trung cũng đừng là kẻ phản thần là rất khó”! Tôi tự an ủi mình nhờ thế mà tôi thành người lương thiện. Hạnh phúc khởi đầu bằng sự ấm no thì tôi đã có. Còn dân chủ tự do đó là khái niệm đời nọ tiếp đời kia thắp đuốc đi tìm.

Tôi rất cảm phục ông Trần Chung Ngọc (1931-1914), từng khoác áo Trung tá QĐSG, Tiến sỹ Vật Lý, giảng viên ĐH Sài Gòn, cuối đời làm việc ở phòng nghiên cứu ĐHWisconsin-Madison (Mỹ), giữa nỗi cô đơn đã tự mình tìm ra chân lý lịch sử, phân biệt rõ chân-giả chính-tà, vượt qua định kiến xã hội và tự ái cá nhân, dám nói ra sự thật: “Nam Việt Nam là chế độ do Mỹ dựng nên, đánh thuê cho Mỹ, làm gì có “nước” để mà “mất”, để mà “hận”. Ngày 30/4 đã đập tan chế độ tay sai ấy, thống nhất đất nước và nay đất nước đang tiến lên trong hòa bình xây dựng ổn định, sao cứ khơi ra những hận thù?! Tôi là người thua cuộc nhưng nói tới Việt Nam thắng Pháp ở Điện Biên Phủ, thắng Mỹ ở miền Nam, tôi cũng thấy tự hào”. Đấy là người trí thức chân chính hay nói như Khổng Tử: là người quân tử chính danh. Tôi nghĩ những người như Bùi Tín, Trần Đĩnh, Quang A, Chu Hảo, Tương Lai hãy nhìn tấm gương đó mà noi.

Tôi thành tâm nghĩ rằng lớp người CSVN tiền bối đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh lịch sử trước tổ quốc và nhân dân, dù có những khiếm khuyết không nhỏ làm giảm ý nghĩa giá trị nhân văn của những việc họ làm nhưng không vì thế mà ân hận bởi cả đời tôi từng đi theo họ. Tương lai là của các lớp người kế nghiệp. Nếu để sự nghiệp của tiền nhân đổ vỡ họ sẽ mang tội muôn đời và tất nhiên lịch sử sẽ đào thải họ.
Nguyễn Văn Thịnh
(tác giả gửi trực tiếp bài viết cho Đôi Mắt)

Chi tiết: http://www.doi-mat.vn/2014/11/cai-den-cu-tran-dinh.html#ixzz3KARFQPxE
Doi-Mat.vn
Follow us: doimat.cuanhcuem.net on Facebook

Theo: doi-mat.vn

Categories: Nhân dân Việt Nam | Nhãn: | %(count) bình luận

Việt Nam: quốc gia hạnh phúc nhì thế giới, Mỹ xếp 105

Daily Mail đưa tin trong bảng danh sách các quốc gia hạnh phúc nhất trên thế giới (dựa theo chỉ số HPI), Việt Nam xếp thứ 2 trong khi Mỹ xếp 105. Đây là bảng xếp hạng do tổ chức nghiên cứu xã hội New Economic Foundation có trụ sở tại Anh công bố.

Người Việt Nam luôn lạc quanNgười Việt Nam luôn lạc quan

Chỉ số HPI không dựa trên sự giàu có mà dựa theo mứctuổi thọ của người dân, độ hài lòng của người dân và chỉ số môi trường. Theo chỉ số này, Costa Rica là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới 2014 tiếp theo là Việt Nam.

Trong top 10 các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới, duy nhất Việt Nam là nước ngoài khu vực Mỹ Latin. Các nước trong top 10 còn lại là Colombia, Belize, El Salvador, Jamaica, Panama, Nicaragua, Venezuela và Guatemala.

 Top 10 quốc gia hạnh phúc

Một số thứ hạng quan trọng

Một điều kỳ lạ là các nước phương Tây có chỉ số HPI rất thấp, tức là người dân cảm thấy không hạnh phúc lắm với điều kiện sống. Theo chỉ số này, Anh xếp 41, Pháp xếp 50, Tây Ban Nha xếp 62, Canada xếp 65, Úc xếp 76 và Mỹ xếp tận 105.

Năm 2006, Việt Nam xếp hạng thứ 12 nhưng đến 2009 đã nhảy lên top 5. Năm 2012, Việt Nam xếp thứ 2 và tiếp tục duy trì vị thế này cho đến nay.

(Theo Daily Mail)

Nguồn: viethaingoai.net

Categories: Nhân dân Việt Nam | Nhãn: | %(count) bình luận

Những người không có tư cách nói về “tự do báo chí” ở Việt Nam

Tác Giả: AMARI TXBài đăng trên báo Quân Đội Nhân Dân
QĐND – Thứ hai, 28/04/2014 | 22:39 GMT+7
http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/chong-dien-bien-hoa-binh/nhung-nguoi-khong-co-tu-cach-noi-ve-tu-do-bao-chi-o-viet-nam/299278.html

Nhân sự kiện một số nhà hoạt động gọi là “tự do và nhân quyền” của Việt Nam tới Hoa Kỳ, theo lời mời của các dân biểu Hoa Kỳ và một số tổ chức cổ xúy cho cái gọi là “tự do thông tin”, Tổng biên tập trang mạng Viethaingoai.net tại Mỹ, ông John Lee, bút danh Amari tx, từ Houston đã dành riêng cho Báo Quân đội nhân dân bài viết, trong đó cho rằng, những nhà hoạt động này không có tư cách để nói về tự do báo chí ở Việt Nam… Báo Quân đội nhân dân xin được trích đăng.

Tưởng việc này chẳng ai quan tâm bởi mấy nhà hoạt động kiểu này sang Hoa Kỳ để làm mấy cái chuyện gây bất lợi cho Việt Nam đâu phải lần đầu tiên. Chuyến đi dù được tổ chức nhân Ngày Tự do báo chí thế giới (3-5) cho có vẻ khách quan nhưng cũng chẳng che giấu được ý đồ bôi nhọ, xuyên tạc Việt Nam của cả người mời lẫn người được mời. Vì đứng ra tổ chức và đài thọ cho các khách mời từ Việt Nam này không ai khác lại là một số cơ quan, tổ chức khét tiếng chống phá Việt Nam như Đài Châu Á tự do, Tổ chức Phóng viên không biên giới hay Đảng Việt Tân… Còn các “nhà hoạt động” có tên Nguyễn Thị Kim Chi, Ngô Nhật Đăng, Nguyễn Đình Hà, Tô Oanh và Lê Thanh Tùng chỉ là những cây viết tự do, không tên tuổi, chưa nói tới vấn đề tư cách hay đạo đức nghề nghiệp vì đã lợi dụng facebook hay blog để tuyên truyền những nội dung đi ngược lại lợi ích của chính quê hương mình.

Để xem họ làm gì ở Hoa Kỳ? Nghe đâu các khách mời này được tham gia một loạt sinh hoạt như điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ, thảo luận về những thử thách của việc khởi động một nền báo chí độc lập tại Việt Nam. Bên cạnh đó, các “nhà” này còn được mời tiếp xúc với Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, LHQ, một số dân biểu Mỹ, các tổ chức nhân quyền, công ty tin học, tham gia khóa huấn luyện về truyền thông và an ninh mạng. Tiếp xúc với một loạt cơ quan, tổ chức quan trọng bàn về một vấn đề quan trọng như thế, với bảng “thành tích đen” chống phá Việt Nam cùng trình độ có hạn như vậy, chẳng hiểu các vị khách mời đó lấy tư cách gì mà “đòi” tự do cho nền báo chí Việt Nam – nơi có nền báo chí được đánh giá là đang phát triển nhanh chóng?

Ở đây, cần làm rõ thực chất cái gọi là “tự do báo chí” của phương Tây và thực trạng hoạt động báo chí của Việt Nam hiện nay. Đối với báo chí phương Tây, tuy không can thiệp vào hoạt động báo chí, nhưng luật pháp của các quốc gia đều có những quy định nhằm ngăn chặn sự lạm quyền của báo chí. Chẳng hạn, các chính phủ đều phân biệt những thông tin nào được phép phổ biến cho công chúng và những thông tin nào thuộc loại phổ biến hạn chế hay tuyệt mật, không thể tiết lộ với mục đích bảo vệ lợi ích quốc gia. Hơn nữa, hầu hết các tổ chức làm báo của phương Tây đều tự đưa ra những quy định của tổ chức mình và yêu cầu những người thuộc tổ chức phải tuân thủ, chẳng hạn những tiêu chuẩn của việc hành nghề, hay còn gọi là hệ thống đạo đức báo chí. Mặt khác, các quốc gia Tây Âu và Bắc Mỹ cũng ban hành nhiều luật lệ nhằm ngăn ngừa sự vi phạm của người làm báo trong lúc hành nghề.

Bất chấp tự do tư tưởng, báo chí phương Tây đã bị các chính phủ phương Tây biến thành công cụ để bành trướng, áp đặt quan điểm phương Tây trên quy mô toàn cầu. Nhiều triệu đô-la đã và đang được đổ ra để phát triển một hệ thống báo chí hùng hậu nhằm quấy nhiễu tư tưởng ở tất cả các nước không cùng quan điểm. Diễn biến thế giới gần đây đã phản ánh khá sinh động điều ấy. Bằng cái gọi là “tự do báo chí”, một số cơ quan báo chí phương Tây đã thổi phồng lên các chiêu bài “chống khủng bố”, “săn lùng vũ khí hủy diệt”, kiếm cớ “hợp pháp” để can thiệp quân sự một cách thô bạo vào những quốc gia có chủ quyền, ở nơi mệnh danh là mỏ “vàng đen” của thế giới.

Hẳn mọi người chưa thể quên báo chí phương Tây đã nhất loạt thổi phồng và làm rùm beng cái gọi là “nguy cơ I-rắc sở hữu và chế tạo vũ khí giết người hàng loạt”, rồi còn đưa tin I-rắc mua plutoni của một nước châu Phi để chế tạo bom hạt nhân. Tất cả chỉ nhằm phục vụ cho mưu đồ can thiệp bằng quân sự một cách thô bạo, bất chấp luật pháp quốc tế hòng chiếm đoạt và bảo vệ các lợi ích của những thế lực đứng đằng sau điều khiển những “công cụ” tuyên truyền nguy hiểm này. Đến khi cuộc chiến tranh I-rắc nổ ra, nhiều hãng thông tấn, nhiều tờ báo đưa tin không hợp “khẩu vị” của họ thì bị cấm đưa tin, bị kiểm duyệt. Chính quyền Mỹ đã kiểm soát rất chặt chẽ các báo, đài đưa tin chiến sự, họ chỉ đồng ý cho những hãng thông tấn, báo chí nào tuân theo những “Luật” do họ đặt ra. Những nhà báo đưa tin về sự thật tàn bạo của quân đội Mỹ gây ra đối với dân thường đã bị đe dọa.

Như vậy thì làm gì có cái gọi là “tự do báo chí” nằm ngoài sự kiểm soát của chính phủ như một số nước phương Tây vẫn tuyên bố và thúc đẩy. Đó thực chất chỉ là sử dụng báo chí để bảo vệ quyền lợi và sự thống trị của họ. Đó chính là thứ tự do giả dối, lừa gạt dư luận, thủ tiêu vai trò của báo chí chứ đâu phải vì tự do báo chí.
Đối với hoạt động báo chí ở Việt Nam, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định rõ quyền tự do báo chí. Mọi hoạt động báo chí đều phải phục vụ sự tiến bộ, công bằng xã hội, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Luật Báo chí chỉ cấm các hoạt động báo chí đi ngược lại lợi ích tối cao của đất nước là độc lập, tự do của dân tộc, thành quả kết tinh sự hy sinh của biết bao thế hệ người Việt Nam mới giành được. Luật Báo chí cấm các hành động tuyên truyền chống lại con người. Luật Báo chí Việt Nam khẳng định, báo chí không chỉ là cơ quan của Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị và tổ chức xã hội, nghề nghiệp,… mà còn là diễn đàn tin cậy của người dân.

Báo chí Việt Nam có quyền đề cập tất cả các vấn đề mà pháp luật không cấm. Pháp luật chỉ cấm báo chí tuyên truyền kích động bạo lực, kích dục, tuyên truyền cho chiến tranh, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc. Đây là điều cần thiết với tất cả các nước tiến bộ trên thế giới, mong muốn xây dựng một xã hội hòa bình, ổn định, vì hạnh phúc. Báo chí Việt Nam đã tích cực tham gia đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, quan liêu, phát hiện những việc làm trái với pháp luật, đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Báo chí tham gia xây dựng đời sống mới, đấu tranh với những hủ tục, những tệ nạn xã hội.

Rõ ràng, ở Việt Nam, vai trò của báo chí ngày càng được khẳng định trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, nên không thể có cái gọi là “báo chí mất tự do” ở Việt Nam. Càng không thể coi sự quản lý báo chí bằng pháp luật ở Việt Nam là cản trở quyền tự do báo chí của người dân cũng như những hoạt động báo chí của các nhà báo. Đó chỉ là luận điệu của các vị chuyên hành nghề “vu khống” dựa trên một mớ những cái gọi là “bằng chứng” của một số người có tư tưởng xuất phát từ mưu đồ cá nhân, mưu toan quyền lực, với não trạng luôn đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích dân tộc. Âu cũng là vì họ mong nhận được hậu thuẫn của các thế lực từ bên ngoài về tinh thần lẫn vật chất.

Ở Việt Nam có một số người cơ hội chính trị đã kết bè với nhau và liên kết với các tổ chức chống cộng cực đoan, các tổ chức thù địch với Việt Nam để phá hoại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Họ viết báo, hồi ký phát tán ra ngoài với những lời lẽ hằn học, bêu riếu, vu cáo, nhổ toẹt vào những hy sinh vô cùng to lớn của các thế hệ đi trước, trong đó có cả những người thân của họ trong các cuộc chiến tranh vệ quốc. Họ rên rỉ rằng, ở đất nước này không có “tự do báo chí”, rằng thì phải “viết báo trong vòng kìm kẹp của luật”… Nên dù có khoác lên người chiếc “áo” mỹ miều “tự do báo chí” thì cũng không che giấu được bản chất đen tối, xấu xa thật sự bên trong.

Theo: AMARI TX (Houston)

Categories: Nhân dân Việt Nam | Nhãn: , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?