Posts Tagged With: Việt hải ngoại

Bàn về xu hướng – xét lại lịch sử, viết lại lịch sử

Gần đây, ý kiến “xét lại lịch sử”, “viết lại lịch sử” được nêu lên dưới một số hình thức với một số biến tướng khác nhau, nhưng qua biểu hiện của chúng có thể sơ bộ quy loại trong ba nhóm: “a. Viết lại lịch sử vì cho rằng thiếu chân thực (về tư liệu)…

Nhận thức là quá trình tiệm cận chân lý. Về lịch sử, khi thế hệ sau có tư liệu toàn diện, chân xác hơn, thì nhận thức về lịch sử có bước phát triển mới. Ðó là yêu cầu của xã hội, của khoa học, là việc bình thường đáng trân trọng của các nhà sử học chân chính. Nhưng lại có người lợi dụng điều này, lớn tiếng đòi “xét lại lịch sử”, “viết lại lịch sử” với động cơ không minh bạch.

Gần đây, ý kiến “xét lại lịch sử”, “viết lại lịch sử” được nêu lên dưới một số hình thức với một số biến tướng khác nhau, nhưng qua biểu hiện của chúng có thể sơ bộ quy loại trong ba nhóm: “a. Viết lại lịch sử vì cho rằng thiếu chân thực (về tư liệu) và thiếu hiểu biết (về phương pháp); b. Viết lại lịch sử để tô vẽ bản thân; c. Viết lại lịch sử với mưu đồ chính trị”. Không rõ do động cơ và ý đồ không trong sáng, do thiếu hiểu biết và thiếu trách nhiệm, hay do “thói quen giật tít câu view” mà một số tờ báo, tạp chí đã góp phần làm sai lệch một số vấn đề lịch sử? Với mức độ, tốc độ lan truyền thông tin như hiện nay, với sự thiếu trách nhiệm trong kiểm chứng hoặc thẩm tra độ chính xác của thông tin, thì điều này gây tác hại rất lớn. Như có tờ báo phỏng vấn “nhà cách mạng lão thành”, nhưng “nhà” này “nhớ nhầm”, nói sai, quy công lao về phía mình. Có sách lại viết về “nhân vật lịch sử quá cố” với bao niềm thương tiếc, trong khi chính người này lại vẫn sống khỏe mạnh (!). Có báo, sách công bố sai lệch nhiều tư liệu, chữa lại cả sự kiện lịch sử đã được khẳng định – mà cái “sự mới” do họ viết ra lại không dựa trên cơ sở khoa học nào… Những ấn phẩm đó mang danh viết về lịch sử nhưng lại làm “nhiễu” kiến thức, gây mơ hồ và chính sự mơ hồ “chưa kết luận”, dẫn đến sai lệch trong tư duy, dẫn đến nghi vấn về sự thật.

Một loại “xét lại lịch sử” khác nhằm phục vụ âm mưu “hạ bệ thần tượng, giật đổ tượng đài”. Thực ra, những người muốn “xét lại lịch sử” với ý đồ đó khi lớn tiếng hô hào xét (viết) lại lịch sử chỉ mượn danh khoa học lịch sử. Không khó để nhận ra phương pháp họ sử dụng rất phi khoa học, tư liệu họ dùng để làm “bằng chứng” được ngụy tạo một cách sống sượng. Một thói quen hay gặp ở các tác giả muốn “viết lại lịch sử” là thường nhấn mạnh các chi tiết riêng lẻ mà không đặt chúng trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Như một người từng có những năm đứng trong đội ngũ chiến đấu trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, sau khi “trở cờ” lại lớn tiếng lên án chế độ mình từng bảo vệ “trong suốt cả thời gian dài mấy chục năm (dưới chính thể Việt Nam DCCH) không có ai được cấp hộ chiếu để đi du lịch nước ngoài” (!). Hẳn ông ta quên là trong bối cảnh cả nước sống với câu khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến”, thì một người Việt Nam chân chính ai lại nghĩ đến đi du lịch nước ngoài! Xa hơn nữa là cái “công trình” cho rằng “truyền thuyết trăm trứng liên quan tới Lạc Long Quân – Âu Cơ từng được ghi lại trong Lục độ tập kinh – một bộ kinh Phật; truyền thuyết về An Dương Vương chỉ là dị bản mô phỏng trận đánh giữa anh em Pandu và Duryodhana được kể lại trong Mahabharata – một sử thi Ấn Ðộ” được một tờ báo làm rùm beng, làm không ít người vì băn khoăn mà đã nghi ngờ các công trình nghiên cứu lịch sử.

Sinh thời, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp – người là một thầy giáo dạy môn lịch sử, đã nói đại ý: Người làm sử phải có trái tim nhiệt thành, đầu óc sáng suốt, ngòi bút ngay thẳng. Từ cái gọi là “công trình” họ đã công bố, có thể thấy một số người tham gia viết sử hôm nay có hai điều kiện kể trên nhưng ngòi bút của họ lại “không thẳng”. Ðiều đáng nói là các cơ quan, cán bộ có trách nhiệm tổ chức, quản lý công việc viết sử lại bỏ qua, giữ thái độ im lặng, “án binh bất động”, tuy họ thừa hiểu rằng làm như vậy là sai. Do đó, họ đã (vô tình hay hữu ý) im lặng trước một việc sai, có thể tiếp tay cho cái sai tiếp theo, đó là điều cần phê phán. Bên cạnh đó, việc một số cuốn sách, tờ báo thiếu cẩn trọng đưa thông tin sai sự thật tới công chúng, hoặc đưa thông tin không chính xác, thậm chí sai về lịch sử cũng ảnh hưởng nghiêm trọng nhận thức chung.

Lịch sử Việt Nam có những trang bi hùng. Nhiều lần đất nước bị kẻ thù xâm chiếm, tàn phá, rồi bằng nỗ lực của toàn dân mà đất nước lại hồi sinh. Bối cảnh đó làm cho nhiều giá trị văn hóa, nhiều tư liệu lịch sử bị hủy hoại, dẫn đến thực tế là không phải giai đoạn nào cũng có tư liệu lịch sử phong phú, và lịch sử giai đoạn đó được chép một cách đầy đủ, chính xác. Ðó cũng là lý do mà lịch sử cần phải nhận thức từng bước, các bộ sử cần được tu chỉnh, thậm chí viết lại. Việc làm này trước hết là phụ thuộc vào người viết sử – những người nhận trọng trách trước xã hội về sự chân thực, chính xác khi tái hiện quá khứ. Việc nghiên cứu và viết sử cần ở người viết một tầm nhìn rộng hơn ngoài chuyên môn sâu của mình để phân định điều gì của lịch sử đã được khẳng định, điều gì còn là tồn nghi, điều gì bị chi phối bởi “tâm lý xã hội”.

Ở Việt Nam, huyền sử nhiều khi lẫn với lịch sử và ngược lại – những chi tiết lịch sử được “thiêng hóa” trở nên mờ ảo lung linh, khó có thể kiểm định, xác minh bằng chứng cứ. Có những nhân vật từ huyền sử bước vào những trang lịch sử. Chuyện này đã có nhiều trong quá khứ và vẫn có cả trong thời hiện đại. Trong một số tình huống, việc đòi hỏi “bạch hóa” hoặc “thiêng hóa” một chi tiết hoặc một nhân vật lịch sử đều là thái quá, trở nên siêu hình về phương pháp, khi không đặt các chi tiết hoặc nhân vật trong cả bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn – tại nơi được sinh ra. Câu chuyện truy nguyên “lý lịch” của Kinh Dương Vương gần đây trên một tạp chí và được một số trang mạng dẫn lại là một thí dụ. Theo tác giả, dường như hình tượng huyền thoại Kinh Dương Vương có nguồn gốc sai lạc so với sự tôn kính. Ðáng chú ý là luận điểm này đã được một vị Giáo sư, Tiến sĩ người nước ngoài nêu ra. Ông cho rằng, từ thời trung đại, Việt Nam đã có việc “kiến tạo truyền thống” mặc dù chính các sử gia và chính trị gia thời phong kiến cũng đã phê phán việc “kiến tạo” này. Nhưng kể cả khi hình tượng có thể có sai lệch theo quan điểm mà nhà nghiên cứu đòi thực chứng, thì thực tế nhân vật ấy vẫn “thiêng” trong cả đền đài và tâm thức nhân dân. Khi dân tộc cần đoàn kết, nhân tâm cần “quy về một mối” thì sẽ (và đã) xuất hiện một, và chỉ một “Quốc tổ”. “Quốc tổ” bước từ huyền thoại vào lịch sử với diện mạo của một con người. Dù chứng cứ, hiện vật khảo cổ học đã chứng minh sự tồn tại của một nền văn minh khá rực rỡ trong thời đại đó, thì việc cố truy tìm đầy đủ, rõ ràng lý lịch cá nhân, chính xác như thời nay là điều không thể. Nhưng dù không thể có một “lý lịch” thật cụ thể, vị thủ lĩnh đó vẫn thiêng liêng tồn tại trong tâm thức dân gian, không ai đòi phải chứng minh bằng kỹ thuật xác minh ADN hiện đại! Chưa nói tới xu hướng “xét lại lịch sử” bằng giả định “nếu như thế này thì sẽ thế kia” như ngầm bác bỏ sự lựa chọn xu hướng phát triển dân tộc. Cho nên phẫn nộ với ý kiến cho rằng: “Không cần phải phát động chiến tranh làm tốn phí cả bốn hay năm triệu sinh linh, thì rồi đến lúc nào đó, Pháp cũng phải trả lại chủ quyền độc lập cho dân ta”, nhà sử học là người Mỹ gốc Việt Nguyễn Mạnh Quang đã viết rất rành mạch: “Trừ phi không biết hoặc thuộc loại phản quốc, khi có một nước khác đến ngồi trên đầu làm chủ, không có một người dân tử tế nào bằng lòng chờ cho có ngày bọn thực dân tự động trả lại cơ đồ ông cha mình cả. Nếu theo luận điệu ươn hèn như trên, thì những công lao và sự hy sinh của hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ trong các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta trong đại cuộc đánh đuổi giặc Pháp ngoại xâm từ năm 1858 đến năm 1954 đều là vô ích hay sao! Và hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến 1954 – 1975 để đòi lại miền Nam trong tay Mỹ, đem lại thống nhất cho đất nước cũng là vô ích hay sao! Ðưa ra luận điệu này là tỏ ra vô ơn với hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống cho Tổ quốc Việt Nam được trường tồn”.

Nhu cầu hiểu biết về quá khứ luôn là một đòi hỏi của con người. Nhà sử học Nga O Va-in-xten cho rằng: “Lịch sử là sự tập hợp những tấm gương để cho người ta bắt chước những hành vi tốt và tránh đi những hành vi xấu” (Sử học Tây Âu thời Trung đại, Matxcova, 1962). Các bài học, kinh nghiệm từ quá khứ lịch sử vẫn mang những giá trị to lớn đối với xã hội hiện tại, để động viên nhân dân trong cuộc đấu tranh giành lại độc lập dân tộc. Năm 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng, cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi,… yêu dân trị nước tiếng để muôn đời”; “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn…” (Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, H. 2011, tr 255 – 256). Sự khách quan, tính trung thực chính là điều làm cho sử học hấp dẫn. Hứng thú khi đọc và học lịch sử cũng bắt nguồn từ đó. Nghiên cứu để thấu suốt, nhận biết lịch sử ngày càng đúng đắn, sâu sắc hơn là yếu tố đầu tiên quyết định giá trị của nghiên cứu, điều đó cần thiết cho hôm nay và cho cả con cháu mai sau. Nhưng lịch sử cũng không cần và không chấp nhận việc “xét lại lịch sử” với tầm nhìn hẹp, hoặc từ cái tâm thiếu trong sáng.

Theo NHÂN DÂN ONLINE

Nguồn: viethaingoai.net

Advertisements
Categories: Nhân dân Việt Nam | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Việt Nam: quốc gia hạnh phúc nhì thế giới, Mỹ xếp 105

Daily Mail đưa tin trong bảng danh sách các quốc gia hạnh phúc nhất trên thế giới (dựa theo chỉ số HPI), Việt Nam xếp thứ 2 trong khi Mỹ xếp 105. Đây là bảng xếp hạng do tổ chức nghiên cứu xã hội New Economic Foundation có trụ sở tại Anh công bố.

Người Việt Nam luôn lạc quanNgười Việt Nam luôn lạc quan

Chỉ số HPI không dựa trên sự giàu có mà dựa theo mứctuổi thọ của người dân, độ hài lòng của người dân và chỉ số môi trường. Theo chỉ số này, Costa Rica là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới 2014 tiếp theo là Việt Nam.

Trong top 10 các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới, duy nhất Việt Nam là nước ngoài khu vực Mỹ Latin. Các nước trong top 10 còn lại là Colombia, Belize, El Salvador, Jamaica, Panama, Nicaragua, Venezuela và Guatemala.

 Top 10 quốc gia hạnh phúc

Một số thứ hạng quan trọng

Một điều kỳ lạ là các nước phương Tây có chỉ số HPI rất thấp, tức là người dân cảm thấy không hạnh phúc lắm với điều kiện sống. Theo chỉ số này, Anh xếp 41, Pháp xếp 50, Tây Ban Nha xếp 62, Canada xếp 65, Úc xếp 76 và Mỹ xếp tận 105.

Năm 2006, Việt Nam xếp hạng thứ 12 nhưng đến 2009 đã nhảy lên top 5. Năm 2012, Việt Nam xếp thứ 2 và tiếp tục duy trì vị thế này cho đến nay.

(Theo Daily Mail)

Nguồn: viethaingoai.net

Categories: Nhân dân Việt Nam | Nhãn: | %(count) bình luận

Cần kế thừa Nghị quyết 36

Nhấn mạnh những thành tựu và coi trọng việc phát huy Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị trong giai đoạn mới, ông Vũ Hồng Nam chia sẻ với TG&VN những suy nghĩ, trăn trở của ông trên cương vị mới là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước…

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài Vũ Hồng Nam. (Ảnh: Minh Châu/TG&VN)

Xin chúc mừng ông vừa được Chính phủ bổ nhiệm làm Thứ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban. Điều mà ông quan tâm nhất khi nhận nhiệm vụ mới là gì?

Suy nghĩ đầu tiên của tôi là phải kế thừa Nghị quyết 36. Ngay từ mười năm trước, chính sách thống nhất của Đảng và Nhà nước ta là luôn coi trọng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và luôn có định hướng đúng đắn để cho các cấp, ngành triển khai chính sách phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của bà con. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, các chính sách khi đó còn rời rạc, chưa tập trung. Từ khi có Nghị quyết 36, lần đầu tiên, chúng ta có một hệ thống chính sách bài bản, nhất quán và đảm bảo sự thống nhất trong tư tưởng chỉ đạo của tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương, các bộ, ngành về vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Phải nói rằng, trong mười năm qua, các chính sách của chúng ta được triển khai và được bà con rất hoan nghênh như chính sách miễn thị thực cho người Việt Nam ở nước ngoài, chính sách thu hút kiều bào về tham gia xây dựng đất nước, ưu đãi mua nhà cửa, đãi ngộ trong đầu tư, công nhận hai quốc tịch…

Sự phát triển cộng đồng trong mười năm qua cũng hết sức mãnh liệt, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Trước khi xây dựng Nghị quyết 36, cộng đồng chúng ta có 2,7 triệu người, đến nay đã tăng gấp đôi, khoảng 4,5 triệu người và mở rộng đến 104 nước, lãnh thổ. Số lượng cộng đồng tham gia tích cực vào kinh tế, xã hội các nước ngày một tăng lên, lao động trí thức chiếm khoảng 10% cộng đồng người Việt ở nước ngoài, trong đó phần lớn là nhà khoa học, chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ cao.

Một điều quan trọng cần phải nhấn mạnh là cộng đồng đang phát triển theo hướng đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, số lượng chống đối giảm đi nhiều, các hội đoàn đã được thành lập rất nhiều nơi như ở Australia, Mỹ, CH Czech, Nga, Thái Lan…

Thời gian tới, Ủy ban sẽ làm gì để phát huy thành tựu đáng tự hào này?

Phải khẳng định là Nghị quyết 36 vẫn còn nguyên tính giá trị và mọi chỉ đạo, đường lối của Nghị quyết vẫn hoàn toàn là đúng đắn, mặc dù tình hình đã có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, để triển khai trong giai đoạn mới, chúng ta cần những chính sách và hướng dẫn cụ thể hơn. Khi tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm Nghị quyết 36, chúng tôi cũng kiến nghị với Chính phủ về một số chính sách cần bổ sung, phù hợp với tình hình mới và đáp ứng được nguyện vọng mới của bà con. Những chính sách này phải làm sao thu hút hơn nữa lực lượng người Việt ở nước ngoài về nước tham gia đóng góp xây dựng đất nước, đồng thời cũng giúp chúng ta bảo tồn được bản sắc văn hóa của người Việt Nam ở nước ngoài.

Đặc biệt, về công tác thông tin cho kiều bào, cá nhân tôi cho rằng, đây là công tác quan trọng nhất đối với cộng đồng. Vừa qua, trong cuộc gặp gỡ với các đại biểu kiều bào về dự Đại hội VIII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi đã được tiếp nhận nhiều ý kiến đóng góp quý báu như việc xây dựng nhà văn hóa thông tin, cung cấp sách báo cho các thư viện ở các địa bàn có bà con người Việt sinh sống hoặc mời những nhà văn hóa, nghiên cứu lịch sử của Việt Nam đến các địa bàn giảng dạy, nói chuyện với bà con… Bên cạnh sóng truyền hình như kênh VTV4 đã làm rất tốt, chúng ta cũng cần tổ chức nhiều hơn các chương trình văn hóa, văn nghệ, giáo dục truyền thống cho cộng đồng.

Ngoài ra, còn một số cộng đồng vẫn đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt về mặt pháp lý. Chúng tôi sẽ luôn phối hợp cùng các Bộ, ngành tìm cách thương thuyết với các nước bạn giúp bà con được trở thành những công dân và đảm bảo có một cuộc sống bình thường ở nước sở tại. Những quy chế pháp lý như vậy, trước đây chúng ta đã làm thành công ở một số nước như ở Thái Lan, gần như toàn bộ người Việt Nam đã được công nhận như người Thái. Họ không chỉ được tạo điều kiện thuận lợi xây dựng cuộc sống cá nhân mà còn tích cực cống hiến, đóng góp cho Thái Lan.

Còn đối với thế hệ kiều bào thứ hai, thứ ba?

Thế hệ kiều bào thứ hai, thứ ba luôn cần được tiếp cận nhiều hơn với nền văn hóa và thông tin về Việt Nam để giữ cho họ một niềm tin hướng về cội nguồn. Đây là trăn trở của Chính phủ, Bộ Ngoại giao cùng các Bộ, ngành khác. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng bộ sách giáo khoa chuẩn dành riêng để dạy tiếng Việt cho các thế hệ con em người Việt ở nước ngoài. Chúng tôi cũng phối hợp với các trường của các nước sở tại để xây dựng chương trình dạy tiếng Việt. Ngoài ra, chúng ta có thể dạy tiếng Việt trên Internet, hoặc phát hành trên VCD….

Nghị quyết 36 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của chính sách thu hút lực lượng kiều bào tâm huyết về đóng góp cho đất nước. Thứ trưởng suy nghĩ gì về việc tận dựng nguồn tri thức kiều bào trong giai đoạn mới?

Chúng ta nhận thức rất rõ tiềm lực của người Việt Nam ở nước ngoài. Mười năm qua, chúng ta đã tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị, nhiều đề án chung và riêng nhưng vẫn cần làm tốt hơn nữa. Số lượng trí thức kiều bào về nước hiện nay có khoảng 300 lượt người/năm nhưng, số lượng kiều bào còn ở trong nước đầu tư làm ăn chưa được nhiều. Sắp tới, được sự chỉ đạo của Chính phủ, Ủy ban sẽ hoàn thiện đề án thu hút tri thức kiều bào về nước và đề án thu hút trí tuệ, tài năng trẻ đang học tập, sinh sống ở nước ngoài.

Trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, chúng ta luôn cần nguồn lực chất xám, trong đó có lực lượng kiều bào. Một thuận lợi là bà con luôn có sẵn tấm lòng hướng về đất nước, chúng ta cần tạo môi trường, hạ tầng cơ sở tốt để bà con có thể phát huy hết tiềm năng của mình.

Tôi cũng cho rằng, chúng ta cần phải đổi mới tư duy cách thức kêu gọi bà con hướng về đất nước. Trước đây, chúng ta hay hiểu nôm na là bà con yêu nước là phải về nước làm ăn, tham gia giảng dạy hoặc hoạt động tại các viện nghiên cứu… Nhưng nay, bà con có thể vẫn tiếp tục ở ngoài nước nhưng sẵn sàng tham gia tư vấn, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân trong nước để cùng nhau phát triển.

Trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay, chúng ta rất cần những tư vấn, tham gia đóng góp ý kiến của bà con kiều bào trong mọi lĩnh vực. Bà con có thể hướng về đất nước bằng nhiều con đường khác nhau và luôn cần có sự tương tác, trao đổi liên tục giữa hai bên.

Xin cảm ơn Thứ trưởng, Chủ nhiệm!

TRỌNG VŨ (thực hiện)

Theo: viethaingoai.net

Categories: Nhân dân Việt Nam | Nhãn: | %(count) bình luận

Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là tuyên bố về sự ra đời của một quốc gia có chủ quyền mà còn là tuyên ngôn nhân quyền của Nhà nước Việt Nam

Trong một thời gian dài dân tộc Việt Nam bị nước ngoài đô hộ, xâm lược, phải gánh chịu những hy sinh to lớn để giành độc lập dân tộc và tự do của Tổ quốc. Bằng cuộc đấu tranh bất khuất, kiên cường qua nhiều thế kỷ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định rằng

Hình ảnhQuyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình.

Hơn ai hết, Việt Nam từng là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, sự vi phạm lớn nhất quyền con người hiểu rõ rằng quyền con người là thể hiện khát vọng chung của nhân loại, được ghi trong Hiến chương của Liên hợp quốc, có tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng. Chính phủ Việt Nam cho rằng, trong một thế giới ngày càng đa dạng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế – xã hội, các giá trị văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán của mỗi quốc gia và khu vực. Không một nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hoá của mình cho một quốc gia khác. Việt Nam cho rằng, cần tiếp cận một cách toàn diện tất cả các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá trong một tổng thể hài hoà, không được xem nhẹ bất cứ quyền nào. Đồng thời, các quyền và tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng,quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội. Trong Hiến pháp sửa đổi năm 1992 thì chương về quyền con người được đặt vào vị trí hết sức quan trọng. Trước đây, Hiến pháp Việt Nam chỉ nêu ở phần sau, bây giờ đặt hẳn một chương về quyền con người, mà đó là xu hướng của thế giới. Việc Việt Nam trúng cử vào hội đồng nhân quyền liên hợp quốc là một đòn giáng mạnh vào một số cá nhân , tổ chức không có thiện cảm với Việt Nam. Từ bấy lâu nay họ luôn “Hòa tấu” bài ca nhân quyền, họ xem đó là gót chân “Asin” của Việt Nam, để ngăn cản bất cứ chuyện gì mà Việt Nam hòa nhập với thế giới. Với cái gọi là ”Bảo bối” nhân quyền này một số cá nhân, hội đoàn người Việt có tư tưởng cực đoan ở hải ngoại mà đặc biệt tại Hoa Kỳ có lúc đã tác oai, tác quái, hết “Thư ngỏ” đến “Thỉnh Nguyện thư” gởi đi các nơi đặc biệt là các nhân vật hiện là dân biểu trong thượng hạ viện Mỹ hòng dùng chiêu bài này bôi nhọ hình ảnh nhân quyền ở Việt Nam. Trong các vấn đề về quyền con người. Phải khẳng định rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến bảo đảm an sinh xã hội. Đó là một trong những mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra mặc dù thời gian qua kinh tế xã hội hết sức khó khăn, thế nhưng đầu tư cho an sinh xã hội vẫn được đảm bảo rất cao. Nhưng các nhà “Dân chủ” hoặc những thành phần chống cộng cực đoan cùng với một số cơ quan truyền thông việt ngữ ở hải ngoại vẫn cố tình không chấp nhận một sự thật hiển nhiên đã xảy ra là: Việt Nam đã trúng cử với số phiếu cao nhất. Kết quả đó đã phản ảnh đúng những gì mà Việt Nam phấn đấu, hoàn thiện trong suốt một thời gian dài. Thực tế hàng năm Việt Nam rất tích cực đối thoại nhân quyền, mở rộng cửa sẵn sàng đối thoại. Qua đối thoại trực tiếp các nước, các tổ chức họ mới nhận thức được rằng, giữa thông tin sai lệch của một số đối tượng thì hoàn toàn khác xa với thực tế đang hàng ngày, hàng giờ đang diễn ra ở Việt Nam. Những mong muốn, quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong vấn đề bảo đảm quyền con người đã xóa tan sự nghi ngờ, phản bác lại những luận điệu vu khống, thóa mạ về nhân quyền Việt Nam của những người không thiện chí. Là thành viên của tổ chức nhân quyền Liên Hợp Quốc Việt Nam sẽ thể hiện trách nhiệm của mình một cách đầy đủ nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa , lúc sinh thời luôn có một ước vọng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Ý nguyện đó đã phản ánh khát vọng của toàn dân tộc Việt Nam. Thực hiện những giá trị thiết yếu về quyền con người, là mục đích, tôn chỉ hoạt động xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Dân tộc Việt Nam, không phân biệt già trẻ, gái trai, sắc tộc, tôn giáo đã đoàn kết một lòng, vượt qua mọi thử thách, gian khổ, hy sinh to lớn để giành và giữ các quyền cơ bản đó. Ngay từ những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, người thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt nhân dân Việt Nam nêu tám yêu sách gửi Hội nghị Véc-xây (năm 1922), yêu cầu chính quyền Pháp trả lại những quyền tự do, dân chủ cơ bản cho người dân Việt Nam, trong đó có cải cách nền pháp lý Đông Dương, thay đổi chế độ sắc lệnh bằng luật pháp, mà người dân Việt Nam phải được hưởng đầy đủ các quyền tự do báo chí, tư tưởng, tự do lập hội, tự do cư trú ở nước ngoài, tự do học tập… Đến bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người đã có bước phát triển mang tính cách mạng. Mở đầu với việc khẳng định những quyền cơ bản mà tạo hóa ban cho mỗi con người và khép lại bằng lời tuyên bố trịnh trọng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”, bản Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là tuyên bố về sự ra đời của một quốc gia có chủ quyền mà còn là tuyên ngôn nhân quyền của Nhà nước Việt Nam, trong đó thừa nhận các quyền cơ bản của con người, đồng thời, lần đầu tiên, quyền cá nhân được mở rộng thành quyền dân tộc, và quyền con người. Sự bình đẳng của mỗi cá nhân được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với quyền dân tộc, đó là quyền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, toàn vẹn lãnh thổ và quyền dân tộc tự quyết.

Trong một thời gian dài dân tộc Việt Nam bị nước ngoài đô hộ, xâm lược, phải gánh chịu những hy sinh to lớn để giành độc lập dân tộc và tự do của Tổ quốc. Bằng cuộc đấu tranh bất khuất, kiên cường qua nhiều thế kỷ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định rằng: Quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình. Đây cũng chính là nguyên tắc có tính nền tảng về quyền tự quyết dân tộc đã được khẳng định trong Hiến chương Liên hiệp quốc và tại Điều 1 của cả 2 Công ước quốc tế cơ bản nhất của Liên hợp quốc về quyền con người: Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội, Văn hoá và Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị.

Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước, luôn khẳng định con người là trung tâm của các chính sách kinh tế – xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho phát triển bền vững. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Việt Nam đều nhằm phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tất cả vì con người và cho con người. Quyền con người có cội rễ sâu xa từ truyền thống lịch sử, văn hóa hàng nghìn năm của một dân tộc luôn nêu cao tinh thần hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình và các giá trị nhân văn, đồng thời phản ánh nguyện vọng thiết tha của nhân dân Việt Nam mà dân tộc này từng là nạn nhân của các cuộc chiến tranh xâm lược và bị tước đoạt những quyền và tự do cơ bản nhất. Là thành viên của tổ chức nhân quyền LHQ, Việt Nam sẽ có tiếng nói rất quan trọng trong việc xác định để làm cho thế giới rõ hơn vấn đề quyền con người ở mỗi quốc gia và đặc biệt là để hiểu rõ hơn về quyền con người ở Việt Nam.Trước đây Việt Nam không ở trong Hội đồng, cho nên các nước thành viên chỉ nghe theo “Kênh” một chiều thù địch như “Phúc trình”,, “Báo cáo thường niên”..vv, họ nói hoặc thậm chí họ ra các nghị quyết mà Việt Nam không được tham gia, không có cơ hội chứng minh, phản biện những quy kết kiểu “Chụp mũ” thì nay Việt Nam ở trong Hội đồng rồi thì chúng ta có quyền phát biểu, chứng minh bằng hành động, chứng minh bằng điều kiện thực tế để họ nhận thức và thấy rõ quyền con người ở Việt Nam. Có thể nói, vấn đề quyền con người luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam đề cao, nhận thức tích cực và áp dụng phù hợp với Việt Nam. Nhờ đó, từ một dân tộc bị tước đoạt cả những quyền tự do cơ bản nhất, người dân Việt Nam đã được thụ hưởng ngày một đầy đủ và toàn diện hơn các quyền của mình. Mặc dù hiện nay, trên thế giới còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề quyền con người và thậm chí một số thế lực thù địch đã lợi dụng điều này để vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, song những thành tựu mà nhân dân Việt Nam đạt được trong những năm qua là bằng chứng không thể phủ nhận cho những nỗ lực của Việt Nam trong lĩnh vực này./.

Hoa Kỳ 8-2014
John Lee TBT VHN.NET

Theo: viethaingoai.net

Categories: Nhân dân Việt Nam | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Liên Xô 1979: chặn bàn tay xâm lược Việt Nam

35 năm trước, Liên Xô đã biết cách tỏ rõ sẽ không ngần ngại áp dụng những biện pháp tột cùng để “khôi phục hòa bình và công lý”, báo ‘Phòng thủ đường không và vũ trụ’ của Nga viết.

  • Lê Đỗ Huy (lược thuật)

Xe tăng Liên Xô tập trung ở biên giới Xô - Trung năm 1979 Xe tăng Liên Xô tập trung ở biên giới Xô – Trung năm 1979

Đầu 1979, tại biên giới Trung quốc – Việt Nam hình thành mặt trận gồm 15 sư đoàn thê đội 1, 6 sư đoàn dã chiến quân thê đội 2, và 3 sư đoàn dự bị. Tổng quân số cụm quân được động viên để tham chiến chống Việt Nam lên tới 29 sư đoàn…

3h 30 ngày 17/2/1979 trên một số hướng, sau 30 -35 phút pháo hỏa chuẩn bị, quân Trung quốc đã đột nhập qua 20 đoạn biên giới Trung – Việt vào lãnh thổ Việt Nam.

… Kế hoạch (dùng xung đột quân sự) của ban lãnh đạo Bắc Kinh nhanh chóng đập tan sự kháng cự của quân đội Việt Nam và buộc Việt Nam phải từ bỏ đường lối đối ngoại không lệ thuộc vào Trung quốc, trước khi Liên Xô kịp can thiệp, đã bất thành. Ý đồ của Bắc Kinh đảo ngược tình hình ở Campuchia cũng không đạt được.

Diễn tập biểu dương lực lượng

Trong thời gian từ 12 đến 26/3/1979 kiên quyết tạo áp lực quân sự lên Trung quốc (nước đang tiến hành cuộc xâm lược chống Việt Nam), theo chỉ thị của BCH TƯ Liên Xô, các Quân khu biên giới phía Đông (các vùng đất tiếp giáp với Trung quốc của Liên Bang xô viết), tại lãnh thổ Mông Cổ, và Hạm đội Thái Bình Dương, đã tiến hành các cuộc tập trận của Quân đội và Hải quân Liên Xô.

 

Năm 1979, các trung đoàn tiêm kích từ lãnh thổ Ukraina và Belorussia
được điều động sang các sân bay Mông Cổ.

Trong các cuộc diễn tập, tổng cộng đã có 20 sư đoàn binh chủng hợp thành và không quân tham gia, với tổng quân số lên tới hơn 200 ngàn sĩ quan và chiến sĩ, hơn 2 ngàn 600 xe tăng, gần 900 máy bay, 80 tàu chiến các loại.

Diễn tập bắt đầu bằng lệnh động viên, và chuyển các đơn vị quân đội và hải quân vào tình trạng sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Đã động viên 52 ngàn quân nhân dự bị, huy động hơn 5 ngàn xe máy của nông nghiệp sang phục vụ yêu cầu sẵn sàng chiến đấu.

Các cuộc diễn tập quy mô lớn nhất diễn ra trên lãnh thổ Mông Cổ, huy động tới 6 sư đoàn bộ binh cơ giới và sư đoàn tăng, trong đó có 3 sư đoàn được điều động tới Mông Cổ từ Sibir và Zabaikal. Trong khuôn khổ cuộc diễn tập này còn góp mặt gần ba sư đoàn không quân, hai lữ đoàn độc lập và một số liên binh đoàn và đơn vị tăng cường.

Cùng kỳ, tại các cuộc diễn tập ở Viễn Đông và Đông Kazakhstan (có đường biên giới với Trung quốc), ngoài các đơn vị cấp sư đoàn trở lên bộ đội hiệp đồng binh chủng, còn có các đơn vị bộ đội biên phòng Liên Xô tham gia.

Tại các vùng có đường biên giới với Trung quốc, đã diễn tập các phương án tổ chức phòng ngự, đánh trả đội hình tiến công của đổi phương, phản kích, và chuyển sang phản công.

Trong tiến trình các cuộc diễn tập đã thực hiện các hoạt động phối hợp hỏa lực của các binh quân chủng. Cuộc hành binh từ Sibir sang Mông Cổ được thực hiện với các quy mô đội hình khác nhau, đội hình đơn vị từ cấp sư đoàn trở lên, và từ cấp trung đoàn trở xuống cấp phân đội. Đã thực hành tập kết đội hình đến cả bằng đường sắt, cả bằng đổ bộ đường không.

Tại các vùng có đường biên giới với Trung quốc, đã diễn tập các phương án tổ chức phòng ngự, đánh trả đội hình tiến công của đổi phương, phản kích, và chuyển sang phản công.

Từ lãnh thổ Ukraina và Belorussia, các trung đoàn không quân chiến đấu đã sang triển khai lực lượng tại các sân bay của Mông Cổ.

Đồng thời với các cuộc diễn tập, đã điều động các trung đoàn không quân ra phía đông (phía khu vực tiếp giáp hai lục địa Á – Âu) không chỉ từ các quân khu lân cận, mà cả từ vùng Prikarpatia, nằm cách xa các quân khu của Liên Xô có biên giới với Trung quốc tới 7000 km, chỉ nội trong hai đêm.

Đơn cử, chỉ trong hai đêm đã di chuyển từ Tula toàn sư đoàn không vận từ Tula đến tập kết tại Chita (Chỉ huy sở Quân khu Sibir) qua khoảng cách tới 5,5 ngàn km, chỉ bằng một chuyến bay.

Các cuộc chuyển quân trên của không quân xô viết không chỉ liên quan đến đội hình chiến đấu cấp trung đoàn, với các phi công được huấn luyện tốt nhất, mà là cuộc di chuyển của toàn trung đoàn, kể cả các đơn vị và phân đội bảo dưỡng kỹ thuật trên không và mặt đất. 5 quân khu đã tham gia tiếp dầu cho cuộc diễn tập này.

Trong tiến trình diễn tập, có những khoảng thời gian trong không trung có tới mười trung đoàn không quân tuyến 1 (đội hình chiến đấu) hoạt động. Các kíp bay đã bay tổng cộng 5000 giờ, đã sử dụng tới 1000 trái bom và tên lửa (trong diễn tập bắn đạn thật).

Tại biển Đông, và biển Hoa Đông gần 50 chiến hạm của Hạm đội Thái Bình dương, trong số đó có 6 tàu ngầm đã trực chiến sẵn sàng chiến đấu, và tiến hành tập trận đánh tiêu diệt hải quân đối phương. Tại vùng Primorie (ven biển Viễn Đông) đã thực hiện các cuộc đổ bộ của thủy quân lục chiến Liên xô.

Trợ chiến

Không quân xô viết còn cử các đơn vị của mình sang công tác tại Việt Nam để giải quyết vấn để trinh sát đường không chống quân xâm lược trên lãnh thổ Việt Nam. Các đơn vị thuộc không quân vận tải Liên Xô (các phi đội AN – 12, AN – 26, MI – 8…) làm nhiệm vụ vận chuyển đường không trong lãnh thổ Việt Nam.

Rất có kết quả, và có thể nói là khó hình dung nổi với thực lực trang bị lúc đó của Không quân chiến thuật Liên Xô (ý nói còn hạn chế), đã vận hành Cầu hàng không giữa Liên Xô và Việt Nam. Trong khuôn khổ diễn tập tại Liên Xô và chuyên chở vũ khí, trang thiết bị cho Việt Nam, đã vận chuyển tổng cộng 20 ngàn quân, hơn 1000 đơn vị trang bị xe máy, 20 máy bay và trực thăng, 3 ngàn tấn quân dụng, đạn dược.

Viện trợ

Riêng về mặt quân sự, viện trợ cho Việt Nam là một nhiệm vụ trọng đại, nhằm mục tiêu gia tốc gấp tiềm lực quân sự cho Việt Nam, nhờ các cuộc chuyển giao khẩn trương thiết bị và vũ khí. Chỉ trong giai đoạn từ khi cuộc xung đột bắt đầu (giữa tháng 2) đến cuối tháng ba, bằng đường thủy đã đưa sang Việt Nam được hơn 400 xe tăng và xe bọc thép, xe chở quân; 400 cỗ pháo và súng phóng lựu, 50 dàn phóng đạn phản lực 40 nòng, cỡ 122 mm “Grad”, hơn 100 cỗ pháo cao xạ, 400 đồng bộ cao xạ di động cùng hàng ngàn tên lửa đi theo, 800 súng chống tăng của bộ binh, 20 máy bay tiêm kích. Dù việc chuyển giao là gấp rút, các vũ khí và trang bị này đã qua thẩm định về chất lượng sẵn sàng chiến đấu bởi một ủy ban gồm các chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm sử dụng các trang bị này của quân đội xô viết.

Đòn cân não

Thái độ kiên quyết ủng hộ Việt Nam của Liên Xô; phản ứng của công luận thế giới; kháng cự kiên cường của quân đội Việt Nam buộc địch phải chịu tổn thất to lớn; tổ hợp hành động quân sự – chính trị của Liên Xô được thực hiện dưới dạng bước chuẩn bị cho hành động tiến quân vào lãnh thổ Trung quốc; mâu thuẫn trong giới cẩm quyền Trung quốc, các khuyết điểm, sai lầm nghiêm trọng trong chỉ đạo và trong tác chiến của quân Trung quốc… đã đem lại kết quả mong đợi, bài báo kết luận. 5/3/1979 Bắc Kinh đã phải ra quyết định rút quân, và 20/3/1979 phải thực hiện rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Nhưng quân Trung quốc vẫn ngoan cố đóng tại một số phần đất (sâu 1km vào lãnh thổ và rộng 2 km), mà trước đó Trung quốc gán ghép là “đất tranh chấp” , ở vùng biên giới hai nước, bài báo nhấn mạnh.

Bài báo cũng chỉ ra Liên Xô đã chơi rắn đến cùng như vậy, vì Trung quốc xâm lược vùng biên giới phía Bắc của Việt Nam khơi dậy nguy cơ chiến tranh lớn trên “hai mặt trận” (tức là gây chiến với Nga), do vừa ký kết Hiệp định hợp tác toàn diện Việt – Xô.

Phương châm trong chiến tranh “Phòng ngự tốt nhất là tiến công”, cũng được áp dụng trong còn điều kiện Liên Xô còn hòa bình, nhưng thế lực bành trướng, bá quyền trong khu vực đang tìm cách khơi lò lửa chiến tranh.

Nhìn lại, tướng Vũ Xuân Vinh, nguyên thủ trưởng kỳ cựu của ngành đối ngoại quân sự vào năm 2009 chia sẻ, ông vẫn vô cùng ấn tượng về cách Liên Xô đã chọn đầu 1979, bằng ý chí và hành động, cảnh báo “không được đụng đến Việt Nam”.

Năm 1979, Liên Xô đã tỏ rõ sẽ không ngần ngại áp dụng những biện pháp tột cùng, kiên quyết khôi phục hòa bình và công lý, không để địch thủ mơ tưởng “được đằng chân lân đằng đầu”.

Địa chỉ bài viết tiếng Nga
http://www.vko.ru/strategiya/naglyadnaya-demonstraciya-voennoy-moshchi

Theo: viethaingoai

Categories: Nhân dân Việt Nam | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt Thiệt – Nhân Nghe Về Huy Đức

Hưởng thụ cuộc sống trong cảnh hòa bình trong xã hội đầy tiện nghi vật chất, lại thốt lời chê bai chế độ, chống phá chính phủ, đó là hành vi của kẻ vất đi, vô tâm, vô giáo dục, bất lương, vô hạnh, thua cả loài súc vật.

Hoang Huu Phuoc, MIB

A)  Dẫn Nhập: Nhân Nghe Về Huy Đức

Chuyên tâm học tập theo lời giáo huấn của bậc kỳ tài của Việt Nam Cộng Hòa như Thầy Nguyễn Quang Tô*, hành sử theo dũng khí của thần nhân và tư cách cao trọng của thánh nhân trong “mắt chẳng nhìn sắc gì trái lễ, tai chẳng nghe những thanh gì trái lễ, miệng chẳng thốt những lời gì trái lễ; thịt xắt chẳng ngay chẳng ăn, chiếu trải chẳng ngay chẳng ngồi; người không đạo nghĩa dứt khoát không giao du, vật phi nghĩa dứt khoát không thu nhận; ở gần người hiền thì vui mừng như ở cạnh hoa khoe hương sắc, thấy kẻ ác thì tởm lợm như gặp loài rắt rết”, tôi đã không thèm đọc bất kỳ trang nào của cái “tác phẩm” mà Huy Đức từ Mỹ mới tung ra trên mạng. Song, những âm thanh ồn ào của phía hồ hởi hân hoan tận dụng và bên nghiêm chỉnh phán phê đã khiến tôi, người học trò của bậc kỳ tài, đang tu theo cái thần và cái dũng của thánh nhân không thể không yêu cầu nhân viên kể tóm lược nội dung và tôi đã nhận ra ngay chân tướng sự việc khiến phải viết ra đây sự thật trụi trần dù biết thế là nhẫn tâm vùi dập cơn hoan hỉ của phe đang hí hửng sảng mê chống cộng, cũng như đan tâm trách chê trình độ của bên phê phán, vì rằng cái cốt lõi của vấn đề là Huy Đức trốn chui trốn nhủi vào sọt rác để né sự thật, còn các bậc phê phán Huy Đức lại chẳng biết trong vô số sự thật nên chọn cái sự thật nào giông giống bộ dây da được bày bán trong khu hàng đặc biệt cho chó để khóa mõm hắn ta. Lăng Tần tôi nay do tính thương dân trọng chúng, không muốn sự ồn ào làm xao nhãng việc cảnh giác ngoại xâm an nguy xã tắc, xin thố lộ đôi dòng sự thật như đóng góp nhỏ vào lịch sử cận đại của sơn hà, vì nếu như để kẻ như Huy Đức lúc Giải Phóng Miền Nam mới 13 tuổi ắt còn đứng cởi truồng vạch quần phía dưới tồng ngồng chưa biết mắc cỡ đái bậy ngoài đường chả biết ất giáp chi chi về cuộc đời, nay mới nhớn đã buột mồm phía trên chẳng biết ngượng nhục nói bậy ngoài nước thì không còn chi là đạo lý nhân luân trong xã hội loài người. Tôi, Hoàng Hữu Phước, sinh năm 1957 tại Bảo Sinh Viện Từ Dũ Sài Gòn, công dân Việt Nam Cộng Hòa 18 tuổi chẵn trình độ học vấn tú tài lúc Giải Phóng Miền Nam, đã có hiểu biết chín và mùi, và nhận định cá nhân về chính trị – xã hội – đạo đức – giáo dục – tôn giáo – quân sự – triết học cùng tình yêu trai gái biết hẹn biển thề non, xin kể ra đây toàn sự thật và không có gì khác hơn ngoài sự thật.

B)   Lời Hoàng Hữu Phước, Nhân Chứng Của Việt Nam Cộng Hòa

Xin tự giới thiệu tôi là Hoàng Hữu Phước, dân Sài Gòn “thứ thiệt” qua tấm căn cước trên của Việt Nam Cộng Hòa, minh chứng tôi đã là công dân nước Việt Nam Cộng Hòa, trong khi Huy Đức (chớ biết tên của kẻ luôn xấu hổ về tên cha sinh mẹ đẻ đặt cho này là gì) chưa từng đủ sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần, và năng lực hành vi để được Việt Nam Cộng Hòa cấp căn cước công nhận trưởng thành để có đủ sức hiểu biết về bất kỳ điều gì hay ho của Việt Nam Cộng Hòa mà từ đó có khả năng khả dĩ có thể so sánh và sầu muộn phê phán Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, mà nói theo bậc thầy về tiếng Anh đứng đầu trong tất cả nhân loại có gốc Việt Nam thì Huy Đức là kẻ immature, unfinished, illiterate, incapable, treacherously parasitic good-for-nothing wretched.

1- Lịch Sử Và Sự Bôi Bẩn Của Bọn Bất Lương Bất Tài Bất Hạnh

Trong khi tất cả những nhà trí thức hàn lâm trên toàn thế giới biết rất rõ là chính Karl Marx “đẻ” ra … “chủ nghĩa tư bản” với nội hàm một hệ thống, một phương thức sản xuất, một…”chủ nghĩa”, tức là trước Marx chưa hề có cái gọi là “chủ nghĩa tư bản”, và dương nhiên là chưa hề có bất kỳ thứ gì liên quan đến triết thuyết về “chủ nghĩa tư bản”, nên khi xuất hiện “chủ nghĩa cộng sản” như một hệ thống triết học thì các nhà trí thức hàn lâm mới ra sức nghiên cứu, và tất nhiên dẫn đến việc hoàn toàn tự nhiên là rất nhiều người cho rằng mình đã nhận ra các yếu điểm hoặc các vô lý của triết thuyết “chủ nghĩa cộng sản” nên viết các công trình hàn lâm vĩ đại để bài bác triết thuyết ấy, và cũng là việc hoàn toàn tự nhiên khi rất nhiều người cho rằng mình đã nhận ra các ưu điểm hoặc các hữu lý của triết thuyết “chủ nghĩa cộng sản” nên viết các công trình hàn lâm vĩ đại để ủng hộ triết thuyết ấy, mà gần đây nhất là công trình nghiên cứu mang tên “Tại Sao Marx Đúng?” của Giáo sư Đại học Lancaster Anh Quốc Terry Eagleton do Đại học Yale lừng danh của Hoa Kỳ xuất bản năm 2011 vẫn đang gây cơn sốt chấn động thế giới trí thức hàn lâm chốn trời Âu Mỹ; thì những người Việt chống cộng lại rất cô đơn vì họ không thuộc giới học giả hàn lâm từng có nghiên cứu về (và hiểu) chủ nghĩa cộng sản, không có viết các tác phẩm vĩ đại về kết quả nghiên cứu trừ những bài viết bằng tiếng Việt “hù” người Việt về chủ nghĩa cộng sản chứ chưa hề có “công trình” nào bằng tiếng Anh được giới học thuật Âu Mỹ cho phép đứng vào vị trí “công trình nghiên cứu” có “giá trị”, nên do đó chỉ là thiểu số vô học (về triết thuyết “chủ nghĩa cộng sản”), bất hàn lâm (về triết thuyết “chủ nghĩa cộng sản”), phản học thuật (về triết thuyết “chủ nghĩa cộng sản”), không có khả năng chống lại một triết lý mà chỉ hành động như đám lưu manh chưởi bới đe dọa và chống lại những người tin vào chủ nghĩa cộng sản, mà như thế là vi phạm nhân quyền một cách nghiêm trọng, chà đạp tự do của người khác một cách thô bạo, hủy hoại ngôn ngữ (gọi người cộng sản là “khát máu”) một cách bỉ ổi, phơi trần tấm thân tệ hại với chiếc mồm quỷ biện xảo biện ngụy biện về cái gọi là “Việt Nam điêu linh” một cách đáng thương hại, đứng trên và ngập ngụa trong đống phân mà hùng hổ chỉ tay chưởi bới cái hôi thối nào đó của Cộng sản Việt Nam mà trong những kẻ đứng trong phân ấy có cả những “nhà tu hành” Mỹ gốc Việt, tức đám người ngợm không phải là công dân Việt.

“Bôi bẩn” tức “character asassination” là chiêu thức có đóng dấu cầu chứng tại tòa (trademark), có bằng sáng chế (patent) và có mang dấu ấn đặc thù Mỹ Quốc (americanist), được Mỹ bàn giao “chìa khóa trao tay” cho bè lũ chư hầu (underdog) – trong đó có chính quyền Sài Gòn của Việt Nam Cộng Hòa. Tay nghề của chúng rất cao, được tự động hóa hoàn toàn, như được minh chứng vào tháng 11-2011 khi Đại biểu Quốc hội Việt Nam Hoàng Hữu Phước phát biểu tại Quốc hội Việt Nam tranh luận về xuất xứ của ngôn từ “biểu tình” trong tương quan với tiếng Anh “protest demonstration” thì ngay ngày hôm sau bọn underdogs này đã tung lên mạng một bài viết cứ như là do “ông thầy” của đại biểu Phước viết để nêu các điều xấu xa của đại biểu này. Tất nhiên, ngay sau đó, thay vì phân bua cải chính, đại biểu Phước đã như bậc trưởng thượng có các bài viết trên emotino.com về các “thầy cô” thứ thiệt như Trương Tuyết Anh*, đặc biệt là thầy Nguyễn Quang Tô, người đoạt giải thưởng Phủ tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, cùng các bằng chứng bút phê ngợi khen của các bậc thầy cô này, biến các bài viết bôi nhọ thành hớ hênh và làm kẻ viết bôi nhọ phải chịu nhục nhã khi tự phơi trần tấm thân tồi tệ trước bàng dân thiên hạ…net. Từ việc một “ông thầy” (80 hay 90 tuổi) ngay trong ngày phát biểu của đại biểu Phước tung ngay lên mạng bài viết hùng hổ tấn công đại biểu này, mọi người đã có thể thấy ngay rằng đó là sự dối trá, và nếu suy ra thì tất cả – chứ không phải là phần lớn – những gì bọn chống cộng viết ra hay nói về để chống lại Đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam đều là rác rưởi, lếu láo, lừa bịp, và không bao giờ là thứ có giá trị tham khảo nghiêm túc. Huy Đức, dù chưa bao giờ là người “tài giỏi” để được giới chống cộng gốc Việt bàn giao bí kíp tu luyện thuật “bôi bẩn” kiểu CIA, cũng không ngu gì mà không biết cách lấy lòng chủ nhân, vì ngay như con mèo con chó còn biết cách ấy nữa là! Chỉ cần đọc tiếp các phần sau sẽ thấy rõ hơn sự non nớt mà Huy Đức đã phạm phải đến độ một nhà phân tích như ông cụ Lăng Tần vốn không phải là Đảng Viên Cộng Sản, đã vậy còn trong nhiều chục năm qua chuyên bị các bí thư đảng ở các cơ quan hay công ty nhà nước “đì”, ngăn chặn đường phấn đấu vào Đảng của cụ vậy mà cũng đã có thể vạch ra một cách dễ dàng.

2- Dối Trá Về Sự “Tuẫn Tiết” Của Các Tướng Lĩnh Việt Nam Cộng Hòa Năm 1975

Như nội dung tự khai của Huy Đức, y mới 12 hay 13 tuổi vào ngày giải phóng MiềnNam. Ở tuổi ấy, Huy Đức dứt khoát chưa thể nắm vững gì về từ vựng tiếng thuần Việt và tất nhiên không bao giờ biết quái gì về từ Hán Việt vốn của giới hàn lâm. Như đã nói, tôi 18 tuổi, có bạn học toàn lứa đôi mươi, nghĩa là có nhiều “người lớn” và tất nhiên nhiều người trong số họ nhập ngũ làm “chiến sĩ Cộng Hòa” hoặc là con em các sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Sự thật là ngày 28-4-1975 là ngày cuối cùng tôi gặp họ, vì với nội dung mà giọng nói hoảng hốt của họ qua phone cho biết thì cha cùng anh trai sĩ quan của họ đã đào ngũ bỏ trốn về Sài Gòn để “tử thủ” tại nhà nhằm bảo vệ vợ và các con gái không bị làm nhục (tức làm nô lệ tình dục cho bộ đội Việt Cộng) hay bị hành hình (sau khi dùng kềm rút móng tay móng chân), và sự bảo vệ này có nghĩa cả nhà sẽ hoặc uống thuốc độc hoặc viên sĩ quan sẽ dùng súng lục giết cả nhà rồi tự sát. Đây là lý do tôi không còn bất kỳ người bạn học nào, tất nhiên ắt có vài người vượt biển nhưng không bao giờ đến được bờ đối diện. Sự ngu xuẩn của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa khi đặt điều bôi bẩn Việt Cộng như “tàn ác, dã man, khát máu” với dụng ý khiến toàn quân toàn dân Miền Nam hết lòng tử thủ, không ngờ mang hiệu ứng phản ngược khi gây ra sự thất kinh hồn vía, hoảng sợ kinh hoàng, dẫn đến việc tướng run rẩy chạy trốn đường tướng, quân rụng rời chạy trốn đường quân, và dân đổ xô chạy theo quân theo tướng, gây ra bao thảm cảnh suốt đường đào tẩu, cũng như cái chết của thân nhân các tướng lĩnh dưới họng súng của chính họ. Tự sát vì khiếp sợ, vì bất tài trên chiến trường, vì bị Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đầu độc, thế mà gọi là “tuẫn tiết” ư? Chỉ khi có danh dự, tiết tháo, mới phải bảo vệ bằng cái chết (hoặc bằng sự sống để có thể mắng chưởi kẻ thù nơi pháp trường như anh hùng Nguyễn Văn Trỗi), và đó mới là tuẫn tiết. Sống mà buôn lậu ma túy ở Tam Giác Vàng, lập danh sách lính ma để hưởng tiền lương dôi dư, tạo danh sách lính kiểng cho con ông cháu cha vô quân đội hưởng nhàn, khi quân Mỹ rút hết mới lòi bộ mặt tướng lĩnh không biết đánh trận, đã vậy không quyết tử trên chiến trường đến viên đạn cuối cùng mà vất súng lột áo tuột quần bỏ hàng ngũ chạy trước, và cùng đường nên phải giết cả nhà rồi tự sát, thế mà là tuẫn tiết ư?

Nếu Huy Đức dùng từ “tuẫn tiết” chính xác cho các vụ tự sát của các tướng tá quân đội Việt Nam Cộng Hòa thì bất kỳ con người nào còn trí óc minh mẫn sẽ hiểu ngay lập tức rằng:

a) Huy Đức sẽ bảo tấm hình dưới đây cho thấy bĩnh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã tạo chướng ngại vật bằng cách vất bỏ quân phục, quân trang, quân dụng đầy đường nhằm ngăn chặn các đoàn xe tăng Việt Cộng, nhờ đó giúp các tướng lĩnh anh dũng của mình “tuẫn tiết” thành công sau khi giết sạch vợ con

 

b) Với trình độ ngôn từ của thằng nhóc 13 tuổi chưa từng biết thế nào là từ Hán Việt, Huy Đức sẽ bảo tấm hình dưới đây cho thấy quân đội Mỹ rất có uy lực tài chính qua việc thay mũ mỗi tháng một lần nên mũ đã qua sử dụng vất chất cao như núi, trong khi “phe thắng trận” tức là phe cộng sản cứ cho rằng đây là mũ của các binh sĩ Mỹ tử trận tại Việt Nam.

c) Với trình độ ngôn từ của thằng nhóc 13 tuổi chưa từng biết thế nào là từ Hán Việt, Huy Đức sẽ bảo tấm hình dưới đây cho thấy người dân Việt Nam Cộng Hòa thán phục sự “tuẫn tiết” của các tướng tá Việt Nam Cộng Hòa nên đã cho hàng ngàn xe đò đậu bít kín quốc lộ, ngăn chặn sức tiến công của Việt Cộng, nhằm bảo đảm các tướng tá Cộng Hòa “tuẫn tiết” thành công; trong khi “phe thắng trận” tức là phe cộng sản cứ cho rằng đây là cảnh tháo chạy tán loạn của dân khi thấy các tướng tá Cộng Hòa chưa đánh đã lo bỏ chạy kiếm tìm nơi “tuẫn tiết”

d) Với trình độ ngôn từ của thằng nhóc 13 tuổi chưa từng biết thế nào là từ Hán Việt, Huy Đức sẽ bảo tấm hình dưới đây cho thấy viên tình báo CIA Mỹ tài ba phát hiện một tên gián điệp cộng sản đang đu bám cửa máy bay trực thăng nên đã cho y một quả đấm thôi sơn văng xuống đất, trong khi “phe thắng trận” tức là phe cộng sản cứ cho rằng đây là sự bất nhân của nhân viên Mỹ khi thấy nhiều người dân Việt đu bám lên máy bay khiến có nguy cơ chậm chuyến cất cánh của y với bằng chứng là gương mặt hốt hoảng của người em trai khi thấy anh mình bị đánh văng xuống đất

e) Với tư cách đốn mạt chuyên bôi bẩn của kẻ chưa từng trưởng thành, Huy Đức sẽ bảo tấm hình dưới đây cho thấy viên sĩ quan Hoa Kỳ đang cười mãn nguyện đầy tự hào trước bức tường khắc tên tất cả các binh sĩ Mỹ tử trận trong anh dũng và vinh quang tột bậc tại Việt Nam; trong khi “phe thắng trận” tức là phe cộng sản cứ cho rằng đây là bức tường đau thương, nơi các cựu chiến binh Mỹ đến để tưởng niệm các đồng đội đã bị các tổng thống Mỹ vất vào chiến trường Việt Nam để phải chết vô nghĩa trong cuộc chiến phi nghĩa tại Việt Nam

f) Với tư cách hạ đẳng của kẻ chưa từng trưởng thành, Huy Đức sẽ bảo tấm hình dưới đây cho thấy sau khi bay thoát khỏi Việt Nam hạ cánh an toàn xuống hàng không mẫu hạm Mỹ, mọi người đã hè nhau đẩy tất cả các máy bay mang huy hiệu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa xuống biển như một “mưu trí tuyệt vời” nhằm tạo nên bẫy chông dưới đáy biển phong tỏa các chiến hạm cộng sản không thể truy sát chiến hạm Mỹ hoặc vượt biển tấn công Hoa Kỳ; trong khi “phe thắng trận” tức là phe cộng sản cứ cho rằng đây là do số lượng máy bay ra quá đông và người đào thoát quá đông, đến độ rất nhiều máy bay trực thăng sau khi ra đến nơi phải chờ đợi trên trời quá lâu đến độ hết xăng tự rơi xuống biển, nên Mỹ buộc lòng xô tất cả các máy bay đến trước xuống biển để có chỗ trống cho hàng trăm chiếc khác kịp thả người xuống tàu

 

g) Với tư cách hạ đẳng chuyên nói điều bá láp, ngụy tạo, Huy Đức sẽ bảo tấm hình dưới đây cho thấy người dân Sài Gòn đồng loạt xuống đường kéo ra Dinh Độc Lập chặn đường các chiến xa Việt Cộng để không cho truy đuổi tàn quân Việt Nam Cộng Hòa đang tháo chạy về các vùng chiến thuật ở miền Tây hầu cũng cố phòng tuyến sau khi các tướng tá Cộng Hòa đã “tuẫn tiết” hết; trong khi “phe thắng trận” tức là phe cộng sản cứ cho rằng đây là cảnh người dân Sài Gòn đón mừng đoàn quân giải phóng

h) Với trình độ học vấn thấp kém như thường thấy ở các gia đình bất hạnh, Huy Đức sẽ bảo tấm hình dưới đây là bằng chứng về sự “bất tài về quản lý kinh tế” của cộng sản với lý do người biết làm kinh tế sẽ không cho húc đổ cánh cổng rồi bỏ tiền ra hàn lại cánh cửa ấy; trong khi “phe thắng trận” tức là phe cộng sản cứ cho rằng đây là cảnh tỏ rõ thần uy mang tính biểu tượng cho sự xô ngã chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và dẫm đạp lên nó với sức mạnh chính nghĩa

Như vậy, nếu ghi theo kiểu “tuẫn tiết” của Huy Đức thì các bức tranh trên ắt sẽ được chua với nội dung khôi hài, bẻ gãy ngòi bút, xé toạt tờ giấy, bôi nhọ sự thật lịch sử mà việc bôi nhọ sự thật lịch sử chẳng khác nào tự trây trét phân lên mặt nhóc Huy Đức. Đó là chưa kể sự thật do các “phóng viên chiến trường” vào sinh ra tử của nước ngoài ghi lại nhưng luôn bị tay “nhà báo bàn giấy nhàn cư vi bất thiện” Huy Đức ngó lơ, chẳng hạn như cô gái sau tên Lê Thị Nhiếp ở làng Bình Khánh, Bến Tre, đã kể cho phóng viên Jones Griffiths biết Cô đã bị trúng bom napalm Mỹ lúc 3 giờ chiều ngày 09-4-1964 dù làng Cô không có Việt Cộng. Chẳng qua vì muốn “dương Đông kích Tây” nên không quân Việt Nam Cộng Hòa đã ném bom dữ dội tiêu diệt làng Cô để che dấu sự thật là đang thả biệt kích xuống làng bên cạnh để tấn công bất ngờ Việt Cộng đang thực sự có mặt tại đó. Cô nói Cô chịu đựng được cơn đau nhức dồn dập ngoài da và thấu xương, nhưng Cô không sao chịu đựng nỗi ký ức về hàng trăm xác chết trẻ em làng Cô chỉ trong một trận bỏ bom ngày đó. Tại sao không, nếu vị tướng tá có tài cầm quân với chiến thuật “dương Đông, kích Tây” ấy đã “tuẫn tiết” và có tên trong danh sách anh hùng anh dũng Việt Nam Cộng Hòa của Huy Đức?

Và cũng như vậy, nếu ghi theo kiểu “tuẫn tiết” của Huy Đức hủy phá ngôn ngữ thì ắt tên tướng Nguyễn Ngọc Loan của Việt Nam Cộng Hòa, con chó ghẻ điên dại mà thế giới văn minh Âu Mỹ ghê tởm và khinh miệt do đã mọi rợ xử tử một tù binh Việt Cộng như bức ảnh trong tờ báo mà người vợ của tù binh ấy đang nắm trong tay với đôi dòng nước mắt dưới đây, được Huy Đức viết tiếp trong tác phẩm tiếp theo của y là vị anh hùng anh dũng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chiến hữu vinh dự của các vị sĩ quan “tuẫn tiết” chăng?

Còn bức ảnh dưới đây cho thấy chiến xa hạng nặng tối tân M48A3 đã được Mỹ đưa vào sử dụng trên chiến trường Việt Nam, và Huy Đức ắt không thể nào giải thích được vì sao Mỹ vẫn thua phải rút khỏi Việt Nam trong ô nhục, và vì sao các tướng tá Việt Nam Cộng Hòa sau khi nhận bàn giao các phương tiện chiến tranh hiện đại đó lại phải … “tuẫn tiết”. Nghi vấn này chỉ có thể tìm được các câu trả lời chẳng hạn như các vị ấy “tuẫn tiết” do (a) lính Mỹ là lực lượng duy nhất chiến đấu trực tiếp với Việt Cộng nên khi nhận bàn giao, các tướng tá Việt Nam Cộng Hòa không biết phải sử dụng ra sao nên phải vất bỏ hết vũ khí rồi “tuẫn tiết” để mãi mãi không ai biết được sự thật là họ không biết đánh trận và không biết sử dụng vũ khí tối tân, do (b) bực tức trước kiểu bàn giao khí tài của Mỹ tức chỉ giao phương tiện chiến đấu mà không cung cấp tài chính để mua đạn dược cũng như không giao các bản hướng dẫn tháo ráp sử dụng do sợ lính Việt Nam Cộng Hòa trộm bán cho Việt Cộng khiến tiết lộ bí mật vũ khí hiện đại của Mỹ, do (c) vũ khí Mỹ thua xa vũ khí Liên Xô, hoặc do (d) Việt Nam Cộng Hòa và Mỹ hoàn toàn không có chính nghĩa trong cuộc chiến tranh vì Việt Nam Cộng Hòa điên cuồng phá hỏng tất cả các cuộc đàm phán hòa bình thống nhất đất nước dù Mỹ mong muốn bắt tay với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và vì Mỹ đã sai khi tiến hành chiến tranh ở Việt Nam. Thua be bét trên mọi bình diện thì sao mà có được cái gọi là “tiết tháo” để được phép dùng từ “tuẫn tiết” để ngang hàng với Bà Triệu, Bà Trưng!

Là người gian xảo, chắc chắn Huy Đức chưa dám hủy tình trạng công dân Việt Nam để có thể nhận được sự cứu giúp của Đại Sứ Quán Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng các Tổng lãnh Sự Quán Việt Nam ở các tiểu bang, vì rằng khi gọi những sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa đã “tuẫn tiết” ở Việt Nam, Huy Đức đã … “chưởi xéo” rằng các tướng lĩnh Hoa Kỳ đã hèn hạ tháo chạy như vịt khỏi Việt Nam chứ không dám “tuẫn tiết”, và “chưởi thẳng” tất cả các sĩ quan các cấp của quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã hèn hạ bỏ vũ khí, bỏ quân lính dưới quyền, bỏ quân phục, khiếp sợ chạy thục mạng về Sài Gòn để kịp cùng gia đình bám càng máy bay hay trèo lên tàu bè rời bỏ Việt Nam trong nhục nhã, mặc cho các tướng lĩnh khác ở lại “tuẫn tiết, “ xem ra Huy Đức đã làm việc ngu xuẩn nhất đời y (hay y đã…lập “đại công” với cộng sản Việt Nam?) khi rặn đẻ ra “tác phẩm” gián tiếp thóa mạ quân đội Hoa Kỳ và quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đến dường ấy, mà chỉ có kẻ ngu mới xem trọng như thánh thư.

Với tư cách công dân trưởng thành của Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn tất học vấn tú tài để bước vào Đại Học Văn Khoa, tôi khẳng định các vụ tự sát của sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn do tâm lý bấn loạn từ tất cả các tác động của sự tuyên truyền của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa luôn khiến họ bất an khiếp sợ, sự phẫn nộ trước việc mình bị bỏ rơi khi tổng thống cùng các quan chức chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trốn chạy khỏi Việt Nam, sự thất vọng trước hành động bỏ mặc của chính phủ Hoa Kỳ đối với đồng minh, sự ân hận trước những tội ác bản thân đã gây ra mà bản thân tin chắc sẽ không bao giờ được “bên thắng trận” tha thứ.

Với tư cách người dân sống tại khu Bàn Cờ, Quận 3, Sài Gòn, cùng với tất cả cư dân Quận 3, tôi đã chứng kiến hàng chục xe Jeep chạy vào ngõ trường Phan Đình Phùng đậu xe trước nhà Ba Má tôi và chàng trai trưởng thành 18 tuổi (chứ không phải 13 tuổi) Hoàng Hữu Phước đã đứng trước cửa cùng bà con lối xóm chứng kiến việc hàng chục sĩ quan cấp úy (bông mai vàng) và cấp tá (bông mai trắng) nhanh nhẩu nhảy xuống xe, cởi bỏ áo giáp và quân phục, cởi bỏ giày và nón sắt, tháo rời tất cả các súng tiểu liên và trung liên, ra sức bẻ gãy cơ bẩm của súng hoặc uốn cong rồi vất mạnh lên các mái nhà, trước khi hỏi xin quần áo cũ cùng dép của các hộ dân đang đứng nhìn, rồi cùng nhau theo hẻm nhỏ chạy bộ ra đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) để trốn về miền Tây. Đó là sự tháo chạy tán loạn trong kinh hoàng của các sĩ quan, bỏ mặc binh sĩ thuộc quyền “tử thủ” tại xa lộ và Cầu Phan Thanh Giản. Không bao giờ có cái gọi là tiết tháo nơi bọn sĩ quan cao cấp của Việt Nam Cộng Hòa: bọn chúng hoặc bỏ chạy thành công, hoặc tự sát khi cùng đường để tránh một cái đáng sợ hơn cả cái chết đó là sự trừng trị. Không phải tự nhiên mà Việt Nam hiện nay phải tổ chức canh chừng không để những tử tù đang chờ thi hành án thực hiện việc tự sát để tránh việc hành hình, vì rằng chính sự sợ hãi trước việc hành hình mới ghê sợ hơn cả cái chết. Những tên mà Huy Đức cho là “tuẫn tiết” chỉ là những kẻ phải tự sát vì kinh hãi trước ý nghĩ bản thân sẽ bị cộng sản xử tội.

Với tư cách một nhà giáo cao trọng và kiêu hãnh kiêu kỳ kiêu căng kiêu ngạo do là người duy nhất có trong tay thủ bút của một bậc tài hoa của Việt Nam Cộng Hòa ngợi ca “tài đức” lúc bản thân mới ở tuổi 14, 15, tôi đã từng dạy kèm tiếng Anh cho một gia đình ở quận 11 trong thời gian họ chờ sang Mỹ theo sự bảo lãnh của vị sĩ quan cấp tá, mà vợ của vị này kể với tôi rằng bà đã giằng lấy khẩu súng từ tay ông khi ông bắt bà cùng với bốn đứa con gồm ba gái một trai quỳ nơi phòng khách để ông giết hết, không để cộng sản làm nhục. Nhờ thành công trong việc tước được khẩu súng ném ra khỏi cổng nhà, cũng như nhờ vị sĩ quan không dám chạy ra ngoài nhặt lại súng do tiếng tiểu liên AK đặc biệt của Việt Cộng (tiếng nổ rất uy lực làm khiếp vía đối phương, trong khi tiểu liên M của Mỹ dường như “tôn trọng” thói lịch sự không làm ồn ảnh hưởng đến … nhà bên cạnh nên có tiếng nổ đạt chuẩn đề-xi-ben thấp) gây khiếp đảm đã rất cận kề. Viên sĩ quan này sau đó đã được vợ dắt tay đến “trình diện” tại Ủy Ban Quân Quản, được “học” về các chủ trương chính sách của cộng sản Việt Nam cũng như về ý nghĩa của hòa bình, thống nhất, mà chủ trương chính sách ấy đã cho thấy ba cô con gái xinh đẹp ở tuổi đại học của Ông vẫn còn nguyên trinh tiết (và đủ số móng tay móng chân), bản thân ông được về sống an bình tại ngôi biệt thự của Ông và sau đó sang Mỹ cùng đứa con trai (dù bất hợp pháp), còn vợ Ông ở lại chăm lo cho ba cô con gái vẫn tiếp tục học đại học mà không bị tước hộ khẩu, tước học bổng, tước tiêu chuẩn nhu yếu phẩm và lương thực, để rồi cả bốn người sau đó rời Việt Nam bằng đường hàng không (một cách hợp pháp) để đoàn tụ sum họp đại gia đình ở Mỹ. Tôi là người luôn luôn “nói có sách, mách có chứng” nên luôn luôn thắng bọn chống cộng nào viết linh tinh nhằm “bôi nhọ” tôi nhờ có các bửu bối trong tay để chứng minh về bản thân mình cả về tính liêm khiết và các đức tính khác cùng năng lực chuyên môn. Về nội dung ở đây, tôi còn giữ vài bức ảnh màu do tôi thực hiện bằng máy Zenith của Liên Xô với phim màu ORWO của Đông Đức chụp chung với ba chị em nói trên tại vườn hoa trong biệt thự của họ vào tuần lễ trước khi họ rời Vệt Nam sang Mỹ; song, nhưng do tôn trọng sự riêng tư về gia đình của các cô học trò này, nhất là khi nội dung có nêu sự việc người cha sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa của họ đã run sợ đến dường nào trong ngày giải phóng đến độ muốn ra tay sát hại cả gia đình, tôi sẽ không bao giờ bày ra bức ảnh đó để chứng minh “người thật, việc thật”, nhưng tôi biết rất chắc chắn rằng tôi được sự cậy tin của tuyệt đại đa số người đọc blog vì tôi luôn nói về sự thật và không gì khác hơn ngoài sự thật.

3- Dối Trá Về Sự Yếu Kém Của Giới Lãnh Đạo Đảng Cộng Sản Và Nhà Nước Việt Nam

a) Khi hùng hồn nói về “sự yếu kém” hoặc … ngu xuẩn của giới lãnh đạo Đảng và Nhà Nước Việt Nam, Huy Đức đã sủa nhặng lên về cái gọi là thời cơ kinh tế khi Cộng sản bỏ lỡ cơ hội vào WTO trước Trung Quốc vì “nhường” Trung Quốc, hay về những lời nói giữa các lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ, v.v. và v.v., mà có một tên Tiến Sĩ tên Quân thì phải hân hoan cho là đáng tham khảo mà không biết đã phạm một tội đại ngu mà không một tiến sĩ thực thụ nào phạm phải: đó là nguồn gốc xuất xứ các lời nói, các thông tin. Một thằng nhóc 13 tuổi ngày giải phóng 30-4-1975, tại một đất nước có các lãnh đạo bảo thủ cực kỳ xem trọng thứ bậc nội bộ (nghĩa là cởi mở với “dân” để “gần” dân, nhưng không bao giờ cho phép có sự tiếp cận của người “nội bộ” nào không ở cấp lãnh đạo hay cấp cao tương xứng), thì khi Huy Đức sinh sau đẻ muộn với thân phận một “nhà báo” đẳng cấp thấp (tiếng Miền Nam gọi là “quèn”) thì cách chi mà Huy Đức được ở gần các lãnh đạo đến độ “nghe” (nhưng không thể ghi âm làm bằng chứng) các lời đối thoại “động trời” giữa tất cả các vị ấy với nhau! Huy Đức đã cố tình “bôi bẩn” các vị ấy, mà vài điểm sau đây có thể dùng để khóa mõm Huy Đức, lôi hắn xềnh xệch từ chuồng ra ánh sáng văn minh của học thuật chân lý hàn lâm:

b) Khi nói nhăng nói cuội về WTO, Huy Đức đã cố tình hay thực sự ngu dốt không biết rằng (a) đó không là nơi ai muốn vào thì vào, cứ nộp đơn là xong. Chỉ có sự kiên trì cùng mức độ hùng biện “trên cơ” cộng với sức khỏe tuyệt luân, các nhà đàm phán Việt Nam mới buộc được phía Mỹ phải chấp nhận trong cơn ngủ gà ngủ gật vì kiệt sức do đoàn Việt Nam “làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm”; và rằng (b) ngay cả Mỹ cũng nhanh tay nhanh chân viện trợ cho Campuchia và cơ quan Lao Động Liên Hiệp Quốc cũng nhanh tay nhanh chân trút viện trợ ào ạt cho Campuchia hầu giúp nước này đạt các chuẩn mực về lao động, từ đó có khả năng thu hút, hớt tay trên các hợp đồng may mặc béo bở với khối EU; nghĩa là tất cả đều ra tay nhằm ngăn chặn Việt Nam tồn tại, phát triển. Tất nhiên sau đó, Mỹ mới nhận ra cái ngu xuẩn triền miên của mình là Campuchia phản phúc nghiêng theo Trung Quốc chứ không phải Hoa Kỳ, và do đó làm suy yếu vai trò của Mỹ ở khối ASEAN.

c) Khi nói nhăng nói cuội về sự yếu kém của Đảng Cộng Sản và Nhà Nước Việt Nam trong việc đề ra các chính sách kinh tế, Huy Đức đã rất dại dột lờ đi sự thật rằng (a) mấy chục năm nay bọn người Mỹ gốc Việt chống cộng đã luôn sủa về “vi phạm nhân quyền”, luôn kêu gọi “cấm vận Việt Nam”, luôn hô hào “tẩy chay kinh doanh với Việt Nam”, luôn tổ chức hết “đấu tranh võ trang phục quốc” tới “chuyển lửa về quê” và “diễn biến hòa bình”, hay “chuyển hóa” v.v. và v.v. nhằm lật đổ chế độ cộng sản Việt Nam; và (b) rằng một đất nước bị Mỹ cấm vận, bị bọn người ngợm gốc Việt chơi xấu tồi xấu tệ, thì nếu có khó ngóc đầu lên về kinh tế cũng là việc đương nhiên. Ấy vậy mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khiến thế giới phải “biết” về Việt Nam, điều mà không bất kỳ ai trong số các “nhân tài” của Việt Nam Cộng Hòa do Mỹ đào tạo và có học vị cao cấp của Mỹ có thể làm được điều tương tự cho các vị tổng thống của Việt Nam Cộng Hòa.

d) Khi nói nhăng nói cuội về sự yếu kém của Đảng Cộng Sản và Nhà Nước Việt Nam trong việc lãnh đạo đất nước hay trong đề cử những người ra lãnh đạo Đảng và Nhà Nước, Huy Đức và những tên tương cận đã chưa biết gì về sự thật mà tôi sắp nhắc đến trong phần số 4 bên dưới.

e) Khi nói nhăng nói cuội về sự yếu kém của Đảng Cộng Sản và Nhà Nước Việt Nam trong việc quản lý đất nước, Huy Đức và những tên tương cận đã dường như muốn “chưởi xéo” chính phủ Hoa Kỳ vì chính họ bất tài vô dụng khiến nước Mỹ lâm cảnh nợ nần, suy thoái kinh tế, đẻ ra “vách đá tài chính”, mất uy đối với thế giới, bị các nước Nam Mỹ thách thức, bị Trung Quốc dọa nạt, bị … cụ Lăng Tần nhạo báng bằng lời bất kính, bất trọng.

f) Khi nói với giọng miệt thị về các vị Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam, Huy Đức và những tên tương cận đã cố tình lờ đi một sự thật mang tính chân lý tối thượng là chính các vị ấy (a) được chính phủ Mỹ tôn trọng và trân trọng; (b) được nguyên thủ tất cả các cường quốc kinh tế tôn trọng và trân trọng; (c) có tài duy trì ổn định chính trị, phá tan tất cả các kế hoạch ác tâm của tất cả các nhóm chống cộng; (d) có tài xây dựng kinh tế nước nhà vượt qua thành công cuộc cấm vận kinh tế tàn khốc của Mỹ để trở thành một thực thể đáng kính đến độ ASEAN phải thay đổi sách lược, mời Việt Nam gia nhập khối, cũng như khiến Thái Lan không cho phép bọn chống cộng được tiếp tục sử dụng lãnh thổ Thái Lan để lập căn cứ chống phá Việt Nam; (e) có tài bảo vệ đất nước trong đập tan nát tất cả các chuyến xâm nhập của bọn chống cộng và các cuộc xâm lược của ngoại bang như Trung Quốc và Campuchia; và (f) có tài đưa Việt Nam thành nước đảm nhận các vị trí quan trọng của các tổ chức quốc tế.

4- Cộng Sản Việt Nam Đối Với Vấn Đề Trân Trọng Trí Thức Việt Nam Cộng Hòa Từ Ngay Sau 1975

Khi nói nhăng nói cuội về sự yếu kém của Đảng Cộng Sản Việt Nam do thiếu bóng dáng trí thức trong Đảng cũng như do chủ trương không xem trọng trí thức, Huy Đức và tất cả những tên tương cận đã ngu xuẩn tự vạch áo cho người xem lưng rằng họ không nằm trong đội ngũ trí thức, hoặc khi còn ở Việt Nam họ là thành phần đứng bên ngoài khu vườn trí thức, còn khi sang Mỹ họ cũng là thứ trí thứcimmature, unfinishhed,incapable do không biết gì về sự thật ở Việt Nam, hoặc thứ trí thức bất lương, bất khả tư nghị do cố bôi nhọ sự thật của Việt Nam – mà như thế thì đúng là thứ vất đi illiterate, treacherously parasitic good-for-nothing wretched.

Vì đứng vào hàng ngũ giảng viên Anh văn chính quy tại Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước tức vỏn vẹn vài năm sau giải phóng 1975, tôi đã chứng kiến bao cảnh…“bất công”. Trong khi tôi và các giảng viên khác hàng tháng lãnh lương “bèo”, mỗi tháng đứng xếp hàng với sinh viên nhận vài ký bo bo hoặc bột mì (về pha nước, vo viên thành cục, đem hấp, lấy ra cầm ăn với muối ớt y như gặm trái banh tennis), một cục thịt như nắm tay mà phần lớn là xương với xẩu, v.v., thì tất cả những người có bằng cử nhân của Sài Gòn trước 1975 hoặc bằng cao học (nay gọi là thạc sĩ) của Mỹ trước 1975 đều được nhận thêm một khoản tiền bồi dưỡng gọi là trợ cấp đãi ngộ trí thức cũ của Miền Nam, cùng các khoản phụ cấp khác, do mức độ trí thức của các vị này cao nên họ được bổ nhiệm làm lãnh đạo các phòng ban để có thêm phụ cấp chức vụ, v.v. Đất nước kiệt quệ bị Mỹ bủa vây cấm vận, bị bọn người Mỹ gốc Việt chống phá bằng vũ lực, bị bọn bá quyền Trung Quốc tung tiền giả phá hoại kinh tế, bị những vết thương loang lổ của chiến tranh làm đớn đau oằn oại, phải vật lộn với từng chuyến phân phối hàng nhu yếu phẩm nuôi sống toàn dân, ấy vậy mà Đảng Cộng Sản và Nhà Nước Việt Nam vẫn cố gắng gom góp chắt chiu từng nắm gạo và bớt xén chi tiêu ngay cả đối với các khoản lẽ ra dành phụng dưỡng mẹ cha các liệt sĩ, để cung cấp thêm cho các trí thức chế độ cũ được hưởng nhiều hơn, tốt hơn, yên tâm giúp nước, vì trí thức chính là cái mà Đảng và Nhà Nước Việt Nam xem trọng, luôn xem trọng, và luôn cần đến cho đại cuộc xây dựng nước nhà.

Ấy vậy mà thái độ của các nhà trí thức như thế nào? Thời chống Pháp, họ có thiên kiến và định kiến cổ hủ về quyền lực của họ trong trị quốc, nên tất nhiên đại đa số không ủng hộ các thứ liên quan đến giới “thất học cùng đinh” như của công nhân mà cộng sản tôn vinh, cổ súy. Thậm chí có những “nhà chí sĩ” làm những việc nhục quốc thể như viết sách rồi khóc lóc xin một danh nhân của Trung Quốc hạ cố viết lời giới thiệu, có vị lại tích cực liên lạc với quân phiệt Nhật với hy vọng quân đội Minh Trị Thiên Hoàng hạ cố đem quân sang Việt Nam giúp đánh đuổi quân Tây mà quên cái họa cõng rắn cắn gà nhà, v.v.; song, tất cả họ đều được tôn vinh do họ là những nhà nho, tức những người có học thức. Còn trong chiến tranh chống Mỹ, số trí thức gia nhập mặt Trận Giải Phóng MiềnNamkhông đông. Khi đã giải phóng thì số “trí thức” còn lại thì lần lượt rời Việt Nam hợp pháp hoặc bất hợp pháp, dù đã nhận được sự trân trọng của Đảng Cộng Sản và Nhà Nước Việt Nam. Điển hình ở trường Cao Đẳng Sư Phạm Hồ Chí Minh, số “trí thức” chế độ Sài Gòn có học vị Mỹ được trân trọng giao nắm quyền lãnh đạo Khoa Ngoại Ngữ và Ban Anh Văn thì lại có những hành vi bất xứng như “đàn áp” những “đồng nghiệp” nào do chế độ mới đào tạo nên; áp dụng những phương pháp chỉ làm nghèo đi khả năng học tập của sinh viên, chẳng hạn cho ra quy định các giảng viên không được nói tiếng Anh với sinh viên bên ngoài giảng đường (tất nhiên đây không là “chủ trương” của cộng sản vì chính cộng sản ra sức tổ chức các khoa ngoại ngữ và cung cấp đầy đủ báo chí và sách vở tiếng Anh), không cho giảng viên sửa bài hoặc sửa tiểu luận hay luận văn tốt nghiệp của sinh viên với lập luận rằng việc sửa sai giết chết nỗ lực tự học của sinh viên; và chủ động cấm giảng viên không được sử dụng sách vở tài liệu của Mỹ dù lúc các giảng viên đồng nghiệp trẻ này khi ở đại học của “Cộng sản” đã được học tất tần tật về các tác phẩm của William Shakespeare, Charles Dickens, Edgar Poe, John Steinbeck, Abraham Lincoln, v.v. và v.v. Việc làm của các “trí thức” đó khó thể không bị “hiểu nhầm” là đang ra sức chống phá chế độ, ngăn cản việc hình thành lớp trí thức trẻ giỏi giang giúp nhà nước cộng sản.

Với thân phận người ViệtNam, việc được học để trở thành nhà trí thức không phải là điều giản đơn. Vào thời Pháp thuộc, những “nhân tài” nào được cho sang Pháp du học mà lại có khuynh hướng không chịu cúc cung tận tụy về nước làm tay sai cho Pháp thì bị Pháp dùng thuốc độc khiến thành kẻ tâm thần, về nước không còn ra hình hài một con người như trước lúc xuất dương. Trong thời của Việt Nam Cộng Hòa thì mọi người du học đều được điểm hữu nghị để trở về nước dễ dàng ngồi vào ghế lãnh đạo các trường đại học, các viện, các cơ quan (đây là lý do các “trí thức” chế độ cũ là giảng viên ở Cao Đẳng Sư Phạm Tp Hồ Chí Minh có trình độ tiếng Anh rất thảm hại), còn sinh viên nào thích tuyên bố chống chiến tranh thì bị trừng trị, như trường hợp Nguyễn Thái Bình khi tốt nghiệp về nước, sau khi đáp xuống Phi trường Tân Sơn Nhất đã bị một hành khách Mỹ rút súng hạ sát ngay trên máy bay, với lý do đưa ra rằng Nguyễn Thái Bình là không tặc định cướp máy bay ra Hà Nội, dù máy bay đã hạ cánh, dù không có việc dùng vũ khí cướp máy bay, dù không ai được mang súng lên máy bay, và dù hạ sát bằng nhiều phát súng không phải là cách làm của một “công dân Mỹ” tình cờ “phát hiện không tặc” khi tên không tặc ấy không cầm vũ khí gì cả. Vị “công dân Mỹ” sau đó lộ nguyên hình là nhân viên CIA Mỹ vào thời điểm các hãng hàng không chưa có áp dụng việc bố trí nhân viên an ninh “nhà nước”, chưa cho phép mang vũ khi lên máy bay và nổ súng trên máy bay.

Như vậy, khi những trí thức muốn tự do theo cộng sản, họ bị sát hại, khiến cộng sản khó thể có nhiều nhà trí thức giúp sức khuông phò xã tắc.

Như vậy, khi cộng sản ra sức chiêu hiền đãi sĩ trân trọng trí thức chưa muốn theo cộng sản, họ chỉ nhận được hoặc sự phá hoại, hoặc sự giúp sức của chỉ vài bậc anh tài, trong đó có giáo sư tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh, Thống Đốc Ngân Hàng Việt Nam Cộng Hòa, Phó Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa, Đại Biểu Quốc Hội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Ủy Viên Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Cố vấn Kinh tế cho Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt.

Do Pháp dùng chính sách ngu dân, số lượng người được đi học không bao giờ là số đông. Và cũng do vậy, những nhà cách mạng cộng sản đương nhiên khó thể nằm trong số người không đông ấy. Họ cần sự giúp sức của những nhà trí thức, và họ nhận thức được tầm quan trọng của những nhà trí thức trong đại cuộc phát triển kinh tế, xây dựng đất nước, do chính họ lãnh đạo.

Mãi lải nhải về cái gọi là sự đối chọi với tầng lớp trí thức chỉ là một cố gắng trong vô vọng nhằm làm nhục những người cộng sản Việt Nam với dụng ý ngây ngô nhưng ác hiểm rằng nếu anh ghét trí thức, ắt anh là thất học, suy ra cộng sản là quân thất học, và suy ra tiếp theo là cộng sản chỉ làm đất nước nghèo đi vì thất học chả biết gì về làm kinh tế cả.

Cái ngụ ý thâm hiểm tàn độc bất nhân và bất lương bất hảo là ở chỗ đấy.

C) Người Dân Và Công Dân

1- Đại Ngu Chống Hồ Của Tiền Nhân

Ôn cố, tri tân. Nói về sử, ắt phải nói cho đúng, và ắt phải theo bài bản rằng học ôn điều cũ để chiêm nghiệm xem nên làm gì với tình hình mới đang diễn ra trong cuộc sống của đất nước và dân tộc.

Tiền nhân Việt Nam đã có lần “đại ngu” khi chống Nhà Hồ, lúc Hồ Quý Ly triệt hạ Nhà Trần để lên ngôi vua năm 1400 lập nên nước Đại Ngu. Những chủ trương chính sách “lạ thường” dồn dập của Nhà Hồ như phát hành tiền giấy, cấm dùng tiền đồng, tăng thuế tô, áp dụng hạn điền và hạn nô làm động đến lợi ích của giới địa chủ và quý tộc, nhún nhường hết mức với nước Tàu thậm chí đã phải cắt 59 thôn ở Lạng Sơn để mong tránh cho đất nước lâm cảnh chiến tranh, thay đổi chế độ thi cử nhân, không tôn sùng đạo Phật mà quay sang xem trọng Nho giáo, v.v., khiến nhiềungười dân không ủng hộ Nhà Hồ, cộng thêm sự kêu gọi lật đổ chế độ của nhiều thế lực đã khuyến khích Nhà Minh xua quân sang đánh năm 1406 làm Nhà Hồ sụp đổ, toàn bộ gia quyến Hồ Quý Ly bị bắt về Tàu, còn nước Việt lại mang gông cùm xiềng xích bị Tàu đô hộ tiếp sau 500 năm giành được quyền tự chủ.

Chống Hồ rõ ràng đã là cái sai tệ hại và ngu xuẩn của tiền nhân Việt vậy.

2- Đại Ngu Chống Cộng Của Cận Nhân

Tất nhiên ở đây nói về nước Việt nên không nhắc đến cái đại ngu thứ nhất của Tổng Thống Hoa Kỳ năm 1946 khi từ chối sự mở lòng của Chủ tịch Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh muốn thiết lập bang giao với Mỹ và kêu gọi sự giúp đỡ của Mỹ, hay cái đại ngu thứ hai của Tổng Thống Hoa Kỳ khi kéo dài sự hấp hối của Việt Nam Cộng Hòa dẫn đến cuộc rút quân trong ê chề của chính quân đội Hoa Kỳ cùng sự tháo chạy tán loạn và nhục nhã của quân đội Việt Nam Cộng Hòa cùng các cố vấn quân sự Hoa Kỳ năm 1975, hoặc cái đại ngu thứ ba cũng của Tổng Thống Hoa Kỳ khi tập trung cấm vận hòng làm suy yếu Việt Nam đồng thời viện trợ làm Campuchia nhanh chóng mạnh lên để rồi chính Campuchia trở mặt làm bẽ mặt chính Tổng Thống Hoa Kỳ năm 2012 tại hội nghị thượng đỉnh khối ASEAN.

Vậy thì, cái đại ngu của cận nhân, tức những người gần đây đang hô hào chống phá ViệtNamlà như thế nào?

Dù rằng mỗi dân tộc đều có những yếu điểm riêng, chẳng hạn dân Scotland mang tiếng hà tiện cực kỳ, dân Mỹ mang tiếng điên điên hết cỡ, v.v., thì không thể không nói đến một tính xấu xa của một bộ phậnrất lớn người gốc Việt, đó là ăn không được thì phá cho hư. Bọn người Mỹ gốc Việt có lòng căm thù bịnh hoạn đối với cộng sản mà không trên cơ sở của chân lý và/hay của nghiên cứu học thuyết hàn lâm như đã nói ở phần B.1 ở trên, đã luôn sẵn sàng bán đứng Việt Nam cho Trung Quốc qua việc tích cực điên cuồng chống phá Việt Nam hòng làm Việt Nam suy yếu, mở đường cho Trung Quốc tấn công tiêu diệt cộng sản Việt Nam. Những bài viết nhăng viết cuội toàn những điều tưởng tượng không bằng không chứng về lãnh đạo này, lãnh đạo kia, về phát hiện này, phát hiện nọ, cư như thể Cộng sản Việt Nam không thể có bất kỳ cái gì hay ho, cái gì đẹp đẽ, cái gì cao trọng. Những kẻ cởi truồng vất bỏ quân phục quân trang quân dụng khóc lóc khiếp sợ kinh hoàng chạy về phương Nam từ tất cả các chiến trường ở tất cả các quân khu, nay hèn hạ ẩn dưới những tên giả và sử dụng phương tiện blog “chùa” để viết bậy bạ xảo trá về lãnh đạo Việt Nam, với hy vọng mong manh rằng nếu vũ khí hiện đại của Mỹ đã không thắng được Cộng sản Việt Nam thì vũ khí blog bậy bạ thối hôi bôi bẩn lãnh đạo Việt Nam sẽ phát huy tác dụng để Trung Quốc trả thù thay họ, tiêu diệt Việt Nam, làm Hồ Chí Minh phải như Hồ Quý Ly.

Cái đại ngu của bọn cận nhân này là ở chỗ ViệtNamkhông bao giờ đánh giá cao kiểu tấn công hèn hạ qua blog nhảm nhí của bọn bại trận.

Cái đại ngu của bọn cận nhân này còn là ở chỗ chúng không thể kiếm ra bất kỳ ai đáng mặt anh hào chịu cộng tác với chúng, nên chúng bị hố khi vội vàng tung hô Cù Huy Hà Vũ để rồi mới vỡ nhẽ ra rằng ngay tại Việt Nam hắn ta còn bị người dân có hiểu biết gọi là “thằng điên” do hắn khiếu nại việc Chính phủ không cho hắn ứng cử vào chức Bộ Trường Văn Hóa Thông Tin, vì lẽ nào là “luật sư” hắn không hiểu rằng ở các nước không có vụ “ứng cử” như thế, còn ở Việt Nam có luật hẳn hoi là các Bộ Trưởng do Thủ Tướng đệ trình danh sách để Quốc Hội chuẩn y; hoặc như vội vàng tung hô Lê Công Định để rồi đắng cay lắng nghe lời thú tội “hết sức chân thành và đầy hối lỗi” của y, v.v. và v.v. Chơi bóng đá mà đòi cho đá bóng vòng ra sau lưng cầu môn với lý do bóng tennis luôn có giá trị ghi bàn khi đã qua bên kia lưới! Luật sư Việt Nam mà đòi theo luật này luật nọ của ngoại bang thì chỉ là bọn ngu xuẩn, điên loạn mà thôi, và chỉ có bọn chống cộng mới luôn muốn hốt mấy thứ rác đó để đổ lên đầu cộng sản Việt Nam. ViệtNamkhông bao giờ đánh giá cao kiểu tấn công hèn hạ qua blog nhảm nhí của bọn bại trận.

3- Hãy Tỉnh Giấc! Quân Giặc Đã Ở Ngay Trước Thềm!

Giặc Tàu cực kỳ thâm hiểm với các quyển binh thư của tổ tiên mà chúng tự hào. Gây hấn ở Biển Đông có thể là chiêu “dương Đông, kích Tây”, hoặc “điệu hổ ly sơn”. Người dân Việt cần lưu tâm đến sự thật là ở Lào đang có những “thành phố” Tàu mọc lên sát biên giới ViệtNammà Tàu thuê trong hàng trăm năm. Trong tình hình nước Lào có thưa thớt dân cư, thì việc Tàu sẽ trao lại các “thành phố” ấy cho Lào khi đến hạn chỉ mang ý nghĩa tượng trưng nhất thời, nếu không muốn nói sự sinh sôi nảy nở của dân Tàu tại đấy sẽ đồng nghĩa với việc biên giới nước Tàu sẽ tiếp giáp Việt Nam từ phía Tây sau khi đồng hóa và xóa tên Lào khỏi bản đồ thế giới chỉ sau vỏn vẹn vài năm mà ai cũng có thể đếm được trên duy chỉ một bàn tay đủ ngón.

Kéo dài thêm vùng biên giới ấy xuống tận biển Phú Quốc, Tàu hiện đã có 1.000.000 người nhập quốc tịch Campuchia, và đang tung tiền mua đất sát biên giới Việt Nam, trên danh nghĩa lập các đồn điền cao su. Tại một xứ sở có 5 triệu dân, đoàn quân 1 triệu người Tàu này đang hoàn tất việc kéo dài biên giới Tàu xuống tận miền cực nam của bán đảo Đông Dương.

Hỡi các bạn, hãy cảnh giác với khả năng giặc Tàu xâm lược tấn công ta từ phương Tây, tức là từ Lào và Campuchia. Việc Campuchia phá hỏng hội nghị ASEAN bằng cách từ chối việc ký thông cáo chung về Biển Đông đã phát ra tín hiệu rất rõ ràng là ASEAN đang tồn tại một con ngựa thành Troie. Nguy hiểm nhất là khi con ngựa ấy ở sát ViệtNamvà đang ra sức kích động hận thù dân tộc qua việc chính thức treo tại các điểm tham quan du lịch chính thức những tấm bản đồ vẽ ViệtNamchỉ kéo dài đến vùng Quảng mà thôi.

Tập trung đông người để thể hiện “lòng yêu nước” trước việc gây hấn của Tàu ở Biển Đông tất nhiên không bao giờ là điều đúng để làm vì đã bỏ quên phía Tây mà giặc có thể tràn qua nhanh chóng so với các tấn công từ các hạm đội của kẻ thù ở phương Đông, cũng như hiểm họa từ phương Bắc do giặc Tàu tất nhiên biết rút kinh nghiệm từ thất bại chua cay kỳ tổng tiến công tràn ngập toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta sau năm 1975. Trận chiến trên biển luôn là trận dễ dàng vì quân thù bị bó rọ bên trong các chiến hạm, và sau khi chiến hạm bắn hết đạn và máy bay ném hết bom trở về hàng không mẫu hạm, thì dù trên đất liền chịu tàn phá từ số lượng đạn bom, ta vẫn có thể ung dung tấn công nhấn chìm các chiến hạm hết đạn và các hàng không mẫu hạm hết bom của giặc. Tàu cũng biết thế, nên sự giương oai diệu võ của giặc Tàu khét tiếng thâm hiểm này tại Biển Đông dứt khoát không phải là mặt trận chính mà chỉ để ViệtNammất cảnh giác do chỉ tập trung về Biển Đông. Chỉ có xua quân tràn qua biên giới phía Bắc cùng lúc với từ phía Tây (việc mà Tàu đã nhận ra họ ngu đã không áp dụng lúc tấn công Việt Nam sau 1975 nên Việt Nam ra tay đánh bại Tàu, và lúc Khmer Đỏ tấn công Việt Nam từ phía Tây, Việt Nam đã có thời gian đánh tan, đánh bại, đánh chiếm toàn bộ lãnh thổ Campuchia từ tay Khmer Đỏ để trao lại cho chính phủ cách mạng Campuchia), chứ Tàu sẽ không gây chiến tranh thực thụ ở Biển Đông! Mà nếu Tàu nổ súng ở Biển Đông, đó là hành động theo sách mà các đoàn chiến đấu cơ Skyraider của Việt Nam Cộng Hòa rải bom napalm tiêu diệt làng Bình Khánh của Bến Tre để thực hiện thành công việc thả biệt kích đánh bất ngờ làng khác, nơi có đoàn quân Việt Cộng thực sự trú đóng. Hãy để các chiến hạm Mỹ, Ấn Độ, Úc, Philippines, và Nhật Bản ra tay với hải quân Trung Quốc. Hãy để các chiến hạm ViệtNamhiện diện như khẳng định chủ quyền biển đảo quốc gia. Và hãy tập trung cảnh giác cao độ đối với các mối đe dọa từ phía Tây, vì các chiến hạm của giặc Tàu chỉ có thể bắn phá vài tỉnh ven biển, trong khi lục quân và không quân từ nội địa có thể nhanh chóng tàn phá thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh nhằm tiêu diệt nhanh bộ não chỉ huy của cả nước, phá hủy cơ sở lãnh đạo của dân tộc Việt Nam. Đừng để bị lừa bịp quá dễ dàng do ngây thơ trước các hù dọa của giặc Tàu và trước các kích động của bọn chống cộng ở hải ngoại với chiêu bài “bày tỏ lòng yêu nước” hay “đảng cộng sản Việt Nam bán nước”. Hãy nhớ cái đặc tính dân tộc đáng nguyền rủa của người gốc Việt: “ăn không được thì phá cho hư”!

Là người dân, bạn có những quyền lợi để đòi hỏi được hưởng.

Là công dân, bạn có những nghĩa vụ phải thực thi.

Tuyệt đối ủng hộ chính phủ, phá tan các tuyên truyền bẩn thỉu từ bọn tay sai Trung Quốc như Huy Đức và những tên tương cận, là những nghĩa vụ mà người công dân phải thực hiện để bảo vệ đất nước trước giặc Tàu.

D) Kết Luận: Công Dân Và Đẳng Cấp Công Dân

Đất nước Mỹ hùng cường nhờ họ có nhiều công dân ở đẳng cấp cao

Một đất nước hùng cường luôn nhờ vào viêc họ có nhiều công dân đẳng cấp cao hay không.

Đẳng cấp cao không có nghĩa là ở học vị tiến sĩ, vì trên toàn thế giới có vô số bọn tiến sĩ loại vất đi giá không đáng một xu (they are not worth a tinker’s dam) hoặc một xu mua được cả tá (they are a dime a dozen).

Đẳng cấp cao là ở chỗ có khả năng nhìn vấn đề trên quy mô toàn cục, biết nhận ra ngay đâu là cái đáng đọc, đáng nghe, đáng xem, đáng nhớ, đáng tiếp thu để thực hành thực hiện thực thi. “Tác phẩm” của Huy Đức không bao giờ là cái cái đáng đọc, đáng nghe, đáng xem, đáng nhớ, đáng tiếp thu để thực hành thực hiện thực thi; do đó hãy đọc để phát hiện cái sai quấy của chính y, cái ấu trỉ của chính y, cái thâm ý của chính y, cái trình độ đá cá lăn dưa đầu đường xó chợ của chính y, vì rằng có khi phải nhìn phân để còn báo động cho người khác khỏi phải dẫm vào.

Một tên tử tù trong thời gian chờ thi hành án do hiếp dâm trẻ nít, nếu có một họa phẩm xuất sắc, y có thể được ngợi khen, bán được bức tranh với giá cao, nhưng điều đó hoàn toàn không tự động mang ý nghĩa rằng y là kẻ tốt đẹp, vô tội và không phải bị pháp luật trừng trị. Huy Đức có thể viết một hay hai bài báo nào đó xuất sắc lúc ở Việt Nam, điều đó hoàn toàn không có nghĩa y đã tiếp cận tất tần tật mọi vị lãnh đạo của Việt Nam qua các thời kỳ, đã như con ruồi Tôn Hành Giả để bay vào nghe lén được các cuộc trò chuyện của các lãnh đạo ấy, hay có danh dự cá nhân để được tôn trọng bởi người tôn trọng đạo đức, có đạo hạnh, và tôn thờ đạo lý.

Việc một tên Tiến sĩ gốc Việt viết lời bình nhưng thật ra toàn là tóm tắt “tác phẩm” của Huy Đức, còn lời bình thì chỉ ghi rằng đó là tác phẩm chứa chất những sự thật rất đáng để tham khảo và hiểu hơn sự thật về cộng sản, thì sự công nhận nhanh chóng của y rằng đó là sự thật mà không trên nguyên tắc nghiêm ngặt của hàn lâm thì e tên tiến sĩ ấy đã bỏ tiền ra mua bằng cấp tiến sĩ chứ y chưa hề biết đến việc viết luận văn tốt nghiệp đại học, nói chi đến luận án tiến sĩ.

Tóm lại một cách hình tượng hơn: khi dân tộc bị thực dân đẩy xuống đáy vực sâu, có những người dùng đủ mọi thứ vật liệu sẵn có để làm các bậc thang, từ đá, sỏi, đất sét, đến cây gỗ quý, cây gỗ thường, dây đai, cỏ bện, quần áo cũ, v.v., thậm chí kể cả chính thân thể của họ để làm thành phương tiện để người dân từ đáy vực sâu có thể dẫm đạp lên các bậc ấy mà ngoi dần lên miệng vực. Tất nhiên còn phải kể đến những bọn phá hoại từ những bụi rậm trên triền núi đâm vào hông những ai tạo nên chiếc thang ấy. Những người lên đến miệng vực bắt đầu hình thành các nhóm tư cách:

– ai đứng ngắm trời cao đẹp rồi chạy về phía ánh sáng huy hoàng ở đàng xa thì đó là kẻ vất đi, vô tâm, vô ơn, vô giáo dục

– ai đứng ngắm trời cao đẹp rồi nhìn xuống thốt lời chê bai chiếc cầu thang với bao tính từ như: kỳ dị, quái gở, tức cười, ngô nghê, rẻ tiền, thì đó là kẻ ăn cháo đái bát, bất lương, vô hạnh

– ai đứng ngắm trời cao đẹp rồi nhìn xuống vừa thốt lời chê bai chiếc cầu thang với bao tính từ như: kỳ dị, quái gở, tức cười, ngô nghê, rẻ tiền; vừa ném đá lên đầu những người làm thang bên dưới thì đó là kẻ thua cả loài súc vật

– ai đứng nhìn trời cao đẹp rồi nhìn xuống thốt lời cảm ơn chiếc cầu thang rồi dùng đá ném vào bọn phá hoại đang núp trong các bụi cây hai bên “cầu thang”, thì đó là người công dân lương thiện

– còn ai đứng nhìn trời cao đẹp rồi ngồi xuống bên cạnh miệng vực sâu, hoặc bện các dây chão chắc chắn thả xuống kéo “cầu thang người”, hoặc thả chuyền xuống những đá tảng cùng xi măng để “cầu thang người” xây dựng những bậc thang vững chắc hơn để thoát lên miệng vực an toàn, tất nhiên không thể thiếu những lời hét lên nhắc nhở tránh né những hiểm nguy từ bọn phá hoại tấn công từ hai bên, v.v., thì đó là người công dân đẳng cấp cao.

Hưởng thụ cuộc sống trong cảnh hòa bình trong xã hội đầy tiện nghi vật chất, lại thốt lời chê bai chế độ, chống phá chính phủ, đó là hành vi của kẻ vất đi, vô tâm, vô giáo dục, bất lương, vô hạnh, thua cả loài súc vật.

Hưởng thụ cuộc sống trong cảnh hòa bình trong xã hội đầy tiện nghi vật chất, luôn biết ơn những ai đã giữ được thanh bình cho đất nước, lập nên những kỳ tích để đất nước được vinh danh trên các diễn đàn chính thức chính quy chính đạo của thế giới, đó là hành vi của những công dân có đạo đức, có giáo dục.

Hưởng thụ cuộc sống trong cảnh hòa bình trong xã hội đầy tiện nghi vật chất, ra sức học tập tích cực phục vụ đất nước với tư duy trưởng thành, trách nhiệm bậc trưởng thượng, và nhận thức thông minh thông thái đến sự an nguy của đất nước trước các hiểm họa, đó là tư thế của người công dân đẳng cấp cao, tiền đề tạo ra cường quốc.

Các bạn hãy là công dân đẳng cấp cao để đừng bị bọn vô lại xem như những con thỏ dễ bị tóm hai tai hay con cừu con chiên mà cái sự được chăn dắt chẳng qua chỉ để phục vụ việc cạo lông và lấy thịt.

Theo: Việt hải ngoại Online

Categories: Nhân dân Việt Nam | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

THANH NIÊN VIỆT NAM NGƯỜI CHỦ TƯƠNG LAI CỦA ĐẤT NƯỚC

Tác Giả : John Lee – VHN.NET

Trong cuốn sách “1999 – chiến thắng không cần chiến tranh”, Ních-xơn cựu tổng thống Mỹ đã xác định rằng: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”. Trên lĩnh vực tư tưởng, các tổ chức thù địch và bọn phản động lưu vong tập trung phản kích, phủ định nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là hoạt động mũi nhọn, đột phá để thực hiện ý đồ chiến lược làm chuyển hóa từ bên trong và bên trên của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Đánh phá vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nhằm phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng và của xã hội Việt Nam, tạo ra một “Hoài nghi” và “xét lại” những gì mà cả một quá trình lịch sử chói lọi và bi hùng dân tộc này đã trải qua với những câu hỏi lập lờ “Đúng hay không”? “Nên hay không nên”? trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho những ý đồ phân rã một xã hội đồng thuận mất hết khả năng “Đề kháng” trước sự tấn công từ nhiều hướng của các thế lực chống phá đất nước.

Việt Nam là nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở khu vực Đông Nam á, Không khuất phục được nhân dân Việt Nam bằng vũ lực, chủ nghĩa đế quốc, các thế lực phản động, thù địch thay đổi phương thức, thủ đoạn, dùng “diễn biến hòa bình” kết hợp bạo loạn lật đổ để chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đặc biệt, sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, đất nước Việt Nam đã không sụp đổ theo, mà ngược lại, đã đổi mới thành công, vững bước tiến lên trong một thế giới đầy biến động. Điều đó đã làm cho họ thất vọng. Về mặt địa lý, trong quan hệ quốc tế, Việt Nam có một vị trí hết sức quan trọng về địa – chính trị, địa – kinh tế và địa – quân sự. Do vị trí đó, sự tiếp tục tồn tại và phát triển của một nước xã hội chủ nghĩa và của một Đảng Cộng sản cầm quyền ở Đông Nam á làm cho các lực lượng chống cộng tìm mọi cách để chống phá hòng làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa,, làm tan rã Đảng Cộng sản Việt Nam.

Để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực chống cộng tìm mọi cách du nhập lối sống, đạo đức, văn hóa tư sản vào Việt Nam, làm cho văn hóa của chúng ta đi chệch mục tiêu, lý tưởng yêu nước và chủ nghĩa xã hội, phá hoại, làm xói mòn nền tảng và các giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đặc biệt là thế hệ trẻ, nhằm tạo ra một thế hệ sống theo chủ nghĩa thực dụng,mất gốc, thích ăn chơi, vụ lợi, vị kỷ, và sẵn sàng “Xét lại quá khứ” của ông cha”… các lực lượng phản động bên trong và bên ngoài phối hợp với nhau để đưa một số lượng lớn tài liệu, sách báo, tờ rơi, băng hình, băng nhạc có nội dung phản động, đồi trụy vào Việt Nam. Đặc biệt, trên mạng in-tơ-net, chúng đưa nhiều thông tin sai lệch, bịa đặt, lấp lửng, gật gân để nhiều người trẻ truy cập và mời chào tham luận làm ra vẻ “Vô tư, khách quan” và luôn thòng theo một câu “chúng tôi tôn trọng ý kiến cá nhân” ?. Chúng khoét sâu vào những vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong xã hội được báo chí trong nước đăng tải hướng luồng dư luận vào những vụ việc này để kích động lớp trẻ bất mãn với cái chúng gọi là “Thảm trạng của đất nước”?! qua đó đã có những tác động rất xấu đến nhận thức, tình cảm, văn hóa, lối sống của một bộ phận giới trẻ là cư dân mạng.

Thanh niên là lực lượng xã hội có vị trí, vai trò to lớn, là rường cột, là người chủ tương lai của đất nước, là nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc “nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên”. Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng CSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giành sự quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục bồi dưỡng toàn diện cho thế hệ trẻ, động viên, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của thanh thiếu niên, đóng góp vào sự nghiệp cách mạng. Đảng đã thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, coi trọng công tác giáo dục cho thanh thiếu niên, coi đây là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa to lớn, rất quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, khả năng sẵn sàng thực hiện thắng lợi công cuộc bảo vệ Tổ quốc cho thế hệ tương lai của đất nước.Trên các trang mạng chống phá Việt Nam, bọn phản động lưu vong và cái gọi là “Nhà dân chủ” trong nước tập trung mọi cố gắng để chứng minh sự “lỗi thời” của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng còn vu cáo Đảng ta đã “đem chủ nghĩa Mác – Lê-nin áp dụng máy móc, gượng ép vào Việt Nam”, đồng thời quảng cáo cho mô hình “xã hội dân chủ”. Chúng nuôi dưỡng, kích động các khuynh hướng cơ hội, kiểu như “dám nghĩ, dám làm” … trong giới trẻ nhằm tạo ra sự đối lập với hệ tư tưởng của thế hệ cha ông đang theo đuổi từ đó tạo ra sự xung đột trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm, giữa các thế hệ.

Khu vực Đông Nam Á trở thành tâm điểm thu hút sự quan tâm và gia tăng ảnh hưởng của các nước lớn, đồng thời xuất hiện những nhân tố bất ổn mới. Trong nước, các thế lực thù địch và bọn phản động đang ra sức chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ dưới nhiều hình thức, thủ đoạn nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động, lôi kéo nhân dân, thanh niên tham gia biểu tình… trong đó, chủ yếu tập trung vào giới trẻ, hòng lung lạc niềm tin của thanh niên với Đảng, gây mất ổn định chính trị xã hội đất nước, tiến tới làm thay đổi chế độ chính trị XHCN ở Việt Nam. Vì vậy, tăng cường công tác giáo dục cho thanh thiếu niên là yêu cầu tất yếu, cấp bách, là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Đặc biệt là Mỹ yêu cầu Việt Nam mở của dịch vụ giáo dục không hạn chế nhằm từng bước tác động làm thay đổi tận gốc nhân cách của học sinh, sinh viên theo định hướng giá trị toàn cầu về mọi mặt của họ để cuối cùng là thu hút, lôi cuốn một bộ phận đáng kể những thành viên có năng lực nhất của Việt Nam nghĩ như họ, làm theo họ, mà họ đang muốn làm ông chủ của toàn bộ thế giới này. Cách triển khai ý đồ được che đậy tinh vi. Rất tiếc là trong chúng ta thì lại có một số người chưa thấy, hoặc có thấy nhưng lại chủ quan. Việt Nam đã chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nền giáo dục của Việt Nam phải đào tạo cho được những con người xã hội chủ nghĩa thông minh, tài giỏi nhiều mặt, kiên định và sẵn sàng xả thân vì lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội như các thế hệ cha anh đã xả thân trước đây. Với âm mưu “Diễn biến hòa bình”, lợi dụng “ Tự do, dân chủ, dân quyền, dân tộc, tôn giáo…” để kích động gây rối trật tự, an ninh xã hội, lối kéo đặc biệt là giới trẻ trong nước, vì vậy, cần phải tích cực giáo dục cho giới trẻ sinh nhận thức được âm mưu thâm độc của kẻ thù, đồng thời nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng cho thế hệ trẻ, là vấn đề cấp thiết, đặc biệt chú trọng trong giai đoạn hiện nay.

Xuyên tạc lịch sử, gây hồ nghi cho lớp trẻ, lợi dụng nhiệt huyết yêu nước, kích động tư tưởng chống Trung Quốc, chống lại chính quyền, vi phạm pháp luật, … Với những thay đổi tinh vi cả về thủ đoạn và sách lược hòng nắm lấy lực lượng “chiến lược” này, bọn chống cộng ở hải ngoại và phản động trong nước đang nuôi giấc mộng “Chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không khói thuốc súng”, chúng đang tấn công mạnh mẽ trên các lĩnh vực tư tưởng-văn hoá, coi đây là mũi đột phá nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đánh vào giới trẻ là học sinh, sinh viên, chính là làm chuyển hoá tư tưởng dẫn tới quá trình “tự diễn biến”, “tẩy não đỏ thành xanh”.Thời gian qua, các thế lực phản động, thù địch tìm mọi cách thực hiện âm mưu này hòng “phá vỡ thế đồng nhất một khối của Đảng Cộng sản Việt Nam” và “làm cho phân tán chế độ cộng sản Việt Nam thành nhiều trào lưu đối kháng nhau” như tuyên bố đầy tham vọng và ảo tưởng của một số kẻ phản động là người Việt sống lưu vong.

Vấn đề giáo dục, định hướng cho giới trẻ Việt Nam chỉ có thể do chúng ta giải quyết bằng nỗ lực và trí tuệ của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam và sự quản lí của Nhà nước Việt Nam, chứ nhất quyết không thả nổi để bất cứ một thế lực nào hoặc một nước nào đó khuynh đảo, và quyết ngăn chặn mưu đồ lợi dụng thế hệ tiếp nối hòng làm biến dạng mục tiêu của lớp người kế tục, sự nghiệp cách mạng của cha ông, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cuộc đấu tranh với âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch là một cuộc chiến đấu gian khổ, sẽ rất quyết liệt, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, tin rằng chúng ta sẽ thắng như đã từng chiến thắng bọn đế quốc xâm lược, giữ được độc lập và thống nhất quốc gia, đưa nước ta ra khỏi cảnh đói nghèo và kém phát triển bằng chính trí tuệ, sức lực của mình, vững bước đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Theo: viethaingoai.net

Categories: Nhân dân Việt Nam | Nhãn: , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

“Chém gió, chụp mũ, kích động lật đổ” đặc sản của một ông nghị !

Ngày 12 tháng 3 vừa qua. Thứ trưởng bộ ngoại giao Việt Nam Nguyễn Thanh Sơn và đại sứ Việt Nam tại Canada có cuộc gặp gỡ riêng với Thượng Nghị sĩ Canada gốc Việt Ngô Thanh Hải. Sau đó, trong một cuộc trả lời phỏng vấn với đài Phố Bolsa TV…

Ngô Thanh Hải là một Thượng nghị sĩ thuộc đảng bảo thủ Canada đại diện cho tỉnh Ontario. Trước khi ông được bổ nhiệm vào Thượng viện Canada, ông ta là một thẩm phán quốc tịch tại thành phố Ottawa, Ontario, được bổ nhiệm vào thượng viện vào tháng 9 năm 2012.

Ngô Thanh Hải là Chủ Tịch Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương Liên Minh Dân Chủ Việt Nam, một đảng phái chống Việt Nam ở hải ngoại một cách cực đoan. Chúng ta thử tìm hiểu nhân vật gốc Việt này đang là một Thượng nghĩ sĩ của quốc hội Canada có “Tầm cỡ” như thế nào mà có những ngôn từ thuộc loại “Chém gió” có hạng trên các phương tiện truyền thông của các “Mõ làng” việt ngữ ở hải ngoại thuộc loại có số má. Xin thưa rằng:Chức vụ Thương Nghị Sĩ ở Canada khác xa và không như tại Hoa Kỳ, cái chức vụ nghe “Khủng” như vậy nhưng không phải từ cuộc đua tranh quyết liệt giữa các đảng phái trong mỗi kỳ tranh cử, nó không do dân bầu ra mà do Thủ Tướng Canada (Hiện tại là ông Harper, thuộc đảng BảoTthủ) chỉ định, như một món quà trên trời rớt xuống. Đương nhiên ông thủ tướng thuộc đảng phái nào thì quyền lựa chọn “Cánh hẩu” của đảng mình.Thượng Viện của quốc gia này không phải là một cơ quan quan trọng trong việc lập pháp và hành pháp, nghĩa là không có nhiều quyền “sanh sát” như các nghị sĩ Hoa Kỳ. Sự việc mới đây, sau nhiều vụ tai tiếng xẩy ra do một vài ông Thượng nghĩ sĩ vung vít sử dụng công quỹ một cách bừa bãi dư luận phẫn nộ vì đó là tiền thuế của người dân phải è cổ ra đóng, tức nước thì vỡ bờ người dân Canada đề nghị cải tổ như: đòi TNS phải do dân bầu hay giải tán Thượng Nghị Viện vì không cần thiết và tốn kém cho người dân Canada. Trong kỳ Đại Hội đảng Tự Do để sửa soạn kỳ bầu cử sắp tới, lãnh tụ đảng Tự Do là ông Justin Trudeau (con trai cựu Thủ Tướng Canada P.E. Trudeau) còn không mời các ông nghị TNS thuộc đảng Tự Do họp, vì một nguyên cớ đó là để tránh các tai tiếng vì những “vết chàm” gây bất lợi cho đảng này. Tiêu chuẩn để trở thành một nghị viên cũng không có gì là “Ghê gớm” như chúng ta tưởng, nghị viện gồm đủ mọi thành phần trong xã hộ, từ một ông huấn luyện viên khúc côn cầu đến một ông ca sĩ, kịch sĩ hay một cá nhân thuộc thổ dân Da Đỏ…v.v.

Ngày 12 tháng 3 vừa qua. Thứ trưởng bộ ngoại giao Việt Nam Nguyễn Thanh Sơn và đại sứ Việt Nam tại Canada có cuộc gặp gỡ riêng với Thượng Nghị sĩ Canada gốc Việt Ngô Thanh Hải. Sau đó, trong một cuộc trả lời phỏng vấn với đài Phố Bolsa TV, và theo sự suy diễn tăng thêm phần “Hoành tráng” các “mõ làng” tung tẩy cứ như là ông Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn phải “Cầu khẩn” để “Xin” được gặp ông Ngô Thanh Hải vậy. Và để tránh sự Ngờ vực “Đi đêm” với Cộng sản nên Ngô Thanh Hải phải vời “Mõ RFA” dàn dựng một “Điều trần” trước bàn dân thiên hạ về lòng “Thủy chung” trên con đường chống lại đất nước, dân tộc Việt Nam. Trong buổi “điều trần” lấy lòng các vị CCCĐ ở hải ngoại Ngô Thanh Hải đã có những phát biểu đi ngược lại lợi ích của chính phủ và nhân dân Canada, nó bôi nhọ tất cả những nỗ lực suốt 40 năm mà hai chính phủ, hai dân tộc đã nỗ lực không ngừng. Và một điều đặc biệt là chính phủ Canada đã  thiết lập quan hệ với chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khi đất nước Việt Nam còn bị chia cắt từ (21/8/1973). Không những thế Canada là thành viên của Ủy ban Giám sát Quốc tế trong gần 20 năm, bắt đầu từ năm 1954, sau khi chiến tranh giữa Việt Nam và Pháp kết thúc. khi chính phủ Canada có quan hệ “Mật thiết” với cái gọi như Ngô Thanh Hải nói “nhà cầm quyền cộng sản” thì sao ông ta không gào lên phản đối ?

Trong bản tuyên bố gồm 5 điểm chính của Ngô Thanh Hải tại Toronto ngày 24-8-2013 sặc mùi chống cộng, sặc mùi “Khủng bố” ông ta đòi lật đổ “Chế độ cộng sản” tại Việt Nam, ra những yêu sách như những kẻ “Tâm thần hoang tưởng”. Một điều rất lố bịch và ngây ngô trong vai trò một ông nghị: “CSVN đã chiếm trọn Việt Nam gần 40 năm qua, họ đã làm được những gì cho Việt Nam”?! Xin thưa: Chỉ riêng chính phủ Canada  đã làm những việc sau đây với nhà nước “Cộng sản” Việt Nam mà ông “không đội trời chung” như ông đã nói: Canada thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào năm 1973, mở Đại sứ quán tại Hà Nội vào năm 1994 và Tổng lãnh sự quán tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1997. Tại Việt Nam, Đại diện cho Canada là Đại sứ quán Canada tại Hà Nội. Canada cũng có cơ quan đại diện là Tổng lãnh sự quán Canada tại thành phố Hồ Chí Minh.Tại Canada, Đại diện cho Việt Nam là Đại sứ quán Việt Nam ở Ottawa. Việt Nam cũng sắp mở cơ quan Tổng lãnh sự tại Vancouver. Canada và Việt Nam đều là thành viên của các diễn đàn đa phương bao gồm ASEAN, trong đó Canada là Đối tác Đối thoại. Việt Nam là nước điều phối hoạt động của Canada trong giai đoạn 2006 – 2009. Canada và Việt Nam cũng là thành viên của Tổ chức hợp tác Kinh tế Châu Á–Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại thế giới(WTO), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Cộng đồng các nước nói tiếng Pháp và Liên Hiệp Quốc.

Năm 2013, Việt Nam và Canada đã kỷ niệm 40 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (21/8/1973-21/8/2013). Quan hệ hai nước gần đây có những bước phát triển mới với kim ngạch thương mại hai chiều năm 2012 đạt 1,6 tỷ USD, gấp 20 lần kể từ khi Hiệp định thương mại song phương được ký năm 1995. Đầu tư từ Canada vào Việt Nam đã vươn lên từ vị trị thứ 23 năm 2006 lên tốp 15 nước năm 2012. Cơ quan Hỗ trợ phát triển quốc tế Canada (CIDA) đã xác định Việt Nam là 1 trong số 20 quốc gia sẽ được Chính phủ Canada ưu tiên hỗ trợ, thông qua nguồn vốn ODA.Về giáo dục, số lượng học sinh Việt Nam du học tại Canada hiện đã tăng gấp 4 lần so với năm 2007. Ngày 14/08/2012, Bộ trưởng Thương mại Quốc tế Fast công bố báo cáo của Hội đồng cố vấn chiến lược giáo dục quốc tế Canada (IES). Báo cáo kiến nghị tập trung vào các thị trường đang tăng, trong đó có Việt Nam. Chính phủ Canada sẽ xem xét các kiến nghị của Hội đồng cố vấn trước khi có phản hồi chính thức và có kế hoạch triển khai chiến lược IES của Canada. Hiện có khoảng 250.000 Việt kiều đang sinh sống ổn định tại Canada.Chưa hết ông Ngô Thanh Hải còn xúc xiểm gây chia rẽ cộng đồng người Việt tại Canada bằng những lời lẽ như một kẻ cực đoan võ biền không xứng là một người làm chính khách:”Đối với Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại, một Cộng Đồng chống cộng, đảng CSVN vẫn âm mưu phân hóa và dùng quỷ kế: tiếp xúc với một thiểu số người thân cộng và du sinh không đại diện cho Cộng Đồng, rồi tuyên truyền khống chế được Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại. Hãy nhìn xem lá cờ đảng CSVN xuất hiện ở những nơi nào ngoài các khuôn viên cơ sở ngoại giao của họ? Nhu cầu của chúng ta ở hải ngoại là đoàn kết gây sức mạnh để thực hiện công tác yểm trợ quốc nội một cách hữu hiệu.”!? Nói về tình quê hương quê cha đất tổ thì khi nghe Ngô Thanh Hải nói thì đến ngay những kẻ thiểu năng trí tuệ cũng “Ngất ngây” cười :”Ông Nguyễn Thanh Sơn cũng ráng thuyết phục tôi về thăm Việt Nam. Tôi khẳng định từ chối. Tôi nói rằng như một người Canada gốc Việt, tôi không về thăm Việt Nam, tôi không về thăm một quốc gia Cộng sản. Tôi ra điều kiện với ông Nguyễn Thanh Sơn rằng nếu mà tôi về thì các ông phải thả những người tù nhân chính trị mà tôi đã đưa danh sách 10 người, đó là Cha Lý, như là Nguyễn văn Hải Điếu Cày, Võ Minh Trí tức là Việt Khang, rồi Lê Quốc Quân, Cù Huy Hà Vũ rồi (Đinh) Nguyên Kha đó…”!?

Từ trước đến nay nhiều người hay thắc mắc cụm từ “thế lực thù địch” chống phá Việt Nam, họ tưởng rằng chính phủ Việt Nam cứ “tưởng tượng” ra điều này thì nhân đây cũng chỉ ra một phần để mọi người “soi” cho rõ: Ngô Thanh Hải là Chủ Tịch Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương Liên Minh Dân Chủ Việt Nam, trong cương lĩnh của cái ủy ban này và phương hướng hoạt động của nó với tiêu chí hàng đầu là:”Giải thế chính phủ cộng sản Việt Nam” ông ta nói:”với tư cách là Thượng Nghị sĩ Canada tôi có bổn phận và trách nhiệm đòi hỏi Cộng sản Việt Nam phải thả tất cả những người đấu tranh trong nước vì Cộng sản Việt Nam đã vi phạm nhân quyền. Đồng bào hải ngoại là hậu phương của đồng bào quốc nội. Hậu phương ổn định thì tiền tuyến mới yên tâm chiến đấu. Nhiều tổ chức chánh trị ở hải ngoại đã hỗ trợ cho công cuộc tranh đấu ở quốc nội bằng những phương cách khác nhau. Tôi nghĩ các tổ chức chánh trị tiếp tục làm những gì những tổ chức nầy đang làm để nuôi dưỡng những phong trào dân chủ ở quê nhà” và “Trong vòng 4 năm qua tức là thời gian tôi được tín nhiệm vào vai trò lãnh đạo tức là Chủ Tịch Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương, chúng tôi đã củng cố và kiện toàn 3 mặt trận tranh đấu của chúng tôi. Thứ nhứt là kiện toàn tổ chức tại các cơ sở, đồng thời huấn luyện đoàn viên để tạo ra một sức mạnh tập thể. Cũng ở hải ngoại, chúng tôi đã phát triển Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ VN Tự Do, đặc biệt tại Hoa Kỳ. Tại quốc nội, chúng tôi đã củng cố lại Ủy Ban Quốc Nội để theo sát những biến chuyển bên nhà hầu có phản ứng chính xác và hữu hiệu. Quý báo chắc đã theo dõi sự lên tiếng và hỗ trợ của LMDCVN đối với những nhân vật bất đồng chánh kiến bên Việt Nam như LM Nguyễn Văn Lý, Việt Khang, Phương Uyên…Tôi quan niệm mặt trận chánh của chúng ta là ở quốc nội, hải ngoại dù muốn dù không vẫn là hậu phương yểm trợ mà thôi”. Vậy là bộ mặt Ngô Thanh Hải đã rõ, tất cả những kẻ quấy rối trong nước, những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam đang chịu án phạt đều do cái “Ủy ban LMDCVN” hậu thuẫn, Ngô Thanh Hải sẽ trả lời ra sao nếu chính phủ và nhân dân Việt Nam kiện chính phủ Canada đang chứa chấp một kẻ “Khủng bố” đòi lật đổ một thể chế nhà nước là thành viên của liên hợp quốc, là đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với nhiều nước trên thế giới và đang nâng tầm lên đối tác toàn diện với nước sở tại ?

Ấu trĩ về nhận thức xu thế thời đại, cực đoan về chính trị một người như Ngô Thanh Hải liệu có “ngây thơ” như vậy không ? Có thể ông ta chỉ muốn trục lợi cho đường hướng “Làm chính trị” với chức danh chủ tịch LMDCVN tại hải ngoại khi khoác trên mình bộ áo TNS ? Ở hải ngoại biết bao đảng phái, hội hè ra đời nổ vang trời khí thế “Ngùn ngụt” cờ xí bay loạn xạ về để “Giải phóng quê hương”! cuối cùng chỉ là đám hề lừa bịp bà con nhẹ dạ để móc hầu bao cho có vẻ ‘sạch”. Ngô Thanh Hải đừng có “Mộng mơ” như các vị mà chồng làm “chủ tịch” vợ làm “thủ quỹ” nhé.

Bạn đọc tham khảo 2 links dưới đây

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/interview-sen-n-t-hai-about-meet-w-n-t-son-ta-04062014073657.html
http://caotraonhanban.org/index.php?option=com_content&view=article&id=8098:li-phat-biu-ca-thng-ngh-s-ngo-thanh-hi&catid=23:thi-s&Itemid=26

Tác Giả: Amari TX

Theo: Việt hải ngoại Online

Categories: Nhân dân Việt Nam | Nhãn: , | 2 phản hồi